LỜI NÓI ĐẦU
Thuế là công cụ hiệu quả để quản lý vĩ mô nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển,
giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội, để động viên thêm một phần tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân vào Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu
chung của Nhà nước và xã hội.
Hiện nay, việc kê khai và nộp thuế theo phương thức thủ công gây mất nhiều
thời gian và tốn kém cho cá nhân và tổ chức nộp thuế. Đối với doanh nghiệp, hình
thức kê khai và nộp thuế theo phương pháp thuế truyền thống yêu cầu cán bộ thuế
phải nhập lại hồ sơ của doanh nghiệp vào máy tính, hàng tháng doanh nghiệp phải
cử nhân viên đến cơ quan thuế để nộp tờ khai mất khá nhiều thời gian. Ngoài ra, việc in
các tờ khai thuế tiêu tốn khá nhiều chi phí của doanh nghiệp. Đối với ngành thuế, do số
lượng doanh nghiệp càng ngày càng lớn mà nguồn nhân lực, vật lực của ngành thuế
có hạn, nên thường xuyên xảy ra các tình trạng quá tại vào thời điểm kê khai và nộp
thuế hàng tháng của doanh nghiệp.
Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về thuế cho doanh nghiệp, tiết kiệm
chi phí và tăng đầu tư cho sản xuất kinh doanh thì việc thực hiện khai thuế từ xa, tiến tới
khai thuế điện tử là một tất yếu trong công tác quản lý thuế hiện đại của ngành Thuế cả
nước. Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hệ thống kê khai và nộp thuế là
cần thiết cho việc phát triển kinh tế xã hội và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở nước ta.
1
I.
TỔNG QUAN VỀ THUẾ ĐIỆN TỬ
1. Các khái niệm
- Thuế điện tử là hình thức giao dịch điện tử trong các hoạt động ngành thuế như đăng
- Đơn giản hóa thủ tuc nộp thuế, tiết kiệm thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp.
- Giảm chi phí in ấn, giấy tờ, không phải đi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế.
- Không lệ thuộc vào thời giờ hành chính, có thể ký tờ khai thuế, nộp hồ sơ thuế 24/24.
- Thúc đẩy các doanh nghiệp tiếp cận giao dịch thương mại điện tử.
- Giảm thiểu tình trạng quá tải tại cơ quan thuế mỗi khi đến kỳ hạn nộp hồ sơ khai thuế.
- Cập nhật dữ liệu thuế tự động, tránh được sai sót trong khâu nhập tin, tạo điều kiện cho
cơ quan thuế lưu trữ hồ sơ dạng điện tử, tiết kiệm được ngân sách trong lưu trữ hồ sơ.
2.4. Những ngân hàng thương mại đã phối hợp với Tổng cục Thuế cung cấp dịch vụ
nộp thuế điện tử
-
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
-
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)
-
Ngân hàng TMCP Quân đội (Mbbank)
-
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank)
-
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)
-
Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank)
-
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)
-
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank)
-
Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank)
-
Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank)
-
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank)
-
Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank)
-
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank)
Người nộp thuế đăng nhập Công thông tin bằng user khai
thuế điện tử, chọn chức năng Nộp thuế - Đăng ký nộp thuế điện tử - Nhập các thông tin
về điện thoại, email, serial chứng thư số….( có thể đăng ký thêm thiế bị chứng thư số
dùng riêng cho nộp thuế điện tử; hoặc sử dụng chung thiết bị chứng thư số hiện đang
dùng để khai thuế điện tử hàng tháng )
.
-
Bước 2: Đăng ký với Ngân hàng
+ Người nộp thuế tải bản đăng ký ủy quyền trích nợ tài khoản với Ngân hàng tại Cổng
thông tin ngành thuế hoặc website của những ngân hàng
thương mại đã phối hợp với Tổng cục Thuế cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử.
4
+ Người nộp thuế điền đầy đủ các thông tin, lý đóng dấu nộp tại chi nhánh ngân hàng,
nơi mở tài khoản, hoặc tại Phòng / Chi cục Thuế hiện đang quản lý thuế
+ Sau khi Chi nhánh Ngân hàng xác nhận đăng ký, người nộp thuế sẽ nhận được thông
báo hoàn thành đăng ký sử dụng dịch vụ Nộp thuế điện tử qua email đã đăng ký trên
kèm với mật khẩu đăng nhập cho dịch vụ nộp thuế điện tử.
2. Thao tác nộp thuế điện tử:
+ NNT đăng nhập Cổng thông tin bằng user khai thuế điện
tử, chọn chức năng Nộp thuế – Lập giấy nộp tiền điện tử (GNT), ký số và gửi đến Cổng
thông tin điện tử của Cơ quan thuế
+ NHTM sẽ kiểm tra các thông tin trên GNT của NNT và thực hiện trích nợ tài khoản
NNT để chuyển tiền vào NSNN khi thông tin trên GNT của NNT là hợp lệ và tài khoản
NNT đủ số dư.
+ Ngay sau khi NHTM hoàn thành việc trích nợ tài khoản NNT, NNT sẽ nhận được
điều tra này. Ngoài ra các loại hình khác vẫn có nhưng chiếm số lượng ít hơn. Chẳng hạn
như công ty nhà nước có số lượng 11 tương ứng với tỷ lệ 1,1%, doanh nghiệp nước
ngoài có 9 công ty ứng với tỷ lệ 0,9%, liên doanh 9 công ty ứng với tỷ lệ 0,9%, hợp tác
xã, tổ hợp tác có 2 ứng với tỷ lệ rất nhỏ, ko đáng kể.
Bảng liệt kê và các biểu đồ sau sẽ thể hiện rất rõ số lượng và tỷ lệ các doanh
nghiệp điều tra được phân chia theo loại hình doanh nghiệp
STT
Loại hình
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1
Trách nhiệm hữu hạn
434
43,4%
2
Công ty cổ phần
408
40,8%
23
2,3%
7
Liên doanh
9
0,9%
8
Hợp tác xã, tổ hợp tác xã
2
0,2%
Bảng 1: Loại hình DN điều tra thực trạng triển khai các dịch vụ E-tax 2014
1%
1%
1%
0%
2%
STT
Ngành nghề
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1
Xây dựng giao thông vận tải
279
27,9%
2
Du lịch, khách sạn
37
3,7%
3
SX, cb nông sản thực phẩm
25
14
1,4%
8
Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
4
0,4%
9
Thủ công mỹ nghệ
2
0,2%
10
Khác
379
37,9%
Bảng 2: Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp tham gia điều tra
Biểu đồ sau đây sẽ thể hiện rõ hơn số lượng và tỷ lệ ngành nghề các doanh nghiệp
9
Về hình thức kê khai thuế thông thường có 4 cách thức mà hiện nay vẫn được các
doanh nghiệp sử dụng:
- Một là kê khai thuế thủ công.
- Hai là sử dụng phần mềm kê khai thuế (HTKK) của Tổng Cục thuế.
- Ba là có phần mềm đối tác thứ 3 kết xuất theo mẫu của cơ quan thuế.
- Bốn là thông qua đại lý thuế hoặc kế toán thuế thuê ngoài.
Theo kết quả điều tra này thì các doanh nghiệp sử dụng hình thức dùng phần
mềm kê khai thuế (HTKK) của Tổng cục thuế là chủ yếu với số lượng rất lớn là 878
doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ 87,8%. Đây được coi là hình thức rất phổ biến đối với
các doanh nghiệp hiện nay ở nước ta nói chung và các doanh nghiệp được điều tra nói
riêng. Có 66 doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ 6,6% có phần mềm đối tác thứ 3 kết xuất
theo mẫu của cơ quan thuế. Có 50 doanh nghiệp ứng với tỷ lệ rất nhỏ 5% kê khai thuế
thủ công và chỉ có 47 doanh nghiệp ứng với tỷ lệ 4,7% sử dụng hình thức thông qua đại
lý thuế hoặc kế toán thuế thuê ngoài.
Biểu đồ sau sẽ thể hiện rõ số lượng và tỷ lệ của các hình thức kê khai thuế hiện
nay của các doanh nghiệp được điều tra lần này.
Biểu đồ 4a: Số lượng DN sử dụng các hình thức kê khai thuế
5.
Hình thức nộp tờ khai
Về hình thức nộp tờ khai thuế hiện nay các doanh nghiệp nói chung đều sử dụng
một trong bốn hình thức chủ yếu là:
- Nộp trực tiếp tại cơ quan thuế.
- Nộp qua bưu điện
- Nộp tờ khai thuế qua mạng qua hệ thống iHTKK của Tổng cục thuế
- Nộp tờ khai thuế qua mạng của tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN.
Biểu đồ 6: Số lượng DN sử dụng máy tính để bàn để kê khai thuế theo các mức
độ
Bên cạnh việc sử dụng máy tính để bàn để phục vụ công tác kê khai và nộp thuế
thì các doanh nghiệp cũng thường xuyên sử dụng máy tính xách tay để kê khai. Các
doanh nghiệp thông thường sử dụng từ 1 đến 2 máy tính xách tay (mức trung bình) để
phục vụ công tác kê khai thuế. Có 159 doanh nghiệp sử dụng ở mức này. Trong đó có
128 doanh nghiệp dùng 1 máy tính xách tay để kê khai thuế.
Hiện nay cũng có 1 số doanh nghiệp sử dụng máy tính bảng để kê khai thuế. Tuy
nhiên, hình thức này cũng chưa phổ biến nên số lượng doanh nghiệp sử dụng 1 đến 2
máy tính bảng để kê khai thuế chỉ chiếm 10 doanh nghiệp trong đó có 9 doanh nghiệp
chỉ sử dụng 1 máy tính bảng phục vụ công tác kê khai.
7.
Cơ sở hạ tầng mạng Internet
Trong điều tra lần này đã đề cập rất cụ thể đến việc máy tính của các doanh
nghiệp tham gia điều tra có kết nối mạng Internet hay không, tốc độ đường truyền ra sao
cũng như hình thức kết nối nào được các doanh nghiệp ưa chuộng nhất hiện nay.
Theo kết quả điều tra thì 990 doanh nghiệp trả lời họ có kết nối mạng Internet, 5
doanh nghiệp trả lời không.
Về tốc độ đường truyền có 478 doanh nghiệp cho rằng ở mức trung bình tương
ứng với tỷ lệ 47,8%. Có 460 doanh nghiệp nhận xét rằng đường truyền tốt ứng với tỷ lệ
46%. Chỉ có 47 doanh nghiệp ứng với tỷ lệ nhỏ 4,7% cho là đường truyền còn chậm. 2
trong số 1000 doanh nghiệp điều tra tì phàn nàn về tốc độ đường truyền rất chậm.
12
Biểu đồ 7: Số lượng DN có tốc độ đường truyền được đánh giá theo các mức độ
Về hình thức kết nối Internet hiện nay các DN nói chung ở Việt Nam hay sử dụng
3 hình thức chính là ADSL hoặc DSL; qua đường điện thoại hoặc thuê đường truyền
khó khăn, cả khó khăn mang tính
-
Thời điểm hiện tại Tổng cục Thuế mới ký thoả thuận hợp tác được với 20 ngân hàng
thương mại để cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử. Hiện nay vẫn còn khoảng 40 ngân
hàng thương mai ở Việt Nam chưa thực hiện triển khai phối hợp với cơ quan thuế để
cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử cho doanh nghiệp. Như vậy, với việc 40 ngân hàng
thương mại chưa phối hợp được với cơ quan thuế để cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử
thì đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mở tài khoản tại 40 ngân hàng này chưa có điều
-
kiện để thực hiện việc nộp thuế điện tử.
Đối với Doanh nghiệp tại Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó về kinh
phí, trình độ cũng như khả năng tiếp cận với các dịch vụ mới còn hạn chế, tâm lý ngại
thay đổi dẫn đến nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự sẵn sàng để tham gia dịch vụ nộp
-
thuế điện tử.
Hiện tại, những doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế qua hệ thông T-VAN muốn nộp
thuế điện tử thì vẫn phải sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử của cơ quan thuế để thực
hiện nộp thuế trong khi đó việc kê khai, nộp tờ khai thuế doanh nghiệp đang thực hiện
thông qua hệ thống T-VAN. Như vậy, cùng một doanh nghiệp để thực hiện việc kê khai,
nộp thuế thì phải truy cập, sử dụng 2 hệ thống khác nhau, điều này gây sự bất tiện cho
-
doanh nghiệp trong qua trình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
Chính sự thuận thuận tiền đối với doanh nghiệp thì cũng là phần khó khăn dành cho cơ
Phối hợp với các tổ chức cung cấp chứng thư số (CA) có chính sách giảm giá
-
dịch vụ CA để khuyến khích doanh nghiệp tham gia dịch vụ nộp thuế điện tử.
Ba là, hoàn thiện khung pháp lý cho phép các tổ chức T-VAN được tham gia cung cấp
dịch vụ nộp thuế điện tử cho doanh nghiệp. Cần sớm ban hành thông tư sửa đổi thông tư
về giao dịch điện tử. Hiện tại có 65 nghìn doanh nghiệp đang thực hiện kê khai thuế qua
hệ thống T-VAN, việc sớm ban hành sửa đổi thông tư về giao dịch điện tử tạo hành lang
pháp lý cho phép tổ chức T-VAN tham gia cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử là cần thiết
để tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp tham gia nộp thuế điện tử. Đồng
thời giúp giảm tải hệ thống của cơ quan thuế trong việc đảm bảo đường truyền cho
người nộp thuế thực hiện nộp thuế điện tử, hạn chế tối đa việc nghẽn mạng dẫn đến
-
doanh nghiệp không thực hiện được việc nộp thuế.
Bốn là, cần quy định cụ thể việc xử lý tình huống nộp chậm tiền thuế vào ngân sách nhà
nước của doanh nghiệp trong trường hợp bị nghẽn mạng do hệ thống công nghệ thông
tin của cơ quan thuế gây nên. Đề xuất cho miễn tiền phạt nộp chậm trong những ngày
xẩy ra nghẽn mạng
16
Nhận thấy ý nghĩa quan trọng của việc mở rộng dịch vụ nộp thuế điện tử, ngành
thuế đã và đang huy động toàn bộ nguồn lực trong ngành tập trung hoàn thành mục tiêu
mở rộng dịch vụ nộp thuế. Đồng thời đẩy mạnh và phối hợp đồng bộ các giải pháp trọng
tâm nhằm cung cấp một dịch vụ nộp thuế tiện tích đến với đông đảo người dân và doanh
nghiệp. Huy động tối đa nguồn lực xã hội vào công cuộc cải cách, hiện đại hóa ngành
thuế.