HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HUÊ
ỨNG DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG SÀNG LỌC
NGUỒN VẬT LIỆU LÚA ĐỘT BIẾN MANG ĐA GEN
KHÁNG BỆNH BẠC LÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HUÊ
ỨNG DỤNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG SÀNG LỌC
NGUỒN VẬT LIỆU LÚA ĐỘT BIẾN MANG ĐA GEN
KHÁNG BỆNH BẠC LÁ
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Mã số
: 60.42.02.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Võ Thị Minh Tuyển
Page i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ về nhiều
mặt của các cấp lãnh đạo, các tập thể và cá nhân.
Trước hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới
TS. Võ Thị Minh Tuyển, PGS.TS. Nguyễn Thi Phương Thảo những người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này.
Luận văn được thực hiện tại Bộ môn Đột biến và Ưu thế lai, Viện Di
truyền Nông nghiệp. Tại đây, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo và
các cán bộ trong Bộ môn, Viện Di truyền trong suốt quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới khoa Công nghệ Sinh học, Ban Đào tạo sau Đại
học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về kiến
thức và chuyên môn trong suốt hai năm học tập và làm luận văn.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, người
thân và toàn thể bạn bè đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được sự góp ý chân thành.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Huê
Tóm tắt
viii
Abstract
ix
Phần 1 Mở đầu
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3
Phạm vi nghiên cứu
3
Di truyền phân tử và hệ gen liên quan đến chọn giống đột biến.
5
2.2
Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa bằng phương pháp đột biến thực
nghiệm trên thế giới.
2.3
7
Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa bằng phương pháp đột biến thực
nghiệm ở Việt Nam.
10
2.4
Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa kháng bệnh bạc lá
12
2.4.1
Nghiên cứu chọn tạo giống lúa kháng bệnh bạc lá trên thế giới
13
2.5.4
Những ứng dụng của chỉ thị phân tử
25
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
28
3.1
Địa điểm nghiên cứu
28
3.2
Thới gian nghiên cứu
28
3.3
Phương pháp nghiên cứu phòng thí nghiệm
30
3.4.2
Phương pháp đánh giá ngoài đồng ruộng
32
3.4.3
Phương pháp lây nhiễm nhân tạo
35
3.5
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
36
Phần 4 Kết quả và thảo luận
37
4.1
Kết quả
5.1
Kết luận
58
5.2
Kiến nghị
58
Tài liệu tham khảo
59
Phụ lục
64
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
DANH MỤC VIẾT TẮT
ADN
:
Amplified Fragment Length Polymorphism - Đa hình chiều dài các
đoạn được nhân bản chọn lọc
DSBs
Double strand breaks - Phá vỡ sợi đôi
HR
Homologous recombination - Tái tổ hợp tương đồng
NHEJ
Nonhomologous end-joining- Kết thúc không tương đồng
EMS
ethyl methane sulphonate
TILLING
Targeting Induced Limited Lesions IN Genomes
BĐKH
Biến đổi khí hậu
ĐBSCL
Random Amplification of Polymorphic DNA - Đa hình ADN được
nhân bản ngẫu nhiên
RFLP
:
Restriction Fragment Length Polymorphism – Đa hình chiều dài
mảnh phân cắt giới hạn
STS
:
Sequence Tagged Site – Xác định vị trí trình tự đã được đánh dấu
ĐBSH
Đồng bằng sông hồng
Đ/C
Đối chứng
NSLT
Năng suất lý thuyết
NSTT
32
Bảng 4.1
Kết quả khảo sát các cặp mồi SSR với các dòng lúa đột biến
37
Bảng 4.2
Các chỉ tiêu về allele, chỉ số đa dạng PIC của các locus SSR đa hình
nhận biết trên 41 dòng lúa
39
Bảng 4.3
Một số đặc tính nông sinh học chính của các dòng lúa đột biến
41
Bảng 4.4
Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết của các
dòng lúa đột biến
45
Bảng 4.5
Bảng 4.10
Kết quả phân tích gen kháng các dòng lúa đột biến
54
Bảng 4.11
Đánh gia lây nhiễm nhân tạo các dòng lúa đột biến triển vọng
55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1
Hệ thống chọn giống đột biến phân tử thực vật
Hình 4.1
Ảnh điện di sản phẩm PCR của các dòng lúa nghiên cứu với các chỉ
7
thị SSR RM21, RM224, RM276 và RM3395 trên gel agarose 2,5%
Những năm gần đây, các nhà chọn giống đã sử dụng chỉ thị phân tử trong chọn
giống cây trồng rất có hiệu quả, đặc biệt trong sàng lọc và phát hiện các tính
trạng khó định lượng, ngay từ giai đoạn sớm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi
đã ứng dụng kỹ thuật chiếu xạ tia gamma và chỉ thị phân tử để cải tạo dòng lúa
thuần kháng bệnh bạc lá BT62.1. Đây là dòng lúa mang gen kháng bệnh bạc lá (
Xa7, Xa21), chất lượng gạo ngon, ngắn ngày, dễ canh tác nhưng có năng suất
thấp, cần được cải tạo. Hạt khô của dòng lúa BT62.1 đã được chiếu xạ bằng tia
gamma, ở liều lượng 300 Gy, nguồn Co60, tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt.
Các thế hệ M1 đến M5 được đánh giá và chọn lọc trên ruộng thí nghiệm của bộ
môn Đột biến & Ưu thế lai, viện Di truyền Nông nghiệp. Thế hệ M1 được thu
hỗn để trồng ở vụ tiếp theo. Thế hệ M2-M4, các đột biến được thu cá thể và trồng
đánh giá theo dòng. Thế hệ M5, các dòng đột biến được đánh giá bằng chỉ thị
phân tử để sàng lọc các dòng lúa đột biến mang gen kháng bệnh bạc lá và lây
nhiễm bệnh nhân tạo với vi khuẩn gây bệnh bạc lá. Kết quả đánh giá sự sai khác
di truyền của 40 dòng lúa đột biến kháng bệnh bạc lá ở thế hệ M5 cho thấy giữa
các dòng đột biến có sự sai khác di truyền và có sự khác biệt với dòng gốc ban
đầu BT62.1. Qua đánh giá một số đặc điểm nông, sinh học chính, đề tài đã chọn
lọc được 8 dòng lúa đột biến triển vọng ở thế hệ M5 ngắn ngày, chất lượng và
khả năng kháng bệnh bạc lá tương đương giống ban đầu nhưng năng suất đã
được cải thiện hơn. Trong đó, 2 dòng M24 và M33 cho năng suất cao nhất (trên 7
tấn/ha). Các dòng lúa đột biến triển vọng này sẽ được tiếp tục đánh giá ở các thế
hệ tiếp theo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
ABSTRACT
Mutation technique is very effective for improving main agronomic
Lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính đảm bảo an
ninh lương thực, ổn định xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới và được trồng tập
trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Ở nước ta, lúa gạo
không chỉ là nguồn lương thực tiêu dùng trong nước mà còn là mặt hàng xuất
khẩu quan trọng. Sản lượng lúa gạo toàn cầu năm 2013 đạt 496,3 triệu tấn, tăng
1% so với năm 2012. Trong đó, sản lượng lúa tại châu Á ước tính đạt 450,6 triệu
tấn, tăng khoảng 1,1% so với năm 2012 (FAO, 2013).
Ngày nay, dân số ngày càng tăng nhanh đang gây áp lực lớn đến nền nông
nghiệp toàn cầu và đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
(Bùi Thị Kim Vi và cs., 2011). Diện tích đất nông nghiệp đặc biệt là đất canh tác
lúa giảm nhanh do sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, bên cạnh quá
trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng. Một vấn đề đáng quan
tâm là ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập
mặn... làm sản lượng lúa bị sụt giảm đáng kể. Bệnh bạc lá gây ra bởi
Xanthomonas oryzae pv. oryzae (Xoo) là một trong những bệnh nghiêm trọng
nhất ở lúa, gây thiệt hại đến năng suất của nhiều giống lúa trên khắp thế giới
(Leung và cs., 2004). Đặc biệt là ở các nước Châu Á, bệnh bạc lá ở lúa là bệnh
rất phổ biến, nó có thể gây thiệt hại tới trên 50% năng suất lúa (Adhikari và cs.,
1994). Việc giảm năng suất lúa như vậy cần được hạn chế tới mức thấp nhất để
đáp ứng nhu cầu về lúa gạo của thế giới (Latif và cs., 2011). Việc chọn tạo các
giống lúa có phổ kháng rộng là rất cần thiết để cải thiện tính kháng bệnh bạc lá ở
lúa. Các gen kháng có thể đặc hiệu đối với các tác nhân gây bệnh. Các gen kháng
bệnh ban đầu được đưa vào nền di truyền duy nhất mà có thể tạo ra tính kháng
bền vì nhiều gen kháng được tích hợp vào các kiểu gen đơn (Koide và cs., 2010).
Gần đây, kỹ thuật MAS (Marker-assisted selection) đã được ứng dụng thành
công và được triển khai rộng rãi trong chương trình chọn giống. Mới đây, các
nhà chọn tạo giống đã sử dụng MAS để chọn lọc các tính trạng kiểm soát bởi
nhiều locus (QTLs), chẳng hạn như các tính trạng chống chịu bệnh và các tính
trạng phi sinh học (chịu hạn, chịu mặn,…). MAS là kỹ thuật sử dụng các chỉ thị
(marker) liên kết với các tính trạng đặc hiệu để chọn lọc các cá thể mang các tính
Xuất phát từ những lý do nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài“Ứng dụng chỉ thị phân tử trong sàng lọc nguồn vật liệu lúa đột biến mang
đa gen kháng bệnh bạc lá "
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá và chọn lọc được tập đoàn vật liệu các dòng lúa đột biến mang
gen kháng bệnh bạc lá để sử dụng làm vật liệu khởi đầu phục vụ cho nghiên cứu
và chọn tạo giống lúa năng suất, chất lượng và kháng được bệnh bạc lá.
Chọn lọc được dòng lúa độtbiến triển vọng có tiềm năng năng suất và
kháng bệnh bạc lá
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu
- Đánh giá đa dạng di truyền các dòng lúa đột biến sử dụng làm vật liệu
trong nghiên cứu
- Sàng lọc các dòng lúa đột biến mang gen kháng bệnh bạc lá bằng các chỉ
thị phân tử và bằng phương pháp lây nhiễm nhân tạo.
- Đánh giá các đặc tính nông sinh học của các dòng lúa trong thí nghiệm
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.4.1. Những đóng góp mới của luận văn
- Đề tài đã góp phần xây dựng quy trình công nghệ xử lý đột biến kết hợp
chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống lúa đột biến
- Chọn tạo được 2 dòng lúa đột biến triển vọng kháng bệnh bạc lá M24 và
M33 phục vụ sản xuất và 40 dòng vật liệu mang 1-2 gen kháng bệnh làm vật liệu
cho nghiên cứu chọn tạo giống lúa mới.
triển này đã biến chọn giống đột biến thực vật thành một mô hình mới- Chọn
giống đột biến phân tử thực vật.
2.1.2. Di truyền học và các tính năng của chọn giống đột biến cổ điển
Trong thuật ngữ chọn giống đột biến, thế hệ các alen đột biến mới có
tính năng cốt lõi và độc đáo nhất. Di truyền học đằng sau chọn giống đột biến
bao gồm sự khác biệt về mức độ nhạy cảm của các kiểu gen khác nhau và mô
thực vật để gây đột biến khác nhau, thường được tính toán sử dụng liều gây
chết (LD), di truyền khảm (genetic chimeras) sau khi gây đột biến và ảnh
hưởng của chúng đến việc truyền những allen đột biến và phân ly trong các thế
hệ sau và bản chất lặn thường có của đột biến. Những hiểu biết về di truyền là
rất quan trọng cho việc thiết lập liều thích hợp và phương thức gây đột biến,
cũng như phương pháp thu và trồng các quần thể đột biến. Chọn giống đột biến
có lợi thế và hạn chế của nó. Những lợi thế bao gồm tạo ra các alen mới không
tồn tại trong nguồn gen và đưa những alen đó vào giống thương mại hóa vì vậy
những giống mới sẽ mang các allen đột biến mong muốn có thể sử dụng trực
tiếp như giống thương mại hóa. Những biến đổi di truyền giới hạn của bất kỳ
một cây trong một quần thể đột biến và bản chất lặn thông thường cho phép các
nhà chọn giống phát triển giống mới trong thời gian ngắn. Những bất lợi của
giống đột biến là ít có khả năng tạo các alen trội mong muốn, kém hiệu quả hơn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
so với chọn giống lai tạo cho tính trạng cần sự tổ hợp của nhiều allen, chẳng
hạn như khả năng chống chịu stress phi sinh học. Tần số đột biến thấp sẽ đòi
hỏi trồng và sàng lọc một quần thể lớn để chọn lọc đột biến mong muốn trong
điều kiện hợp lý. Điều này sẽ rất tốn kém cho những tính trạng phải đánh giá
thông qua phân tích kiểu hình trong phòng thí nghiệm.
Page 5
biết hóa chất mới có thể gây ra đột biến trong thực vật đồng thời hạn chế độc
hại cho con người.
Các tế bào có ADN bị tổn thương sẽ sống sót chỉ khi những thiệt hại
được sửa chữa đúng hoặc sai, kết quả của việc sửa chữa sai sẽ được cố định
trong hệ gen như đột biến gây tạo. Bản chất của tổn thương ADN gây ra bởi các
loại chất gây đột biến khác nhau sẽ xác định tính năng phân tử của các đột biến
gây tạo. Ví dụ, hóa chất gây đột biến EMS thường dẫn đến đột biến của chuyển
G / C sang A / T, trong khi ion chùm cấy có thể gây ra việc xoá các đoạn ADN
với kích thước khác nhau. Mặc dù cho đến nay thông tin về lĩnh vực này còn giới
hạn, những kiến thức này chắc chắn sẽ giúp chọn thể đột biến thích hợp cho các
mục đích khác nhau của chọn giống đột biến. Ví dụ, xóa bỏ ADN trong nhiều
trường hợp sẽ gây đột biến lặn, trong khi thay thế nucleotide có thể tạo ra một
alen trội. Vì vậy, khi một đột biến lặn có thể giải quyết vấn đề, chiếu xạ có thể là
một lựa chọn tốt, còn khi một đột biến trội là cần thiết (ví dụ như kháng thuốc
diệt cỏ), một tác nhân hóa học có thể có ích hơn. Điều này cũng quan trọng cho
việc thiết lập những phương pháp thích hợp để sàng lọc đột biến dựa trên ADN.
Nói chung, chọn giống phân tử thực vật phụ thuộc vào sự hiểu biết về sự
kiểm soát di truyền phân tử của các tính trạng mục tiêu quan tâm. Thông tin di
truyền phân tử cũng giúp đỡ rất nhiều trong việc phát triển một chiến lược chọn
giống đột biến thích hợp. Điều quan trọng đầu tiên là đánh giá tính khả thi và
khả năng gây đột biến mong muốn. Bởi vì tần số đột biến cho bất kỳ đoạn ADN
hay gen nào đều ít nhiều tương tự nhau, cơ hội để có được đột biến cho những
tính trạng khác nhau sẽ phụ thuộc vào số lượng gen điều khiển tính trạng đó. Ví
dụ, nhiều gen có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, do đó tần số đột biến
của tính trạng này thường là cao hơn so với những tính trạng đơn gen quy định.
Thứ hai, một đột biến có thể gây ra nhiều tác động nếu gen đó khởi đầu hoặc
nằm giữa một con đường sinh tổng hợp dài, chẳng hạn như các gen MIPS trong
Từ lâu, gây đột biến thực nghiệm để làm vật liệu khởi đầu cho chọn giống
đã được coi là một trong những kỹ thuật ứng dụng cao trong nông nghiệp.
Phương pháp này được biết đến vào năm 1925 khi Natxon và Philippôp phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
hiện rằng tia Roentgen có khả năng gây ra biến dị di truyền ở nấm Hạ Đẳng.
Đến năm 1926 - 1928, với các nghiên cứu của Muller trên ruồi dấm, Stadler
trên lúa mạch,.. di truyền học phóng xạ đã trở thành nền tảng cho sự ra đời
ngành chọn giống đột biến phóng xạ. Năm 1946, Auerbach và Robson phát hiện
vài hợp chất có thể gây đột biến, sau đó, ngày càng nhiều hóa chất được tìm
thấy có khả năng làm tăng tần số đột biến. Nhưng đến nay, phương pháp sử
dụng hóa chất gây đột biến bị hạn chế vì độc hại và có nguy cơ gây ung thư
cao, thay vào đó người ta sử dụng nhiều các tác nhân vật lý như các bức xạ ion
hóa (tia X, tia gamma...) và các bức xạ không ion hóa (ion beam...).
Hiện nay, theo thống kê của FAO/IAEA, đã có trên 3.000 giống cây trồng
mới được tạo ra bằng phương pháp đột biến thực nghiệm trong đó chiếu xạ
chiếm 88,8%, các tác nhân hoá chất chiếm 9,5%, tác nhân khác là 1,7% [9].
Trong đó có hơn 600 giống lúa và Trung Quốc đang là nước dẫn đầu thế giới
trong lĩnh vực trồng giống lúa đột biến có những tính trạng đặc sắc. Thành công
của phương pháp chọn giống phóng xạ đã đạt được ở rất nhiều đối tượng cây
trồng: cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh, cây rau...Những
đặc tính được cải tiến sau khi gây đột biến như rút ngắn chiều cao, chín sớm;
tăng cường chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện bất lợi của môi trường.
Việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để cải tiến cây trồng đã mang lại hiệu quả Cực
kỳ to lớn về mặt kinh tế.
Hơn 90% các giống đột biến nói trên được tạo ra nhờ nhờ việc sử dụng tia
hưởng của tia gamma lên 13 giống lúa ở đây. Hạt khô của các giống này được xử
lý chiếu xạ với phổ liều rất rộng, từ 50 đến 800Gy. Ở thế hệ M1, các quan sát tập
trung vào tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ sống sót, chiều cao mầm, số dảnh. Kết quả cho
thấy, sức nảy mầm của các giống không khác nhau giữa các liều trong vòng 7
ngày quan sát đầu tiên. Tỷ lệ sống sót của các mầm bắt đầu có sự khác nhau từ
ngày thứ 8 đến ngày thứ 14. Các liều từ 50-300Gy không thấy sự sai khác với đối
chứng ở chỉ tiêu số dảnh. Và liều gây chết 50% số cá thế nghiên cứu (LD50), tùy
thuộc vào giống mà dao động từ 345-423Gy (Harding, S.S., 2012).
Các nhà khoa học Malaysia cũng chiếu xạ tia gamma (nguồn Co60) nhằm
cải tạo 2 giống lúa địa phương là Ase Lapang (gạo dẻo) và Mandoti (gạo đỏ). Kết
quả bước đầu ở thế hệ M1 cho thấy, liều 200Gy đã rút ngắn thời gian sinh trưởng
nhưng lại làm tăng tỷ lệ lép hạt (Abdul Haris, 2013).
Ibrahim S. El-Degw (2013), cũng nghiên cứu ảnh hưởng của chiếu xạ tia
gamma lên giống lúa địa phương Sakha 105 ở các liều 150Gy, 200Gy và 250Gy.
Qua theo dõi ở thế hệ M1 và M2, tác giả chỉ ra rằng: liều 150Gy cho giá trị trung
bình của chỉ tiêu thời gian trỗ, chiều cao cây và số bông/khóm cao nhất. Ở liều
200Gy thì tỷ lệ lép và số gié/bông cao hơn. Còn ở liều 250Gy thì năng suất hạt,
số hạt chắc/bông, thời gian trỗ, chiều cao cây... đều thấp nhất và khác biệt nhiều
nhất so với đối chứng. So sánh giữa các liều thì liều 250Gy phát hiện thấy nhiều
biến dị hơn cả. Có thế thấy rằng, một số các nhà khoa học trên thế giới đã có
nghiên cứu về liều lượng chiếu xạ ở phổ rất rộng. Tựu chung lại, liều thường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
được quan tâm, có giá trị với chọn giống thường dao động từ 200-400Gy. Ngoài
ra, chiếu xạ tia gamma không chỉ có vai trò hiệu quả đối với chọn giống, mà kết
hợp với các thành tựu về giải trình tự gen hiện nay, gây đột biến còn giúp các nhà
lúa này đều đã được công nhận giống quốc gia, giống sản thử hoặc đang gửi khảo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
nghiệm 2-3 vụ. Các giống lúa trên đã được triển khai ra sản xuất với diện tích rất
rộng (hàng triệu héc ta) và đã mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho bà con nông
dân (M.Q Vinh et al., 2009).
Từ năm 1995 đến nay, có khoảng hơn 10 giống lúa đột biến được tạo ra ở
miền Nam Việt Nam. Nguồn vật liệu được sử dụng là: IR64, IR50404, IR59606,
Jamin85, các giống lúa địa phương: Nàng hương, Tám soan, Tài nguyên...Các
nhà khoa học đã sử dụng nguồn chiếu xạ 60Co, liều lượng 150, 200, 250, 300 Gy.
Hiện nay diện tích trồng các giống lúa đột biến chiếm 11% tổng diện tích lúa ở
miền Nam Việt Nam. Nhiều giống lúa đột biến triển vọng kháng bệnh rầy nâu,
đạo ôn, chịu phèn mặn đã được tạo ra như: VND95, OM2717,
OM2496...(Đ.K.Thinh et al., 2004).
Đào Thanh Bằng và cộng sự (2011), cũng đã thành công trong nghiên
cứu ứng dụng tia gamma và ion beam nhằm cải tiến giống lúa Khang dân 18 và
Bắc thơm 7.
Việc chọn lọc dòng/giống nào để xử lý đột biến phụ thuộc vào tính trạng
cần cải tiến. Các bức xạ bức xạ ion hoá mật độ cao chủ yếu gây ra những biến
đổi nhiễm sắc thể (sắp xếp lại, mất đoạn,..), trong khi bức xạ ion hoá mật độ
thưa (tia X, tia gamma) và bức xạ không ion hóa (tia tử ngoại) gây ra nhiều đột
biến điểm hơn. Các tác nhân hoá học đa dạng hơn nhiều về chủng loại so với
tác nhân lý học. Các tác nhân như ethyl methane sulphonate (EMS) và các hợp
chất siêu đột biến nitrozo urê (nitrozoethyl urê) gây ra tần số đột biến cao ở
nhiều loại cây trồng.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng, vùng ĐBSCL sẽ là một
trong ba đồng bằng chịu thiệt hại nặng nề nhất. Trong khi đây là vùng sản xuất
thể đưa vào sản xuất trên diện rộng trong thời gian tới. Giống VND95-20 của
Viện KHKT NN miền Nam là một trong 5 giống lúa xuất khẩu chủ lực với diện
tích gần 200.000 ha.
2.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG LÚA KHÁNG
BỆNH BẠC LÁ
Bệnh bạc lá do vi khuẩn Xanthomonas oryzae pv. oryzae gây ra, gây thiệt hại
nghiêm trọng trên lúa, thậm chí có thể mất trắng. Bệnh bạc lá thường phát sinh
và gây tác hại lớn trong vụ mùa. Bệnh có thể phát sinh sớm vào tháng 8, khi lúa
làm đòng, trỗ, chín sữa với các trà lúa sớm. Đối với các giống lúa mẫn cảm, bệnh
thường bị rất sớm và khá nặng, giảm năng suất nhiều. Các trà lúa cấy muộn trỗ
vào tháng 10 thường bị bệnh nhẹ hơn, tác hại của bệnh cũng ít hơn. Nhìn chung,
bệnh phát triển mạnh vào giai đoạn cây lúa dễ nhiễm bệnh nhất là lúc lúa làm
đòng và chín sữa. Bệnh phát sinh, phát triển mạnh và truyền lan nhanh trong điều
kiện nhiệt độ từ 26- 30oC, ẩm độ cao từ 90% trở lên. Nhiệt độ đảm bảo cho bệnh
phát triển, còn ẩm độ có ý nghĩa quyết định đến đến mức độ bệnh, mưa gió lại
tạo điều kiện cho bệnh truyền lan. Vì thế mà bệnh thường phát sinh, phát triển
mạnh vào khoảng tháng 7- 8, do trong thời gian này, những cơn mưa không chỉ
tạo vết thương trên lá mà còn làm cho vi khuẩn sinh sản nhanh về số lượng kéo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
theo vi khuẩn hình thành nhiều, tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm và truyền lan
nhanh chóng.
Việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phòng trừ đối với bệnh bạc lá
được triển khai rất sớm, đã có nhiều biện pháp phòng trừ được đề xuất và đưa
vào áp dụng, song cho tới nay bệnh này vẫn là một trong những bệnh nguy hại
của ngành trồng lúa.
đặc tính nông sinh học tốt của bố mẹ vừa mang gen kháng bệnh bạc lá.
Ở Nhật Bản bệnh bạc lá gây hại từ năm 1884 nhưng mãi đến năm 1926
cây lúa kháng bệnh bạc lá đầu tiên mới được xác định. Cây lúa kháng bệnh này
được chọn ra từ giống lúa nhiễm bệnh, được đặt tên là Kono 35. Giống này cung
cấp gen chống chịu cho nhiều giống lúa ở Nhật Bản (Lê Lương Tề và cs., 2007).
Ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế, chương trình chọn giống kháng bệnh
bạc lá đã đạt được nhiều kết quả. Người ta đã đưa ra nhiều dòng, giống kháng
bệnh và chúng được trồng rộng rãi ở Châu Á, cung cấp vật liệu kháng bệnh bạc
lá cho các nước như Philippin, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Thái
Lan, Việt Nam, Indonexia, Malaysia (Chen et al., 2000).
Theo Deng Qi-ming và cộng sự (2006), thì hầu hết các giống lúa kháng
hiện nay có phổ kháng hẹp. Trên giống lúa Indica chứa gen Xa4 và giống
Japonica chứa gen xa3. Theo Guang-huai Jiang và cộng sự (2006), gen lặn xa5
có phổ kháng rộng hơn và cao hơn so với các đơn gen kháng khác. Các nhà khoa
học Philippin thì khẳng định gen xa5, Xa7, Xa21, Xa23 có phổ kháng rộng hơn
với cả 6 chủng bạc lá ở Philippin, (Chen et al., 2008). Theo Mark Mazzola và
cộng sự, gen Xa21 kháng với hầu hết các chủng bạc lá ở Ấn Độ và Philippin
(Supanyika Sengsai et al., 2007), (Sun et al., 2004).
Từ cuối thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21, một loạt các gen kháng bạc lá được
lập bản đồ với các chỉ thị phân tử liên kết đã thúc đẩy mạnh mẽ chương trình chọn
giống lúa kháng bạc lá nhờ chỉ thị phân tử. Các đơn gen kháng bạc lá thường chỉ
kháng được với một số nòi vi khuẩn bạc lá nhất định. Vì vậy nhiều cơ sở nghiên
cứu đã tiến hành quy tụ vài gen kháng bạc lá vào một giống lúa nhằm tạo giống lúa
cho năng suất cao và kháng bền vững với nhiều nòi bạc lá. Công nghệ chọn giống
nhờ chỉ thị phân tử (MAS) trở nên đắc lực cho việc quy tụ nhiều gen kháng vào 1
hệ gen.
Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế đã đưa các gen kháng được với nhiều chủng
bạc lá xa5, xa13 và Xa21 vào các giống lúa “Kiểu mới” (New Plant Type) IR65598112, IR65600-42 và IR65600-96 nhằm tạo ra các giống lúa cho năng suất siêu cao