Tiểu luận
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Với trên 160 năm tồn tại và trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” (gọi tắt là Tuyên ngôn) do C.Mác và Ph.Ăng-ghen
khởi thảo vẫn luôn là cơ sở lý luận khoa học, ngọn cờ tư tưởng, ngôi sao dẫn
đường và kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, vẫn rực sáng với tư tưởng vĩ đại của nó - tư tưởng giải phóng các giai cấp và
tầng lớp cần lao, và nói rộng ra là giải phóng toàn bộ xã hội, giải phóng loài người
khỏi mọi sự áp bức, bất công. Tuyên ngôn, ngay từ lúc ra đời và kể từ đó trở đi,
luôn luôn là bản hiệu triệu hào hùng và ngọn cờ chiến đấu đầy khí phách cho tư
tưởng vĩ đại ấy. Tuyên ngôn đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi mà vẫn tồn tại, không
chỉ như một văn kiện có tính lịch sử mà còn là ngọn đuốc soi đường cho cả hiện
tại và tương lai.
Dù bất kể ai, bất cứ lúc nào, đứng về phía này hay phía khác, ủng hộ hay
phản đối Tuyên ngôn cũng đều phải thừa nhận một sự thật lịch sử không gì có thể
chối cãi được. Đó là Tuyên ngôn đã thức tỉnh, tập hợp giai cấp công nhân và
những người lao động làm thuê khác thành một lực lượng to lớn chống sự áp bức,
bóc lột, giành được những quyền lợi và quyền lực ngày càng quan trọng. Nếu như
giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa cộng sản còn là một “bóng ma” ám ảnh châu Âu, như
các thế lực của châu Âu cũ từng rêu rao, thì với sự ra đời của Tuyên ngôn, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng, cái “bóng ma” ấy đã thực sự trở thành một thế lực
cụ thể, và cái thế lực ấy cứ ngày một lớn dần lên, trở thành những phong trào cách
mạng hừng hực khí thế, những cuộc cách mạng bùng nổ dữ dội và cả những quyền
lực nhà nước được thiết lập trên hành tinh chúng ta. Từ đứa con đầu lòng là Công
xã Pa-ri năm 1871, đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất, là sự ra đời của Liên Xô
nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, rồi đến sau chiến tranh thế giới thứ hai (tức
khoảng 100 năm sau Tuyên ngôn), với thắng lợi của hàng loạt cuộc cách mạng
kiểu mới ở cả châu Âu, châu Á và Mỹ La tinh, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một
hệ thống thế giới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm mục tiêu làm rõ tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng Cộng sản
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, từ đó vận dụng sáng tạo những tư tưởng
đó vào công tác xây dựng Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Để dật được mục tiêu đó, tác giả xác định cần đạt thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Làm rõ hoàn cảnh ra đời, tác giả, tác phẩm
- Phân tích nội dung cơ bản của C.Mác và Ăngghen về Đảng cộng sản
- Rút ra ý nghĩa của vấn đề đối với thực tiễn xây dựng Đảng ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình làm tiểu luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, trong
đó chủ đạo là:
- Phương pháp luận: Dựa vào những nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nhận thức, phân tích, logic lịch sử,
nghiên cứu tư liệu, chọn lọc tổng hợp các tư liệu, hệ thống hóa các tri thức.
Page 2
Tiểu luận
4. Kết cấu nội dung
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3
chương và 7 tiết:
Chương 1: Khái quát chung về tác giả và tác phẩm
Chương 2: Tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng cộng sản trong tác phẩm
“ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”.
Chương 3: Ý nghĩa tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng cộng sản với việc
xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
NỘI DUNG
rời Pa-ri đến Brussel, ít lâu sau Ph. Ăng-ghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục
cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng năm 1848, ở Pháp nổ ra Chính phủ
Bỉ trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri, Tháng tư 1848, C. Mác cùng với Ph. ĂngPage 4
Tiểu luận
ghen đến Kioln, tại đây Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ
quan của phái dân chủ. Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C.
Mác. Ông lại đến Pa-ri, nhưng lần này ông chỉ lưu lại ba tháng. Tháng Tám 1849,
từ Pa-ri C. Mác đi Luân-đôn và sống đến cuối đời (1883). C. Mác qua đời ngày 14
Tháng Ba 1883 ở Luân-đôn.
1.1.2.Ph. Ăngghen ( Friedrich Engels, 1820 – 1895 )
Ph. Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 tại Barmen, tỉnh Ranh,
Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ Ph. Ăng- ghen đã bộc
lộ tính cách độc lập. Những lời dạy bảo nghiêm khắc của cha và những sự đe doạ
trừng phạt không thể làm cho ông đi đến chỗ phải phục tùng mù quáng. Cho đến
năm 14 tuổi, Ph. Ăng- ghen học ở trường tại thành phố Barmen. Ph. Ăng- ghen
sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười 1834, Ph. Ăng- ghen chuyển
sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ.
Năm 1837, theo yêu cầu của bố, Ph. Ăng- ghen buộc phải rời bỏ trường trung học
khi chưa tốt nghiệp để bắt đầu công việc buôn bán ở văn phòng của bố ông.
Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và
thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph. Ăng- ghen đến làm việc tại văn phòng thương mại
ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839 Ph. Ăng- ghen bắt tay vào nghiên cứu
các tác phẩm của Hê- ghen. Tháng 9- 1841, Ph. Ăng- ghen đến Berlin và gia nhập
binh đoàn pháo binh ở đây ông được huấn luyện quân sự mà trong những năm
sau, ông rất cần đến nó, nhưng ông vẫn lui tới trường Đại học tổng hợp Berlin
nghe các bài giảng triết học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo. Mùa xuân
Page 5
động của BCH Trung ương Liên đoàn những người cộng sản và trở thành Uỷ viên
của Ban lãnh đạo và là một trong những lãnh đạo Câu lạc bộ công nhân Đức
(Tháng3-1848) do BCH Trung ương LĐNNCS lập ra.
Tháng 3- 1848, cùng với C. Mác , Ph. Ăng-ghen thảo ra Những yêu
sách của Đảng cộng sản Đức được BCH Trung ương LĐNNCS thông qua như là
văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức. Tháng
4-1848 ông cùng với C. Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức. Ngày 20
tháng 5/1848 Ph. Ăng-ghen đến cùng với C. Mác chuẩn bị xuất bản tờ Neue
Page 6
Tiểu luận
Rheinische Zeitung. Ph. Ăng-ghen tham gia viết các bài xã luận, bài điểm tình
hình chính trị. Tháng 10/1848 ông đi Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền
Phổ nhưng ông không được phép cư trú chính trị. Ph. Ăng- ghen lại đến Paris sau
đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu
vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này.
Tháng giêng năm 1849 ông trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng.
Khi cuộc đấu tranh bùng nổ ở Tây và Nam nước Đức (tháng 5/1849) Ph. Ăngghen đã vạch ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng
tiến hành cuộc khởi nghĩa. Ngày 10/5/1849, Ph. Ăng- ghen đến Elberfeld và được
sung vào Ban quân sự. Ăng-ghen đưa ra một kế hoạch để triển khai cuộc đấu
tranh cách mạng dấy lên thành phong trào toàn nước Đức. Trong thời kỳ này, ông
tham gia trực tiếp bốn trận đánh lớn, trong đó có trận Rastatt. Sau này Ph. Ăngghen đã viết trước tác Luận văn quân sự nổi tiếng.
Tháng 11/1849, Ph. Ăng- ghen đến Luân đôn và được bổ sung vào
BCH Trung ương Liên đoàn Những người cộng sản mà C. Mác đã cải tổ sau khi
đến đây. Ph. Ăng-ghen sống ở Luân- đôn một năm, trong thời gian đó ông đã viết
các tác phẩm Cách mạng và phản cách mạng ở Đức, Cuộc chiến tranh nông dân ở
Đức. Tháng 11-1850, Ph. Ăng-ghen buộc phải chuyển dến Manchester vàn lại bắt
đầu làm việc ở Văn phòng thương mại. Điều này tạo điều kiện cho Ăng-ghen có
thể giúp đỡ về vật chất cho C. Mác hoạt động cách mạng. Ph. Ăng-ghen đặc biệt
cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyông (Pháp) năm 1837; cuộc nổi
dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức) năm 1844; phong trào hiến chương ở
Anh kéo dài 10 năm (1838 - 1848).
Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đòi hỏi một cách
bức thiết phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm
kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1847,
Đại hội lần thứ hai Liên đoàn những người cộng sản đã thảo luận và thông qua
những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản do Mác và Ăng ghen trình bày. Trên cơ
Page 8
Tiểu luận
sở sự nhất trí ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen được Đại hội ủy nhiệm thảo ra bản tuyên
ngôn chính thức.
Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ăngghen khẳng
định lại Tuyên ngôn là Cương lĩnh của Liên đoàn những người cộng sản. “Tại Đại
hội của Liên đoàn họp ở Luân Đôn tháng 11-1847, Mác và Ăngghen được giao
nhiệm vụ khởi thảo một cương lĩnh lý luận và thực tiễn của Đảng, có đầy đủ chi
tiết, để đưa ra công bố. Công việc đó đã được hoàn thành vào tháng giêng 1848;
bản thảo viết bằng tiếng Đức đã được gửi tới Luân Đôn để in, vài tuần trước khi
Cách mạng 24-2 nổ ra tại Pháp.” (3,551)
Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn
thảo vào cuối năm 1847 và được xuất bản vào ngày 21 tháng 2 năm 1848. Mục
đích của tác phẩm như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Hiện nay, đã đến lúc
những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan
điểm, mục đích, ý đồ của mình; và phải có một Tuyên ngôn của Đảng của mình để
đập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản.” (3, 539)
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm vừa mang tính lý luận khao học,
vừa là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của những người Cộng sản, của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Tác phẩm này ra đời đã đáp ứng được yêu cầu về
Chương IV. Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập:
Mác đã trình bày, làm rõ những tư tưởng cách mạng không ngừng; tinh thần cách
mạng triệt để, liên minh giai cấp, sự đoàn kết, đấu tranh của những người cộng sản
đối với các đảng phái dân chủ trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động
đương thời.
C.Mác và Ănghen đã trình bày rõ: “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày
nay, chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.” (3,551). Đến xã hội Tư bản hiện đại xã hội
cũng phân chia thành nhiều giai cấp trong đó có 2 giai cấp cơ bản đối kháng đó là
giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Nội dung cơ bản của lịch sử xã hội hiện đại là
cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc đấu tranh đó đưa tới
sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa Tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
Trong sự vận động của quy luật ấy C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh giá rất cao vai trò
của giai cấp tư sản khi nó còn giữ vị trí là giai cấp tiến bộ lật đổ chế độ phong kiến
đã lỗi thời : “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế
kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất
của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.”(3, 547).
Đồng thời Tuyên ngôn cũng chỉ rõ quy luật vận động tất yếu của xã hội loài
người là cái cách mạng, cái tiến bộ nhất định sẽ thay thế cái lạc hậu không ai có thể
cưỡng lại cũng như sự thắng lợi của chế độ Tư bản chủ nghĩa đối với chế độ phong
kiến đó là: “Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng
tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một
cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục”.
Page 10
Tiểu luận
Vốn có bản chất là giai cấp tư hữu và bóc lột nên vai trò cách mạng của giai
cấp tư sản bị hạn chế ngay từ đầu, giai cấp tư sản chỉ làm đơn giản hóa giai cấp và
đối kháng giai cấp mà thôi. “Những vũ khí mà giai cấp tư sản dùng để đánh đổ chế
Tiểu luận
sử toàn thế giới của giai cấp vô sản,vạch ra những tất yếu của cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản, vai trò Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản.
Tuyên ngôn còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác trong lĩnh vực xã hội, nhất là các
vấn đề giáo dục, gia đình, quan hệ giữa thành thị - nông thôn…
Tuyên ngôn ra đời đánh dấu sự thắng lợi của việc kết hợp chủ nghĩa xã hội
khoa học với phong trào công nhân và phong trào cách mạng của giai cấp vô sản.
Với vị trí quan trọng và nội dung phong phú như vậy, Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản có sức thuyết phục, cổ vũ hàng triệu, triệu người người bị áp bức, bóc lột
trên trái đất này đứng lên tự giải phóng; xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” đối
với giai cấp vô sản.
Từ khi Tuyên ngôn ra đời đến nay, đã 164 năm với nhiều biến cố trong lịch
sử song nó vẫn khẳng định được những giá trị bền vững của các nguyên lý đã được
nêu ra trong tác phẩm. Nó vẫn được các Đảng Cộng sản vận dụng sáng tạo trong
thực tiễn cách mạng.
Chương 2
Page 12
Tiểu luận
TƯ TƯỞNG CỦA MÁC – ĂNGGHEN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG TÁC
PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”
2.1. Khái niệm về Đảng Cộng sản
Tuyên ngôn trình bày mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và giai câp vô sản,
những người Cộng sản và giai cấp vô sản: “họ tuyệt nhiên không có một lợi ích
nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”(3,557)
Tiểu luận
Đảng Cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân. Đảng là người đại biểu
trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Đảng luôn công khai mục tiêu đấu tranh của mình là: lật đổ sự thống trị của giai
cấp tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. Vì vậy Đảng cộng sản
mang bản chất của giai cấp công nhân.
• Tuyên ngôn của Đảng cộng sản khẳng định sự thống nhất về mục
đích và lợi ích của Đảng cộng sản và giai cấp công nhân không có
nghĩa Đảng cộng sản và giai cấp công nhân là một.
Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân nhưng không có
nghĩa là Đảng phải là toàn bộ giai cấp công nhân. Đảng cộng sản là một bộ phận
của giai cấp công nhân.
Tính độc lập của Đảng là đặc trưng, dấu hiệu và là điều kiện cơ bản khẳng
định giai cấp công nhân là một lực lượng chính trị độc lập, tồn tại với tư cách một
giai cấp. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản không phải là một tổ chức biệt lập mà là bộ
phận tiên phong của giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với giai câp công nhân,
mang hệ tư tưởng của giai cấp vô sản. Đảng Cộng sản là tổ chức có mục đích,
nhiệm vụ rõ ràng. Mác và Ăngghen cho rằng việc tổ chức những người vô sản
thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và giành lấy chính quyền, đó
là mục đích trước mắt của những người Cộng sản và của tất cả các Đảng với nhau.
Mục đích cuối cùng của họ là xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà trong đó “sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
người”.
Đảng có cương lĩnh chính trị, có chiến lược, sách lược cách mạng. Tuyên
ngôn tuyên bố rằng đã đến lúc những người Cộng sản phải công khai trình bày
trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình và phải có một
Tuyên ngôn của Đảng của mình. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là cương lĩnh
chính trị của Đảng vô sản, trong đó trình bày quan điểm, mục đích, nhiệm vụ,
chiến lược, và sách lược của Đảng.
điều kiện và nhiệm vụ của từng thời kỳ hoạt động.
Lý luận về tính tiên phong của Đảng Cộng sản là cơ sở khoa học quan trọng
để những người Cộng sản vận dụng vào công tác xây dựng Đảng trên cả hai
phương diện: tiên phong về lý luận và tiên phong về thực tiễn. Về lý luận, Đảng và
các đảng viên của Đảng phải được trang bị lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học,
nắm vững thế giới quan duy vật biện chứng, nhận thức đúng vai trò và sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân. Về thực tiễn, Đảng phải biết vận dụng một cách
linh hoạt và sáng tạo lý luận khoa học để phân tích, đánh giá đúng tình hình, đề ra
chủ trương, biện pháp phù hợp, lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Đồng thời
Đảng phải là người tổ chức, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh của nhân dân,
sức mạnh của dân tộc và thời đại để thực hiện chủ trương đường lối của Đảng.
Là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản tập hợp trong
mình những phấn tử ưu tú nhất, cách mạng nhất trong giai cấp công nhân và các
tấng lớp nhân dân lao động. Tính tiên phong của Đảng thể hiện trên hai mặt: Tiên
phong về lý luận và tiên phong trong hoạt động thực tiễn.
Page 15
Tiểu luận
- Về mặt lý luận Đảng có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở
chỗ họ có nhận thức sáng suốt về điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong
trào vô sản.
- Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyết nhất, tiên phong nhất trong
phong trào công nhân. Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định trong
tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người
công sản là vộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước,
là bộ phận cổ vũ các bộ phận khác; về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai
cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của
phong trào vô sản” (3, 558)
tư sản, giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản: “Nhưng không giờ phút nào,
Đảng cộng sản lại quên gây cho công nhân một ý thức sáng suốt và rõ rệt về sự
đối kháng kịch liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, để khi có thời cơ thì có
bao nhiêu điều kiện chính trị và xã hội do chế độ tư sản tạo ra, công nhân Đức
biết đổi thành bấy nhiêu vũ khí chống lại giai cấp tư sản, để nguy sau khi diệt xong
những giai cấp phản động ở Đức, là có thể tiến hành đấu tranh chống lại chính
ngay giai cấp tư sản” (3,585)
Như vậy, thao C.Mác và Ăngghen trong cuộc đấu tranh của mình, để giành
được thắng lợi, giai cấp vô sản phải liên minh với các giai cấp khác và thậm chí có
thể phải hợp tác cả với những đảng khối lập vì những quyền lợi trước mắt của giai
cấp vô sản và giai cấp tư sản, giai cấp tư sản các nước đã liên kết lại với nhau để
chống lại giai cấp vô sản. Vì vậy giai cấp vô sản phải đoàn kết lại: “ Vô sản tất cả
các nước, đoàn kết lại !” (3, 586).
Page 17
Tiểu luận
Chương 3
Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA MÁC – ĂNGGHEN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Đảng cộng sản Việt Nam
(Đảng kỳ Đảng Cộng sản Việt Nam)
3.1.1. Khái quát sự ra đời
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện,
lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam),
giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy
ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng giải phóng dân tộc từng nước với
phong trào cách mạng vô sản thế giới. Từ đây Người dứt khoát đi theo con đường
cách mạng của Lênin. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu sáng
tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt
Nam.
Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách
mạng thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
Tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo
việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác-Lênin và những tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc
được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như "người đi đường
đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn". Nó lôi cuốn những người
yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân và nhiều tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi
phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được
tuyên bố thành lập: Ở Bắc Kỳ có Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929).Ở Nam
Kỳ có An Nam Cộng sản Đảng (7-1929). Ở Trung Kỳ có Đông Dương Cộng sản
Liên đoàn (9-1929). Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Song, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có
nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng
Page 19
Tiểu luận
thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chién sĩ cách mạng lỗi lạc của dân
tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng nhu cầu đó của
lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt
Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng
hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”(7, 14)
Page 20
Tiểu luận
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng
lợi rất vẻ vang , mở ra kỷ nguyên mới trong sự nghiệp phát triển của dân tộc ta: kỷ
nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.Thắng lợi của cách mạng Việt
Nam do nhiều nhân tố tạo nên, song nhân tố chủ yếu nhất là sự lãnh đạo của Đảng.
Ngay từ khi vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc- người sáng lập
Đảng ta - đã thấy phải có đảng cách mạng và đảng có vững thì cách mạng mới
thành công.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (nǎm 1930) ghi rõ: "Điều cốt yếu cho sự
thắng lợi của cách mạng là cần phải có một Đảng cộng sản có một đường lối
chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải
trong đấu tranh mà trưởng thành".
Trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc tính
đúng đắn của luận điểm nói trên. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội tổng kết quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng, đã nêu
lên một bài học cơ bản: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo
đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Nghiên cứu kinh nghiệm về sự lãnh đạo và xây dựng đảng của Đảng ta là việc
làm thiết thực, trọng yếu, bảo đảm cho cách mạng phát triển vững chắc, nhằm thực
hiện mục tiêu: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam - người duy nhất giữ vai trò lãnh đạo cách
mạng từ nǎm 1930
Khi Đảng ta ra đời, dân tộc ta vẫn đứng trước một nhiệm vụ lịch sử to lớn:
tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập của đất nước.
Cách mạng tháng Tám nǎm 1945 là thành quả đầu tiên của cuộc đấu tranh
đó, đã lật đổ ách thống trị đế quốc, phátxít cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến,
thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ. Tiếp đó là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Bắc sau đó giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập dân tộc và dân chủ. Công
cuộc giải phóng dân tộc được hoàn thành triệt để từ sau thắng lợi mùa Xuân nǎm
1975 được bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta.
Trước thực tế lịch sử hiển nhiên đó, mà vẫn có người cố tình phủ nhận
hoặc hạ thấp ý nghĩa, vai trò của Đảng đối với những thắng lợi của dân tộc Việt
Nam thì là điều phi lý. Và thực tế lịch sử đó cũng đã bác bỏ sự xuyên tạc của các
thế lực thù địch.
- Cách mạng Tháng Tám thắng lợi do có những điều kiện khách quan thuận
lợi, song nếu thiếu những điều kiện chủ quan, nhất là thiếu sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng, thì cách mạng không thể thành công. Đảng đã lãnh đạo việc chuẩn bị
khởi nghĩa một cách chu đáo, đồng thời nắm vững thời cơ lịch sử để phát động
Page 22
Tiểu luận
Tổng khởi nghĩa trong những ngày tháng tám. Đó là nhân tố chủ yếu quyết định
thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945.
- Kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, trước hết do Đảng đề ra và
nắm vững đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài. Đảng lại giải quyết
đúng hàng loạt vấn đề trọng yếu: xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện
từng bước vấn đề ruộng đất cho nông dân, chǎm lo phát triển sản xuất trong kháng
chiến, xây dựng hậu phương, phục vụ kháng chiến, công tác vùng địch tạm chiếm,
v.v..
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đụng đầu lịch sử, một thử
chức, phối hợp sự hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, đoàn thể và tổ chức xã
hội.
Trước đây, ở miền Bắc đã từng có những lực lượng thù địch và đối lập đòi
Đảng chia quyền lãnh đạo. Ngày nay, lại có một số người chịu ảnh hưởng của
thuyết đa nguyên chính trị, đòi lập chế độ đa đảng, đòi xét lại vai trò lãnh đạo của
Đảng, đòi Đảng trả lại quyền cho "nhân dân"... thực chất là tìm cách thủ tiêu, hoặc
hạ thấp vai trò của Đảng. Song sự thật lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng đã chứng
tỏ rằng:
- Đảng ta nắm vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng là một tất yếu lịch sử.
- Có sự lãnh đạo của Đảng ta mới có những thắng lợi của cách mạng Việt
Nam.
- Tình trạng có nhiều lực lượng đối lập trong xã hội không phải là biểu hiện
của dân chủ chân chính; ngược lại, làm trở ngại, khó khǎn cho sự ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội.
Để tiếp tục thực hiện tốt vai trò là một Đảng cầm quyền, Đảng cần phải:
• Thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo,
đồng thời phát huy mạnh mẽ, vai trò, tính chủ đạo, sáng tạo và trách
nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
• Gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát
của nhân dân, hoạt động trong khuô khổ Hiến pháp và pháp luật.
• Vững mạnh về chính trị , tư tưởng và tổ chức thường xuyên tự đổi
mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo.
• Giữ vững truyền thống đoàn kết trong Đảng, tăng cường dân chủ và
kỷ luật trong hoạt động của Đảng.
• Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi
hành động chia rẽ bè phái.
Page 24
công nhân , giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo ngày càng
được tăng cường và củng cố. Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân với
lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng ngày càng lớn mạnh. Quan hệ đối ngoại
được mở rộng. Vì thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên rất nhiều. Chính trị - xã hội ổn định, chủ
quyền an ninh, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững. Nhân dân tin tưởng ở đường lối
đổi mới của Đảng. Đảng và Nhà nước ta ngày càng tích lũy thêm được nhiều kinh
nghiệm lãnh đạo và quản lý.
Page 25