I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O TH HI YN
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI
THÔNG QUA CƠ CHế BồI THƯờNG NHà NƯớC
CHO NGƯờI Bị OAN TRONG HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
O TH HI YN
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI
THÔNG QUA CƠ CHế BồI THƯờNG NHà NƯớC
CHO NGƯờI Bị OAN TRONG HOạT ĐộNG Tố TụNG HìNH Sự
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS. NGC QUANG
H NI - 2016
1.1.1.
Khái niệm về quyền con người ........................................................... 8
1.1.2.
Khái niệm người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự ................... 9
1.1.3.
Khái niệm cơ chế bồi thường nhà nước cho người bị oan trong
hoạt động tố tụng hình sự .................................................................. 13
1.2.
Những thiệt hại của ngƣời bị oan trong hoạt động tố tụng
hình sự .............................................................................................. 17
1.2.1.
Quan điểm chung về thiệt hại của người bị oan trong hoạt động
tố tụng hình sự ................................................................................... 17
1.2.2.
Người bị oan bị thiệt hại về vật chất ................................................. 19
1.2.3.
2.1.1.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 ...................................... 33
2.1.2.
Quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ............. 34
2.2.
Thực tiễn thực thi pháp luật về cơ chế bồi thƣờng nhà nƣớc
cho ngƣời bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự từ năm
2011 đến 2015................................................................................... 53
2.2.1.
Thực trạng tình hình oan, sai làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong tố tụng hình sự ............................................... 53
2.2.2.
Thực tiễn việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan
trong tố tụng hình sự ở Việt Nam ..................................................... 63
2.2.3.
Những tồn tại, vướng mắc và những nguyên nhân gây nên
trong thực thi pháp luật bồi thường nhà nước cho người bị oan
trong hoạt động tố tụng hình sự ........................................................ 64
Hoàn thiện các quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự .................... 71
3.2.3.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ...... 73
3.3.
Các giải pháp khác .......................................................................... 80
3.3.1.
Nâng cao trình độ, năng lực trách nhiệm của những người tiến
hành tố tụng hình sự trong việc phòng ngừa người bị oan ............... 80
3.3.2.
Bảo đảm thực hiện tốt và nghiêm chỉnh nguyên tắc độc lập của
Tòa án và các cơ quan, người tiến hành tố tụng khác ....................... 80
3.3.3.
Đổi mới công tác kiểm sát của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự ..... 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 85
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNN:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam đã từng bước
tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966, có hiệu
lực từ ngày 23/3/1976 (Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập
ngày 24/9/1982). Công ước này đã tuyên bố: “Bất cứ người nào trở thành
nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu
cầu được bồi thường” (khoản 5 Điều 9) [47; tr. 29]. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều đã công nhận quyền được bồi thường thiệt hại do người có
thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (viết tắt là TTHS) gây
ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự, chính trị của con người. Theo
đó, rất nhiều quốc gia đã cụ thể hóa trong các đạo luật với việc thừa nhận
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những hậu quả do nhân viên
nhà nước gây ra trong quá trình thực thi công vụ nói chung và trong hoạt
động tố tụng hình sự nói riêng.
Nhằm tiến tới xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, cũng như thực hiện các cam kết quốc
tế mà Việt Nam đã gia nhập, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống pháp
luật, trong đó có pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với
các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ.
Hiến pháp năm 1992 là văn bản đầu tiên ghi nhận tương đối rõ quyền yêu cầu
bồi thường thiệt hại khi có hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức trong
quá trình thực thi công vụ. Cụ thể, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Người bị
bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường
thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 72); Hiến pháp năm 1992
quy định “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
1
chí xác định thiệt hại và mức bồi thường, kinh phí, cơ quan có trách nhiệm
bồi thường và đặc biệt là nguyên tắc và trình tự thủ tục bồi thường được quy
định cụ thể theo hướng bảo đảm quyền con người; tạo cơ chế thuận lợi giúp
cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường do hành vi gây
thiệt hại của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trong
hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thi hành Luật
TNBTCNN cho thấy, so với lĩnh vực quản lý hành chính, thi hành án dân sự,
số lượng vụ việc giải quyết bồi thường cho người bị oan trong hoạt động tố
tụng hình sự chiếm tỷ lệ lớn và hầu hết các vụ việc trong hoạt động tố tụng
hình sự thường là những vụ việc phức tạp, kéo dài, tạo ra sự quan tâm lớn
trong dư luận xã hội. Trong quá trình giải quyết bồi thường vẫn còn tình trạng
đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, làm cho vụ việc
chậm được thụ lý và việc giải quyết bị kéo dài vượt quá thời hạn theo quy
định của Luật TNBTCNN chưa bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của
người bị thiệt hại và gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách tổng thể, toàn diện cơ
sở xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự, từ đó, góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con
người trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam, tác giả lựa chọn nghiên
cứu đề tài “Bảo đảm quyền con người thông qua cơ chế bồi thường nhà
nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tìm hiểu, đã có các đề tài, luận văn, báo cáo, hội thảo về lĩnh
vực TNBTCNN, tiêu biểu có thể kể đến:
- Lê Mai Anh (2002), Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan
tiến hành tố tụng gây ra, Luận án Tiến sĩ Luật học – Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Hoàng Xuân Hoan (2013), Pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố
tụng hình sự.
- Đánh giá thực trạng pháp luật, trên cơ sở đó xác định phương hướng,
4
giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường nhà
nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về bồi thường
thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại cho
người bị oan nhìn từ góc độ bảo đảm quyền con người.
- Đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt
hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS gây ra.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người thông qua
cơ chế bồi thường nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình
sự; thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại (viết tắt là BTTH)
qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp giảm oan, sai và
nâng cao hiệu quả công tác bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt
động tố tụng hình sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các khái niệm, nội dung pháp luật về BTTH (về vật chất và
tinh thần) cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS
gây ra từ năm 2010 đến năm 2015 trong phạm cả nước.
Đề tài không bao gồm toàn bộ phạm vi bồi thường của Nhà nước nói
chung và các hoạt động tố tụng trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động,
hành chính và lĩnh vực thi hành án dân sự. Trong phạm vi luận văn, tác giả
pháp luật, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp,
xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Ngoài ra, luận văn còn dựa trên cơ sở lý
luận của khoa học luật hình sự, luật TTHS, luật dân sự, những lý luận có tính
phổ biến ở một số quốc gia về lĩnh vực này.
6
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, trực
tiếp sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử như phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ
thể, phương pháp phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu của các bộ môn khoa học khác như phương pháp
luận so sánh, phương pháp thống kê...
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết
thực trong việc hoàn thiện pháp luật về BTTH cho người bị oan trong hoạt
động TTHS, tạo điều kiện cho việc bảo đảm các quyền con người, quyền
công dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm của người thi hành công vụ trong
hoạt động TTHS, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng oan, sai và góp phần
hội nhập khu vực cũng như hội nhập quốc tế.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn bản pháp luật liên quan
đến bảo vệ quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước cho người bị oan trong hoạt động TTHS ở Việt Nam; đồng thời có
thể phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập pháp luật về lĩnh vực này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Lời cam đoan; Danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người thông qua
khoan dung nhân đạo xuất phát từ hàng nghìn năm lịch sử đất nước đoàn kết
chống thù trong giặc ngoài, hun đúc từ nhiều thế hệ tạo nên những giá trị văn
hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc. Đó là sự cần cù, kiên trì, nhân ái, vị tha,
tinh thần quật cường, đoàn kết của con người Việt Nam qua các thời kỳ phong
kiến, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến
8
ngày nay. Xuất phát từ bối cảnh lịch sử đó, ở nước ta, quyền con người được
hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người
được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế” [54, tr.42].
Như vậy, từ khái niệm mang cấp độ quốc tế đến khái niệm mang cấp
độ quốc gia, mà ở đây là nước Việt Nam, cho thấy dù nhìn quyền con người
ở góc độ nào và cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ; là những
giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi
giai đoạn lịch sử.
1.1.2. Khái niệm người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình đó bao gồm nhiều hoạt động của
cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; của
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của người
tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra trong việc điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không
để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật Tố tụng hình sự Việt
Nam đã thể hiện rõ tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế
người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Người bị tạm giam mà có quyết định của cơ quan có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự hủy bỏ quyết định tạm giam
vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
- Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù
có thời hạn, tù chung thân, đã bị kết án tử hình mà có bản án, quyết
định của Tòa án có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện
hành vi phạm tội;
10
- Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án ngoài các trường
hợp quy định trên đây mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền trong tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành
vi phạm tội (người bị khởi tố nhưng được tại ngoại) [60, tr. 54].
Một khái niệm cũng tương đối gần với khái niệm “oan” mà hay được
nhắc tới đó là khái niệm “sai”. Theo từ điển tiếng Việt thì “sai” được hiểu là
“không phù hợp với cái hoặc điều có thật, mà có khác đi”. Trong TTHS,
việc giải quyết vụ án sai là trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng (viết tắt
CQTHTT), người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách không khách
quan, trái với những quy định của pháp luật. Nói cách khác “sai” trong
TTHS được hiểu là tính chất của hoạt động hoặc chất lượng giải quyết vụ án
hình sự của CQTHTT, người tiến hành tố tụng không đúng với qui định của
pháp luật, không đáp ứng được yêu cầu khách quan trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự.
Hiện nay trong hệ thống pháp luật nước ta chưa có một văn bản nào xác
định các tiêu chí đánh giá oan, sai trong các giai đoạn TTHS. Theo giải thích
trên thì khái niệm “sai” có phạm vi rộng hơn so với khái niệm “oan”, việc làm
“oan” người vô tội luôn là hệ quả của “sai”. Không phải trường hợp hành vi
„sai‟ của CQTHTT đều dẫn đến việc làm “oan” người vô tội. Tuy nhiên, việc
oan là người đã có hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đủ yếu tố cấu
thành tội phạm.
- Thứ ba, người bị tạm giữ oan là người thực tế không thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật hình sự; còn các hành vi vi phạm khác như vi phạm pháp
luật dân sự, kinh tế… không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN.
Đối với người bị tạm giam, bị thi hành án oan là những người có hoặc không
có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, đã được các cơ quan THTT ra quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không phạm tội do không cấu thành
tội phạm hoặc được Tòa án tuyên bố không phạm tội.
12
Từ những nhận định trên, có thể hiểu: Oan trong TTHS là việc một
người trên thực tế không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không cấu
thành tội phạm nhưng đã bị các CQTHTT áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
1.1.3. Khái niệm cơ chế bồi thường nhà nước cho người bị oan trong
hoạt động tố tụng hình sự
Bồi thường nhà nước là khái niệm xuất hiện từ thời kỳ cận đại, sau khi
giai cấp tư sản làm cách mạng dành được chính quyền vào thế kỷ XVIII ở
phương Tây. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước với tính cách là một loại
hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những điều kiện và có cơ
sở pháp luật cụ thể. Nhà nước, với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật, có
những quyền và nghĩa vụ nhất định, đồng thời phải chịu những hậu quả pháp lý
phát sinh từ những quan hệ pháp luật đó. Nếu Nhà nước và các cán bộ, công
chức trong quá trình thực thi công vụ có hành vi vi phạm pháp luật, gây tổn hại
đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức thì Nhà nước phải chịu
trách nhiệm bồi thường. Theo đó, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được
phát sinh từ các hoạt động mang tính công quyền, do cơ quan nhà nước hoặc
của cá nhân, tổ chức, Nhà nước. Trong đó, người tiến hành tố tụng là người
đại diện quyền lực Nhà nước để giải quyết khách quan, đúng pháp luật những
vụ việc theo trình tự, thủ tục nhất định. Hoạt động của họ trong khuôn khổ
nhiệm vụ được giao chính là hoạt động công vụ nhân danh Nhà nước bảo vệ
quyền lợi của cá nhân, tổ chức trong xã hội. Bên cạnh những hoạt động tích
cực thì đôi lúc họ cũng gặp phải những sai lầm vì nguyên nhân này hay
nguyên nhân khác. Do vậy bản thân họ phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước,
trước nhân dân về những sai lầm đó. Nhưng nếu để các cá nhân người thi
hành công vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường trực tiếp cho những người bị
thiệt hại thì đôi khi sẽ ảnh hưởng đến tính tích cực và chủ động của nhân viên
Nhà nước khi thi hành công vụ, bởi đây thực chất là trách nhiệm của Nhà
14
nước. Do đó hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do oan theo nguyên tắc là sẽ có cơ quan đại diện
Nhà nước để giải quyết bồi thường phát sinh từ hoạt động tố tụng: đó có thể là
một cơ quan độc lập hoặc là chính CQTHTT đã gây ra oan cho người bị thiệt
hại, còn người tiến hành tố tụng đã gây oan có thể phải chịu trách nhiệm hoàn
trả cho Nhà nước một phần tiền bồi thường mà Nhà nước đã chi trả. Như vậy,
đặc điểm của cơ chế bồi thường nhà nước cho người oan trong hoạt động tố
tụng hình sự, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Trong mối quan hệ
bồi thường thiệt hại cho người bị oan thì Nhà nước chính là chủ thể chịu trách
nhiệm bồi thường do hành vi làm oan người vô tội của người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng gây ra, trong đó, Nhà nước có thể giao một cơ quan thay
mình đứng ra giải quyết bồi thường. Đó có thể là một cơ quan độc lập hay
chính là cơ quan tiến hành tố tụng đã ra thiệt hại, tuy nhiên, trách nhiệm bồi
thường vẫn thuộc trách nhiệm của Nhà nước.
mang ý nghĩa tinh thần của một sự bù đắp có tính vật chất, tài sản.
Qua những phân tích trên có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại
cho người bị oan trong hoạt động TTHS là một loại trách nhiệm nhà nước
trong đó Nhà nước phải bồi thường cho người thiệt hại và người tiến hành tố
tụng gây thiệt hại có thể phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho Nhà nước tùy
từng trường hợp. Bản chất của loại trách nhiệm này xuất phát từ tính chất của
hoạt động công vụ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hoạt động
nhân danh quyền lực Nhà nước bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội.
CQTHTT và người tiến hành tố tụng là những thiết chế đại diện cho quyền
lực nhà nước khi hoạt động tố tụng gây thiệt hại cho công dân thì Nhà nước
phải chịu trách nhiệm về hoạt động của các cơ quan đại diện cho mình tức là
phải có trách nhiệm khắc phục những tổn thất gây ra. Từ những phân tích trên
có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm
16
quyền tiến hành tố tụng gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
cho người bị oan, nhằm bù đắp, đền bù thiệt hại vật chất, tinh thần và khôi
phục danh dự, uy tín cho người đó.
Bồi thường nhà nước cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự
do người có thẩm quyền trong CQTHTT gây ra vừa mang tính đặc thù của bồi
thường dân sự là mang tính chất đền bù, vừa mang đặc thù của quyền tư pháp
là nhằm khẳng định sự nghiêm minh, tính công bằng, dân chủ của pháp luật.
Như vậy, Cơ chế bồi thường nhà nước cho người bị oan trong hoạt
động tố tụng hình sự bao gồm tổng thể các quy định của pháp luật và biện
pháp thi hành để thực hiện trách nhiệm của Nhà nước nhằm khắc phục những
hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần mà người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng đã gây ra do xâm phạm quyền tư pháp bằng cách bù đắp, đền bù những
thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín của người khác, thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,
cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị thiệt
hại. Trong lĩnh vực pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật
TNBTCNN (Điều 2) quy định đối tượng được bồi thường bao gồm “Cá nhân,
tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần...”.
Như vậy, theo quan điểm phổ biến hiện nay, dưới góc độ thuật ngữ
và dưới góc độ khoa học pháp lý thì “thiệt hại có thể hiểu là sự không
nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của sự vật sau khi chịu sự tác động bên
ngoài” [47, tr.31]. Cụ thể, thiệt hại bao gồm: thiệt hại về chật chất và thiệt
hại về tinh thần. Thiệt hại về tinh thần bao gồm: tổn thất về danh dự, uy tín,
nhân phẩm hoặc suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân và thiệt hại về vật
chất bao gồm: tài sản bị mất, hủy hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ra để
khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được
mà đáng ra thu được.
18