TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU: KINH NGHIỆM CỦA
CÁC NƢỚC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Kim Hƣơng Trang
Sinh viên thực hiện : Ngô Minh Phƣơng
Lớp : Anh 4
Khóa : K45
hoạt động tín dụng xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng phát triển thì bảo
hiểm tín dụng xuất khẩu sẽ trở thành một yêu cầu và đòi hỏi tất yếu của các tổ
chức tín dụng, ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nhận thức
đƣợc tầm quan trọng của vấn đề này, em đã quyết định nghiên cứu đề tài: Bảo
2
hiểm tín dụng xuất khẩu: kinh nghiệm của các nƣớc và ý nghĩa thực tiễn với
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Một là, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
và vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.
Hai là, nghiên cứu tình hình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của
một số nƣớc trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động này
cho Việt Nam.
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn của bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, đƣa ra những
giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tƣợng nghiên cứu
Lý luận về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Kinh nghiệm của một số nƣớc áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thực trạng và tầm quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, giải pháp cho việc phát triển bảo
hiểm tín dụng tại Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Chọn 3 tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nổi tiếng trên thế giới
nhằm rút ra kinh nghiệm thực tế cho Việt Nam
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong thực tế, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể, thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu
theo các nghĩa khác nhau.
- Xét trên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dƣ tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, tín dụng đƣợc coi là phƣơng pháp dịch chuyển quỹ
từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay.
- Xét trên góc độ hoạt động ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản
(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính) và
bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp…), trong đó bên cho vay chuyển giao tài
sản cho bên đi vay sử dụng, trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán.
- Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Ví dụ nhƣ hình thức bán hàng trả
chậm, bên bán chuyển giao hàng hoá cho bên mua và sau một thời gian nhất
định theo thoả thuận, bên mua phải trả tiền cho bên bán.
1
PGS.TS. Lª V¨n TÒ (chñ biªn), 2007, NghiÖp vô Ng©n hµng th-¬ng m¹i, NXB Thèng Kª
5
Dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhƣng nhìn chung, tín dụng thể hiện
các nội dung cơ bản sau: Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một
lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn
nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng, và khi đến hạn người sử dụng
phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoản lợi
tức dôi ra này gọi là lợi tức tín dụng.
* Tín dụng xuất khẩu:
Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa, thƣơng mại thế giới không
ngừng đƣợc mở rộng thì nhu cầu về thị trƣờng tiêu thụ ngày càng trở nên cấp
bách hơn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do khả năng về tài chính
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu cũng nhƣ điều khoản thanh toán.
Nhƣ vậy, TDXK có thể coi là sự cam kết hỗ trợ về mặt tài chính để các
nhà xuất khẩu đẩy mạnh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu. TDXK không
những có tác dụng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong nƣớc mà còn là biện
pháp hữu hiệu khuyến khích nhà nhập khẩu mua hàng. Vòng quay vốn và khả
năng tiêu thụ hàng hoá tăng lên khiến hoạt động thƣơng mại quốc tế ngày
càng phát triển.
1.2 Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu (Export Credit Insurance)
1.2.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB): “Bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu (BHTDXK) là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất
khẩu trong các hợp đồng xuất khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín
dụng mở khi họ phải đối mặt với rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của
nhà nhập khẩu do mất khả năng thanh toán, phá sản.”
Thực chất, BHTDXK là việc nhà xuất khẩu đóng tiền phí bảo hiểm cho
công ty hay tổ chức bảo hiểm theo thoả thuận với một hay nhiều loại rủi ro
nhất định. Sau đó, nhà xuất khẩu sử dụng bảo hiểm này làm chứng từ thế chấp
khi vay vốn tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Bản chất của việc này là
7
nhà xuất khẩu mua bảo hiểm chuyển giao cho ngân hàng hay tổ chức tín dụng
quyền đòi tiền nhà nhập khẩu trong trƣờng hợp nhà nhập khẩu không thể
thanh toán tiền hàng.
Trên thực tế, BHTDXK không chỉ áp dụng cho hoạt động xuất khẩu
hàng hoá thông thường mà còn bảo hiểm cho các nhà đầu tư trong nước khi
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hoặc bảo hiểm cho các nhà đầu tư nước ngoài
nhằm thu hút vốn đầu tư vào trong nước.
Nhƣ vậy, mục tiêu của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là:
Bảo vệ nhà xuất khẩu trƣớc những rủi ro ngƣời mua nƣớc ngoài
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng vì các lý do
2
Rủi ro thương mại: là những rủi ro liên quan đến ngƣời nhập khẩu hoặc
Ngân hàng thanh toán, bao gồm:
Không có khả năng trả nợ do bị phá sản, thua lỗ kéo dài, tịch
biên tài sản…
Ngƣời nhập khẩu mất khả năng thanh toán vào cuối thời hạn tín
dụng hoặc sau một thời hạn xác định khi thời hạn tín dụng đã
thoả thuận chấm dứt
Ngƣời nhập khẩu từ chối nhận hàng mặc dù hàng hoá đƣợc giao
hoàn toàn phù hợp với các điều khoản của hợp đồng
Ngƣời nhập khẩu từ chối thanh toán các điều khoản có liên quan
đến hàng xuất khẩu nhƣ chi phí gom hàng, chi phí gia công…
Rủi ro chính trị: là những rủi ro do sự mất ổn định về kinh tế, chính trị,
xã hội của nƣớc ngƣời mua ảnh hƣởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, nhƣ:
Huỷ hay không cấp mới giấy phép xuất khẩu
2
Paul Delbridge FIA and Bryan Joseph FIA, 1992, “Export and Trade Credit Insurance”,
The Staple Inn Actuarial Society,
10
Chiến tranh, nổi loạn, đình công, đảo chính hoặc các biến động
khác ở nƣớc ngƣời nhập khẩu ảnh hƣởng đến việc thực hiện hợp
đồng
Rủi ro trong việc chuyển tiền từ nƣớc ngƣời nhập khẩu khi
Chính phủ nƣớc nhập khẩu đƣa ra các biện pháp nhằm trì hoãn
việc thanh toán nợ nƣớc ngoài do việc thanh toán sẽ làm tăng
những thiệt hại cho Chính phủ nƣớc này.
Ngƣời xuất khẩu bị cấm vận trong thanh toán, tức là tài khoản
trợ cho các công ty bảo hiểm khi phải bồi hoàn cho những khiếu nại nợ lớn,
Chính phủ còn thực hiện tái bảo hiểm đối với hoạt động BHTDXK của Công
ty bảo hiểm. Do thực hiện nhiệm vụ mà Chính phủ giao nên các Công ty bảo
hiểm đƣợc trả phí hoạt động, thƣờng bằng 15% tổng số phí tái bảo hiểm của
Công ty bảo hiểm đó.
Trong loại hình BHTDXK, tỷ lệ rủi ro đƣợc bảo hiểm cao, thƣờng từ
90% đến 95% trị giá hợp đồng xuất khẩu (đƣợc tổ chức cung cấp bảo hiểm
chấp nhận). Doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ phải chịu một phần rủi ro đối
với doanh thu của mình. Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm đối với các rủi ro chính trị
thƣờng cao hơn đối với các rủi ro thƣơng mại nhằm tạo sự an tâm cho các nhà
xuất khẩu, đặc biệt khi xuất khẩu sang các thị trƣờng có bất ổn về chính trị.
Nhƣ vậy, với sự tài trợ của Chính phủ, BHTDXK đã giải quyết phần lớn
rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu và góp phần thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu của quốc gia.
2.2 Đƣợc cung cấp bởi các tổ chức tín dụng xuất khẩu
Tổ chức tín dụng xuất khẩu (Export Credit Agencie-ECA) là tổ chức
hoạt động nhằm hỗ trợ, khuyến khích hoạt động xuất khẩu và đầu tƣ nƣớc
ngoài của các doanh nghiệp trong nƣớc thông qua việc cung cấp các dịch vụ
cho vay, bảo lãnh và bảo hiểm.
3
http://www.webbaohiem.net/kinh-doanh/3081-bao-hiem-tin-dung-xuat-khau-kinh-
nghiem-cho-viet-nam.html
12
Về cơ bản, chức năng của các tổ chức tín dụng xuất khẩu là bảo đảm về
mặt tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu, ngân hàng và các nhà đầu tƣ
trƣớc các rủi ro thƣơng mại và rủi ro chính trị. Hầu hết các hỗ trợ về TDXK
đƣợc thực hiện thông qua 2 hình thức là bảo lãnh và bảo hiểm. Hiện nay, các
nƣớc phát triển và hầu hết các nƣớc đang phát triển đều có tổ chức tín dụng
Mô hình 2: Tổ chức tín dụng xuất khẩu là tổ chức thuộc sở hữu Nhà nước
Đây là mô hình phổ biến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều dạng
khác nhau và cũng có nhiều dòng sản phẩm khác nhau. Một số tổ chức chỉ
cung cấp bảo hiểm nhƣ SACE của Italia, NEXI của Nhật Bản; một số khác
chỉ cho vay nhƣ JBIC của Nhật Bản. Trong khi đó, tại Mỹ và Đức, bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm đầu tƣ thậm chí còn đƣợc cung cấp bởi hai tổ
chức khác nhau (US Eximbank và OPIC; Hermes và PWC).
Mô hình 3: Công ty tư nhân hoạt động nhân danh Chính phủ
Đây là mô hình đƣợc áp dụng tại các nƣớc nhƣ Pháp, Đức, Hà Lan và
gần đây là Nam Phi. Với mục đích hỗ trợ xuất khẩu quốc gia, các công ty hoạt
động độc lập so với bộ máy Nhà nƣớc nhƣng những vấn đề quan trọng sẽ
đƣợc quyết định bởi Chính phủ. Khi hoạt động nhân danh Chính phủ, các rủi
ro sẽ do Chính phủ tái bảo hiểm.
Mô hình 4: Tổ chức tín dụng xuất khẩu phi chính thức
4
http://www.globalclearinghouse.org/wefbrazil/Docs/ADB%20Concept%20Paper.pdf
14
Đây là mô hình mới, phát triển tại New Zealand sau khi có sự tƣ nhân
hoá các tổ chức tín dụng xuất khẩu quốc gia vào những năm 1980. Chính phủ
nhận thấy rằng không có bất cứ một ràng buộc nào về vấn đề này và đã
chuyển giao nhiệm vụ này cho một tổ chức. Danish ECA của New Zealand,
nhận vốn từ Chính phủ đảm trách việc phân tích rủi ro và báo cáo lại cho
Chính phủ.
2.2.3 Vai trò chủ yếu của các tổ chức tín dụng xuất khẩu
Tổ chức tín dụng xuất khẩu chủ yếu cung cấp các sản phẩm BHTDXK.
Bên cạnh đó các tổ chức tín dụng xuất khẩu cũng là nguồn cung cấp thông tin
thị trƣờng, năng lực và tình trạng tài chính của ngƣời mua giúp các nhà xuất
khẩu thực hiện các giao dịch kinh doanh an toàn và hiệu quả. Các quốc gia
đãi của một nƣớc nhƣ trong việc áp dụng Quy tắc đối xử tối huệ quốc MFN,
chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ, hạn ngạch thuế quan…
(2) Quy tắc xuất xứ ưu đãi: đƣợc sử dụng để quyết định hàng hoá nào
có thể nhập vào một nƣớc dƣới sự đối xử ƣu đãi. Quy tắc này xác định liệu
hàng hoá có thích hợp với sự đối xử đặc biệt giữa hai hay nhiều nƣớc hay
không, nhƣ Hệ thống ƣu đãi phổ cập (GSP), các khu vực thƣơng mại tự do,
các hiệp định song phƣơng và khu vực. Theo các hiệp định này, các hàng hoá
nhất định sẽ đƣợc hƣởng chế độ miễn hoặc giảm thuế khi đƣợc nhập vào nƣớc
cho hƣởng ƣu đãi nếu chứng minh đƣợc nguồn gốc xuất xứ từ nƣớc đƣợc
hƣởng ƣu đãi.
Mục đích chính của Quy tắc xuất xứ (Rules of Origin) là đảm bảo
những lợi ích của chế độ ƣu đãi thuế quan theo Hệ thống ƣu đãi phổ cập
(GPS) chỉ đƣợc dành cho những sản phẩm mà thực sự có thu hoạch, sản xuất,
gia công hoặc chế biến ở những nƣớc xuất khẩu đƣợc hƣởng ƣu đãi. Tuy
nhiên, vai trò của QTXX không giới hạn trong các ƣu đãi thuế quan. Trên
thực tế, khái niệm xuất xứ hàng hoá là một công cụ chủ yếu của các chính
sách thƣơng mại khác, từ việc đàm phán khu vực mậu dịch tự do hay hình
16
thành một khối kinh tế khu vực đến việc áp dụng thuế chống phá giá hoặc cấp
giấy phép nhập khẩu.
17
* Tiêu chuẩn xác định xuất xứ
Sản phẩm xuất khẩu từ một nƣớc đƣợc hƣởng ƣu đãi có thể đƣợc chia
thành hai nhóm:
Nhóm 1: Những sản phẩm đƣợc thu hoạch, sản xuất hoàn toàn trong
nƣớc xuất khẩu. Những sản phẩm này đƣợc gọi là sản phẩm “xuất xứ toàn
bộ’, có xuất xứ GSP bởi vì hoàn toàn không sử dụng các bộ phận hay nguyên
liệu nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ.
2.3.2 Tầm quan trọng của Quy tắc xuất xứ
QTXX đƣợc các tổ chức tín dụng xuất khẩu và công ty bảo hiểm sử
dụng để xác định tỷ lệ phần trăm tối đa cho trị giá nguyên liệu, thành phần
nhập khẩu của hàng hoá (hay tỷ lệ phần trăm tối thiểu cho trị giá nguyên liệu,
thành phần nội địa của hàng hoá). Và các tổ chức bảo hiểm tín dụng xuất
khẩu sẽ căn cứ vào đó để quyết định việc cung cấp việc cung cấp dịch vụ của
mình. Vì vậy, nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá đem xuất khẩu là một yếu tố
quyết định với ngƣời xuất khẩu khi muốn tham gia BHTDXK. Các doanh
nghiệp xuất khẩu phải chấp nhận quy định về QTXX mà các tổ chức bảo
hiểm tự định.
Quy tắc xuất xứ là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định số thuế
phải nộp cũng nhƣ quyết định liệu có rào cản thƣơng mại nào với hàng hoá
đem xuất khẩu hay không. Nó là cơ sở để các doanh nghiệp tính toán các chi
phí phải bỏ ra và cân nhắc sự cần thiết của việc sử dụng BHTDXK. Nếu thực
sự cần thiết, doanh nghiệp xuất khẩu phải tìm hiểu về các nguyên tắc của
QTXX mà tổ chức bảo hiểm sử dụng vì nó thƣờng là điều kiện tiên quyết để
đƣợc bảo hiểm. Nếu sản phẩm xuất khẩu là sản phẩm xuất xứ toàn bộ thì tỷ lệ
phần trăm rủi ro đƣợc bảo hiểm cũng sẽ tăng lên.
QTXX đóng vai trò quan trọng đối với nhu cầu tài chính của doanh
nghiệp xuất khẩu. Nó khuyến khích các doanh nghiệp nhà nƣớc đa dạng hoá
19
loại hình kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hoá để có thể sử dụng một cách tối
đa nguyên liệu và thành phần trong nƣớc.
Khi sử dụng các sản phẩm BHTDXK của tổ chức nƣớc ngoài, doanh
nghiệp xuất khẩu phải tính toán rất cụ thể chi phí phải bỏ ra và lợi ích đạt
đƣợc. Chính vì vậy, việc tìm hiểu QTXX đƣợc áp dụng nhƣ thế nào ở các
quốc gia khác nhau sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
3. Các lĩnh vực kinh doanh chính của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
5
này đƣợc phép có sự hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ (đƣợc các tổ chức tín
dụng thuộc Nhà nƣớc trợ cấp và bảo lãnh kinh doanh) do trị giá bảo hiểm lớn
và mức độ rủi ro cao.
Bảo hiểm đầu tư (Investment Insurance): Nhƣ đã nói ở trên, BHTDXK
không chỉ bảo hiểm cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông thƣờng mà còn
bảo hiểm các rủi ro cho các nhà đầu tƣ khi đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài. Tổ
chức bảo hiểm Multilateral Investment Guarantee Agency (MIGA) đã phối
hợp với World Bank cung cấp loại bảo hiểm này. MIGA bắt đầu đi vào hoạt
động tháng 4 năm 1988 với các thành viên của cả các nƣớc phát triển và đang
phát triển. Mục tiêu cơ bản của tổ chức là khuyến khích hoạt động đầu tƣ
nƣớc ngoài bằng cách cung cấp bảo hiểm rủi ro chính trị (PRI) cho các nhà
đầu tƣ và các dịch vụ nhằm cải thiện khả năng thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
II. VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
1. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu
1.1. Bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu trƣớc các rủi ro về tài chính
Phần lớn các rủi ro nhà nhập khẩu không thanh toán tiền hàng (bao
gồm cả rủi ro thƣơng mại và chính trị) đến từ hoạt động tín dụng xuất khẩu.
Những rủi ro đó ảnh hƣởng lớn đến doanh thu và hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp xuất khẩu. Vì thế, khi quyết định cấp TDXK cho khách hàng,
các doanh nghiệp xuất khẩu phải cân nhắc một cách rất kỹ lƣỡng.
Nhƣng chúng ta cũng thấy rằng cấp tín dụng cho khách hàng đƣợc coi
là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh, thể hiện sự tôn trọng, tin tƣởng và
ý định hợp tác lâu dài. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng cạnh
tranh khốc liệt nhƣ hiện nay, cấp tín dụng cho khách hàng là một nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu. Bằng cách sử
dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, các nhà xuất khẩu có thể bảo đảm tài
chính cho chính mình trƣớc những rủi ro mà họ có thể gặp phải. Điều này sẽ
21
tạo tâm lý an tâm hơn cho nhà xuất khẩu trong việc sẵn sàng cấp tín dụng cho
Doanh nghiệp xuất khẩu còn đƣợc các tổ chức tín dụng xuất khẩu và
công ty bảo hiểm hỗ trợ về thông tin liên quan đến đối tác nhập khẩu và nƣớc
nhập khẩu.
2. Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu về cơ bản đem lại lợi ích cho các doanh
nghiệp xuất khẩu. Song bên cạnh đó, nó cũng có vai trò không nhỏ đối với
các doanh nghiệp nhập khẩu.
Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu còn hạn chế về vốn hay gặp khó khăn
trong quay vòng vốn cho nên họ thích sử dụng tín dụng hơn trong thanh toán
hàng nhập khẩu. Khi các doanh nghiệp xuất khẩu sẵn sàng cho thanh toán trả
chậm, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ diễn ra một
cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Mặt khác, các doanh nghiệp có nhu cầu
về tín dụng xuất khẩu sẽ có thêm nhiều sự lựa chọn trong vấn đề tìm đối tác
cho mình.
23
CHƢƠNG II: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ
NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG LĨNH VỰC
BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
I. KHÁI QUÁT THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM TÍN DỤNG
XUẤT KHẨU THẾ GIỚI
1. Thị trƣờng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu châu Âu
Châu Âu là khu vực có sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động
BHTDXK, chiếm 80% thị phần doanh thu phí BHTDXK toàn thế giới.
Hoạt động BHTDXK Châu Âu phát triển ở một số quốc gia nhƣ Pháp,
Đức, Hà Lan, Anh, Tây Ban nha. Đến nay, thị trƣờng thuộc sự kiểm soát của
3 tổ chức tín dụng xuất khẩu chủ chốt là Coface (Pháp), Atradius (Hà Lan) và
Euler & Hermes (Đức).
Tại Châu Âu, Uỷ ban Châu Âu EC có vai trò điều phối hoạt động của
các tổ chức tín dụng của các nƣớc thành viên. Việc xây dựng một thị trƣờng
2004 trong đó có sự đóng góp chủ yếu của thị trƣờng BHTDXK Châu Âu. Sự
phát triển của hoạt động TDXK thế giới đã mang đến một thị trƣờng bảo hiểm
tín dụng toàn cầu vô cùng sôi động, nổi bật hơn cả là các nƣớc Trung và Tây
Âu nhƣ Ba Lan, Cộng hoà Séc…
Nhiều nhà bảo hiểm tín dụng đƣa ra các chính sách hƣớng vào các
doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) vì các doanh nghiệp này còn gặp nhiều khó
khăn trong vấn đề quản trị rủi ro tín dụng. Khu vực SMEs là một thị trƣờng
hứa hẹn cho các nhà bảo hiểm tín dụng Châu Âu. Ƣớc tính rằng, các tổ chức
bảo hiểm mới chỉ thâm nhập 20% vào thị trƣờng tiềm năng này. Tính đến
2005, chỉ có khoảng 2% các doanh nghiệp nhỏ (doanh thu dƣới 10 triệu EUR)
7
Swiss Re, “Credit Insurance and surety: solidifying commitments”, Sigma No 6/2006.