Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu kinh nghiệm của các nước và ý nghĩa thực tiễn với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu việt nam - Pdf 38

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU: KINH NGHIỆM CỦA
CÁC NƢỚC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn

: ThS. Kim Hƣơng Trang

Sinh viên thực hiện

: Ngô Minh Phƣơng

Lớp

: Anh 4

Khóa

: K45

Hà Nội - 05/2010




1


hiểm tín dụng xuất khẩu: kinh nghiệm của các nƣớc và ý nghĩa thực tiễn với
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.

2.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Một là, tìm hiểu những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

và vai trò của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.
Hai là, nghiên cứu tình hình hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của
một số nƣớc trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về hoạt động này
cho Việt Nam.
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu ý nghĩa thực tiễn của bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, đƣa ra những
giải pháp phát triển bảo hiểm tín dụng xuất khẩu tại Việt Nam.

3.

ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tƣợng nghiên cứu
Lý luận về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
Kinh nghiệm của một số nƣớc áp dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thực trạng và tầm quan trọng của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với

3


CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM
TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU

I.

1.

Khái niệm

1.1 Tín dụng xuất khẩu
Để hiểu rõ khái niệm về tín dụng xuất khẩu, trƣớc tiên cần làm rõ khái
niệm chung nhất về tín dụng.
* Khái niệm tín dụng:1
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ Latin là credo (tin tƣởng, tín nhiệm).
Trong thực tế, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể, thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu
theo các nghĩa khác nhau.
- Xét trên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dƣ tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm, tín dụng đƣợc coi là phƣơng pháp dịch chuyển quỹ
từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay.
- Xét trên góc độ hoạt động ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản
(tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính) và
bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp…), trong đó bên cho vay chuyển giao tài
sản cho bên đi vay sử dụng, trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên
đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán.
- Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản



Tín dụng cấp trước khi gửi hàng hoặc hoàn thành dự án: Đây là hình

thức cấp tín dụng trung hạn hoặc ngắn hạn (từ khi ký hợp đồng đến khi giao
hàng), thƣờng do doanh nghiệp nhập khẩu cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Mục đích của TDXK trƣớc khi giao hàng là nhằm cung ứng vốn để doanh
nghiệp xuất khẩu mua nguyên vật liệu, chế biến, vận chuyển hàng hoá, bảo
hiểm, thuế…; đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp xuất
khẩu.
Ngoài ra, Ngân hàng cũng có thể cấp tín dụng ứng trƣớc cho doanh
nghiệp xuất khẩu khi thanh toán bằng phƣơng thức nhờ thu kèm chứng từ

5


hoặc tín dụng chứng từ. Các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác rất cẩn thận
khi xem xét hạn mức cho vay vì nhà xuất khẩu bao giờ cũng muốn tối đa hoá
giá trị tín dụng trong khi đó hoạt động xuất khẩu có rất nhiều rủi ro ảnh hƣởng
đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.


Tín dụng cấp sau khi giao hàng hoặc hoàn thành dự án: Đây là hình

thức cấp tín dụng trung và dài hạn, do Ngân hàng và các tổ chức tín dụng cấp
cho doanh nghiệp xuất khẩu. Ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trên
cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá nhƣ hối phiếu và bộ chứng từ hàng hoá.
Việc ngân hàng và các tổ chức tín dụng có chiết khấu mua chứng từ thanh
toán hay không phụ thuộc vào tính chất của bộ chứng từ, độ tín nhiệm của
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu cũng nhƣ điều khoản thanh toán.


Bảo vệ nhà xuất khẩu trƣớc những rủi ro ngƣời mua nƣớc ngoài
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng vì các lý do
thƣơng mại, chính trị…



Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ bằng những điều
khoản mang tính cạnh tranh



Hỗ trợ quá trình thâm nhập vào thị trƣờng khu vực nƣớc ngoài
của các nhà xuất khẩu và đầu tƣ trong nƣớc



Giúp các nhà xuất khẩu, các tổ chức tín dụng tài trợ cho xuất
khẩu có khả năng linh hoạt hơn về tài chính trong việc xử lý các
khoản nợ từ nƣớc ngoài.



Khuyến khích hoạt động đầu tƣ trực tiếp ra nƣớc ngoài và thu
hút vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc.

Cũng giống nhƣ các loại hình bảo hiểm khác, BHTDXK tuân thủ theo
nguyên tắc “chỉ bảo hiểm cho một rủi ro mà không bảo đảm cho một sự chắc
chắn”. Tức là ngƣời xuất khẩu sẽ chỉ đƣợc bồi thƣờng theo hợp đồng bảo
hiểm tín dụng xuất khẩu khi ngƣời nhập khẩu bị phá sản, không trả nợ đƣợc

Ngƣời nhập khẩu mất khả năng thanh toán vào cuối thời hạn tín
dụng hoặc sau một thời hạn xác định khi thời hạn tín dụng đã
thoả thuận chấm dứt



Ngƣời nhập khẩu từ chối nhận hàng mặc dù hàng hoá đƣợc giao
hoàn toàn phù hợp với các điều khoản của hợp đồng



Ngƣời nhập khẩu từ chối thanh toán các điều khoản có liên quan
đến hàng xuất khẩu nhƣ chi phí gom hàng, chi phí gia công…



Rủi ro chính trị: là những rủi ro do sự mất ổn định về kinh tế, chính trị,

xã hội của nƣớc ngƣời mua ảnh hƣởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, nhƣ:


Huỷ hay không cấp mới giấy phép xuất khẩu

2

Paul Delbridge FIA and Bryan Joseph FIA, 1992, “Export and Trade Credit Insurance”,
The Staple Inn Actuarial Society,

9



Ngoài ra, cũng cần kể đến các loại rủi ro khác nhƣ: rủi ro tài chính, rủi
ro sản xuất và vận tải, rủi ro tỷ giá.
2.

Đặc điểm của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

2.1 Hình thức tài trợ thƣơng mại quốc tế trực tiếp
BHTDXK không những đƣợc biết đến nhƣ một loại hình bảo hiểm phi
nhân thọ mà còn đƣợc xem là một công cụ của Nhà nƣớc nhằm khuyến khích
và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của quốc gia.
Nếu rủi ro xảy ra với doanh nghiệp xuất khẩu trong quá trình đi vay hay
bán chịu, các cơ quan bảo hiểm sẽ đền bù theo mức phí bảo hiểm mà doanh
nghiệp đã mua. BHTDXK sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để tiếp
cận với các nguồn vốn tín dụng, phát triển nhiều mặt hàng mới, thị trƣờng
mới, yên tâm khi thâm nhập vào các thị trƣờng nhiều rủi ro. Ban đầu, các tổ
chức bảo hiểm này đều do Nhà nƣớc bỏ vốn thành lập và hỗ trợ theo cơ chế

10


bù lỗ hoà vốn dài hạn. Tuy nhiên, trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế, hoạt động bảo hiểm phải đảm bảo “không mang tính ƣu
đãi/hỗ trợ phát triển”, phù hợp với nguyên tắc của WTO. Từ đó, mô hình
BHTDXK đã từng bƣớc có sự tham gia của khu vực tƣ nhân.3
Để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia BHTDXK, Chính phủ các
nƣớc hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho các doanh nghiệp. Mặt khác, để hỗ
trợ cho các công ty bảo hiểm khi phải bồi hoàn cho những khiếu nại nợ lớn,
Chính phủ còn thực hiện tái bảo hiểm đối với hoạt động BHTDXK của Công
ty bảo hiểm. Do thực hiện nhiệm vụ mà Chính phủ giao nên các Công ty bảo

2.2.1 Lịch sử phát triển của các tổ chức tín dụng xuất khẩu
Tổ chức tín dụng xuất khẩu đầu tiên, Export Credit Guarantee
Department (ECGD) ra đời tại Anh vào năm 1919. Cho đến những năm 1970,
hầu hết các thành viên của OECD thành lập tổ chức tín dụng xuất khẩu và tiếp
sau đó, các nƣớc đang phát triển cũng thành lập tổ chức tín dụng xuất khẩu
nhƣ một công cụ quan trọng thúc đẩy xuất khẩu.
Hình 2: Thời gian ra đời tổ chức tín dụng xuất khẩu tại các nƣớc
trên thế giới

12


(Nguồn: Concept Paper on The Creation of The Regional Export Credit and Finance
Scheme, 2004)

Năm 1934, các nhà bảo hiểm tín dụng xuất khẩu thuộc sở hữu Nhà
nƣớc và tƣ nhân thành lập Hiệp hội Bern có 75 thành viên và là tổ chức bảo
hiểm tín dụng xuất khẩu và đầu tƣ hàng đầu thế giới.
2.2.2 Các mô hình tổ chức tín dụng xuất khẩu trên thế giới4
Trên thế giới hiện nay, có 4 mô hình tổ chức tín dụng xuất khẩu.
Mô hình 1: Tổ chức tín dụng xuất khẩu là một Uỷ ban của Chính phủ
Mô hình này đƣợc áp dụng tại Anh và Thụy Điển. Tại Anh, tổ chức tín
dụng đƣợc biết đến là Export Credit Guarantee Department-ECGD. Đây là
một Uỷ ban độc lập hoạt động dựa trên vốn ngân sách do bộ trƣởng Bộ Công
thƣơng phê duyệt. Tại Thụy Điển, Export Risk Guarantees là một bộ phận của
Phòng Hợp tác Kinh tế.
Mô hình 2: Tổ chức tín dụng xuất khẩu là tổ chức thuộc sở hữu Nhà nước
Đây là mô hình phổ biến nhất trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều dạng
khác nhau và cũng có nhiều dòng sản phẩm khác nhau. Một số tổ chức chỉ
cung cấp bảo hiểm nhƣ SACE của Italia, NEXI của Nhật Bản; một số khác

nƣớc phát triển đều thành lập các tổ chức tín dụng xuất khẩu để tăng cƣờng
năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu.
Các tổ chức tín dụng xuất khẩu có mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các
công ty bảo hiểm thƣơng mại, công ty tái bảo hiểm, các tổ chức tín dụng xuất
khẩu chính thức khác thông qua việc trao đổi cơ sở dữ liệu từ Hiệp hội Bern,
trao đổi công nghệ, đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm trong những dự án cụ
thể; cung ứng dịch vụ bổ sung, không cạnh tranh; chuyển giao rủi ro với các
công ty tái bảo hiểm qua việc nâng cao năng lực, cân đối cơ cấu rủi ro.
Tóm lại, các tổ chức tín dụng xuất khẩu là các tổ chức chuyên cung cấp
BHTDXK. Với nguồn vốn và sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ, tổ chức tín dụng
xuất khẩu đã làm giảm bớt rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu và góp phần
thúc đẩy xuất khẩu của các nƣớc phát triển.
2.3 Quy tắc xuất xứ là một trong các yếu tố quyết định trong bảo hiểm
tín dụng xuất khẩu

14


Bên cạnh các yếu tố rủi ro, quy tắc xuất xứ cũng là một yếu tố quyết
định trong BHTDXK. Trƣớc hết, chúng ta cần tìm hiểu một số nét cơ bản về
quy tắc xuất xứ.
2.3.1 Một số nét cơ bản về quy tắc xuất xứ (Rules of Origin)
Theo Tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, quy tắc xuất xứ (QTXX)
đƣợc chia thành hai loại:
(1) Quy tắc xuất xứ không ưu đãi: đƣợc sử dụng để phân biệt sản phẩm
nƣớc ngoài với sản phẩm trong nƣớc khi một quốc gia không muốn có sự đối
xử giống nhau giữa hàng trong nƣớc và hàng nhập khẩu. Theo Hiệp định của
WTO ký tại Marrakech năm 1994, quy tắc xuất xứ có thể hiểu là tất cả những
QTXX đƣợc áp dụng trong chính sách thƣơng mại không mang tính chất ƣu
đãi của một nƣớc nhƣ trong việc áp dụng Quy tắc đối xử tối huệ quốc MFN,

Nhóm 1: Những sản phẩm đƣợc thu hoạch, sản xuất hoàn toàn trong
nƣớc xuất khẩu. Những sản phẩm này đƣợc gọi là sản phẩm “xuất xứ toàn
bộ’, có xuất xứ GSP bởi vì hoàn toàn không sử dụng các bộ phận hay nguyên
liệu nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ.
Nhóm 2: Những sản phẩm đƣợc làm từ nguyên liệu, bộ phận hoặc phụ
tùng nhập khẩu, có nghĩa là những sản phẩm này đƣợc sản xuất toàn bộ hoặc
một phần từ nguyên liệu, phụ tùng nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ. Những
sản phẩm này đƣợc gọi là sản phẩm “có thành phần nhập khẩu”, có xuất xứ
tại nƣớc ƣu đãi khi chúng đƣợc “gia công hoặc chế biến đầy đủ” tại nƣớc xuất
khẩu đƣợc hƣởng ƣu đãi.
Với một sản phẩm xuất xứ toàn bộ, việc xác định xuất xứ không phải là
vấn đề khó khăn. Nhƣng nếu sản phẩm có thành phần nhập khẩu từ các nƣớc
khác nhau thì việc xác định nguồn gốc xuất xứ trở nên phức tạp hơn. Đối với
các sản phẩm này, để xác định đƣợc nguồn gốc xuất xứ, các nƣớc có thể áp
dụng các tiêu chuẩn nhƣ sau:
Thứ nhất là tiêu chuẩn gia công hay còn gọi là quy tắc thay đổi hạng
mục thuế quan (Change in Tariff Classification Rule). Theo tiêu chuẩn này,
nguyên liệu, bộ phận hay thành phần nhập khẩu đƣợc coi là đã gia công, chế
biến đầy đủ khi thành phẩm đƣợc xếp vào hạng mục HS với 4 số khác hạng
mục của tất cả các nguyên liệu, bộ phận và thành phần nhập đã sử dụng. Các
nƣớc cho hƣởng ƣu đãi đã đƣa ra một danh mục các hoạt động gia công hoặc
chế biến phải thực hiện đối với nguyên liệu không có xuất xứ để sản phẩm
đƣợc coi là có xuất xứ. Tiêu chuẩn này đƣợc áp dụng bởi Cộng đồng Châu
Âu, Nhật, Nauy, Thụy Sỹ.

17


Thứ hai là tiêu chuẩn tỷ lệ phần trăm (Percentage Test). Tiêu chuẩn
này đƣợc áp dụng tại Australia, Canada, New Zealand, Mỹ, Cộng hoà Séc,

loại hình kinh tế và thúc đẩy công nghiệp hoá để có thể sử dụng một cách tối
đa nguyên liệu và thành phần trong nƣớc.
Khi sử dụng các sản phẩm BHTDXK của tổ chức nƣớc ngoài, doanh
nghiệp xuất khẩu phải tính toán rất cụ thể chi phí phải bỏ ra và lợi ích đạt
đƣợc. Chính vì vậy, việc tìm hiểu QTXX đƣợc áp dụng nhƣ thế nào ở các
quốc gia khác nhau sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
3. Các lĩnh vực kinh doanh chính của bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 5
Trong Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu có 3 lĩnh vực kinh doanh chính là:


Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ngắn hạn (Short-term Export Credit

Insurance): Theo quy định của WTO hay OECD, các sản phẩm bảo hiểm tín
dụng xuất khẩu ngắn hạn về cơ bản là sản phẩm bảo hiểm thƣơng mại. Đây
là sản phẩm bảo hiểm xuất khẩu truyền thống, dành cho những khoản tín
dụng có thời hạn (credit period) không vƣợt quá 180 ngày. Trên thế giới,
90% giao dịch thƣơng mại quốc tế đƣợc thực hiện bằng tiền mặt hoặc các
loại tín dụng ngắn hạn. Loại bảo hiểm này thƣờng bảo hiểm cho toàn bộ
doanh thu của doanh nghiệp. Trƣớc khi gửi hàng hoặc sau khi xuất hàng,
ngƣời xuất khẩu có thể đƣợc bảo hiểm đối với những rủi ro chính trị và
thƣơng mại. Tỷ lệ bảo hiểm thƣờng lên tới 90-95% trị giá hợp đồng (không
bao gồm thuế giá trị gia tăng).


Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trung và dài hạn (Medium-long term

Export Credit Insurance): Bảo hiểm cho những khoản tín dụng có thời hạn
trên 12 tháng (trung hạn từ 1 đến 5 năm, dài hạn trên 5 năm)6; áp dụng cho
các mặt hàng xuất khẩu nhƣ máy móc, thiết bị, các công trình, dự án và các
hình thức xuất khẩu với lƣợng vốn lớn. Tỷ lệ đƣợc bảo hiểm thƣờng là 85%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status