bài tập lớn hiến pháp: “ Phân tích nhóm quyền về chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013” - Pdf 35

A, Mở đầu
Hiến pháp 2013 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân... do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức”. Các bản Hiến pháp từ 1946 đến nay đều thống nhất quan điểm đó. Chính
vì vậy, nhân dân có một vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình lập hiến của
dân tộc. Và để làm rõ hơn vai trò của công dân trong quá trình lập hiến và xây
dựng đất nước của dân tộc, em xin chọn đề tài “ Phân tích nhóm quyền về chính
trị của công dân theo Hiến pháp 2013”
B, Nội dung
I, Cơ sở lý luận
Trong lịch sử lập hiến của một quốc gia, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân luôn là chế định quan trọng, nó thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của
nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và các cá nhân trong xã hội.
Theo Hiến pháp 2013 ta có thể phân chia các quyền của công dân thành các quyền
về chính trị, dân sự và các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội.Trong đó, nhóm quyền
về chính trị của công dân có một vai trò vô cùng quan trọng, nó xác định vai trò
của công dân đối với nhà nước và toàn xã hội. Bởi lẽ, trong bất kì nhà nước nào,
chính trị luôn là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển ổn
định của một quốc gia. Các quyền chính trị là các quyền của cá nhân được tham
gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của Nhà nước và xã hội, bao gồm
cả việc thành lập và quản lý nhà nước. Đó là các quyền như tham gia quản lý xã
hội. quản lý Nhà nước; quyền bầu cử, ứng cử; quyền khiếu nại,tố cáo...
II, Phân tích nhóm quyền về chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013


1, Nội dung các quyền về chính trị theo Hiến pháp 2013
Khoản 1 Điều 28 Hiến pháp 2013 quy định “ Công dân có quyền tham gia
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và lấy ý kiến với các cơ quan nhà
nước các vấn đề của cơ sở, của địa phương và cả nước”. Khoản 2 Điều 28 cũng

chức, cá nhân”. Tiếp đó, khoản 2 Điều 30 quy định “ Cơ quan , tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có
quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự theo quy định của pháp
luật”. Và khoản 3 Điều 30 cũng quy định “ Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu
nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại
người khác”. Và như vậy, về cơ bản, Điều 30 Hiến pháp 2013 là sự ghi nhận lại
Điều 74 của Hiến pháp 1992 bằng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất
đảm bảo cho các công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và buộc các cơ quan
nhà nước, các nhà chức trách phải xem xét và giải quyết một cách kịp thời. Hiến
pháp không những nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo mà còn nghiêm
cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
Đây là sự kế thừa của Hiến pháp 1992. Sở dĩ có quy định ấy vì trong thực tế, hành
động vu khống, vu cáo làm hại người khác là một hành vi vô cùng nguy hieemt
cho xã hội và cho cộng đồng. Nó không những ảnh hưởng đến sự nghiệp của người
bị hại mà còn làm tổn thất nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và cuộc sống
bình thường của họ.
Thứ ba, về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Điều 25 Hiến pháp 2013 quy
định “ Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,
quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Đây là những
quyền dân sự đồng thời cũng là quyền chính trị của công dân. Nhà nước ta tôn


trọng quyền tự do dân chủ của mọi công dân vì theo Mác-Ănghen thì “ sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người”. Hiến
pháp 2013 khẳng định quyền tiếp cận thông tin. Nếu như Hiến pháp 1992 chỉ quy
định “Công dân có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013 tại
Điều 25 đã thay chữ “được thông tin” bằng cụm từ “tiếp cận thông tin”. Nhờ quyền
tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực
định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của
mình theo Hiến pháp và pháp luật. Đây là một điểm mới vô cùng tiến bộ của Hiến

2013, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển;
nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán,
truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát
triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng
phát triển với đất nước. Như vậy, quyền bình đẳng giữa các dân tộc không chỉ
được pháp luật quy định và ghi nhận mà còn được Nhà nước tạo điều kiện để
quyền ấy được thực hiện và đảm bảo. Đặc biệt, điều 42 Hiến pháp quy định một
quyền mới của công dân trong lĩnh vực này, đó là “. Công dân có quyền xác định
dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” thể hiện
sự dân chủ, công bằng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức
mạnh toàn dân.
2, Thực trạng việc thực hiện và bảo đảm các quyền về chính trị theo Hiến
pháp 2013.
Đối với các quyền bầu cử, ứng cử, và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước
và xã hội. Để bảo đảm các quyền trên, Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu


Quốc hội (1997), được sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010; Luật Bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân (2003), được sửa đổi, bổ sung năm 2010; Luật Bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (2015). Đặc biệt, trong Luật bầu cử Quốc
hội và Hội đồng nhân dân (2015) cũng giảm bớt đi những trường hợp bị tước
quyền bầu cử, điều đó ngày càng thể hiện tính dân chủ, công bằng được nâng cao
trong xã hội.
Hoạt động Quốc hội trong thời gian gần đây đã thể hiện rõ tinh thần dân chủ, công
khai, minh bạch. Hoạt động chất vấn của Quốc hội ngày càng đi vào thực chất và
trở thành diễn đàn để Nhân dân thông qua các đại biểu do họ bầu ra chất vấn luật
pháp, chính sách, cách thức điều hành của Chính phủ nhằm hướng đến các giải
pháp có hiệu quả, đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.
Tại các địa phương, cơ sở đã có những tiến bộ về thực hiện quyền tham gia quản lý

của Nhà nước một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn, phát huy quyền làm chủ của
mình. Điều này còn giúp cho nhân dân tham gia vào quản lý chính trị xã hội một
cách hiệu quả và xác thực hơn.
Quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo: các nghị quyết của Trung ương và các biện
pháp quản lý của Chính phủ đã thể chế hóa cụ thể quyền được sinh hoạt bình
thường của các tôn giáo; công nhận tư cách pháp nhân cho nhiều tổ chức tôn giáo;
tôn trọng các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành; và chăm lo cải
thiện đời sống của đồng bào tôn giáo, v.v….Hiện nay tôn giáo ở nước ta rất đa
dạng như Phật giáo, Thiên chúa giáo, đạo Cao Đài và một số tôn giáo khác. Sở dĩ
có nhiều tôn giáo cùng tồn tại như vậy là do pháp luật tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng tôn giáo của mỗi công dân. Điều này thể hiện rõ sự tiến bộ của nước ta, đó


là sự quan tâm ngày càng lớn đến đời sống tinh thần của mỗi công dân. Chính vì
vậy đã lập nên Ban Tôn giáo Chính phủ để điều hợp của các tôn giáo, tín ngưỡng.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cũng được nhà nước quan tâm chú trọng như
việc phát triển kinh tế xã hội ở những vùng dân tộc thiểu số, có điều kiện kinh tế
khó khăn, trình độ dân trí thấp nhằm góp phần tạo nên sự phát triển đồng đều giữa
các địa phương, các dân tộc trong cả nước. Để từ đó nhằm phát huy sức mạnh toàn
dân, thể hiện được sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc.
3, Phương hướng nhằm nâng cao hơn nữa nhóm quyền về chính trị của công dân
trong thực tiễn đời sống.
Để bảo đảm chính trị của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta cần tích cực triển khai
thực hiện nhiều giải pháp hơn nữa. Trong đó, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đẩy
mạnh cải cách hành chính, tư pháp, xây dựng hệ thống chính quyền các cấp trong
sạch, vững mạnh với đội ngũ cán bộ có trình độ cao, phẩm chất tốt là vấn đề được
quan tâm đặc biệt. Đảng đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhằm tạo chuyển biến
mạnh mẽ về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng với mục tiêu: mang lại ấm
no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, cơ quan, đơn vị, đoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status