Giáo trình lý luận mới (2013)
Chương VI
HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC
I.
Khái niệm hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là một khái niệm rất cơ bản của khoa học pháp lý nói
chung và của lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói riêng. Việc nghiên cứu
về hình thức nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn hiện
nay. Nói tới hình thức nói chung là nói tới những biểu hiện ra bên ngoài cũng như
quy mô, cấu trúc hay cách thức tổ chức của sự vật, hiện tượng. Hình thức của nhà
nước được xét chủ yếu dưới góc độ quy mô và cách thức tổ chức. Nếu nhà nước
được hiểu là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị- lãnh thổ của một quốc
gia thì hình thức của nhà nước (tức là cách thức, quy mô tổ chức của nó) chính là
cách thức hay quy mô của tổ chức quyền lực nhà nước. Theo cách tiếp cận này,
hình thức nhà nước được hiểu là tổng thể cách thức tổ chức và phương pháp thực
hiện quyền lực nhà nước.
Xét cả về cách thức cũng như phương pháp, quy mô tổ chức quyền lực nhà
nước như trên, hình thức nhà nước là một khái niệm được cấu thành từ ba yếu tố
(khái niệm) bộ phận là hình thức chính thể nhà nước, cấu trúc nhà nước và chế độ
chính trị.
1.
Hình thức chính thể nhà nước
Chính thể nhà nước là cách thức, trình tự lập ra các cơ qua cao nhất của quyền
lực nhà nước, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan ấy với nhau đồng thời thể
hiện mức độ tham gia của nhân dân vào việc thành lập ra chúng. Trong các cơ
quan cao nhất của một nhà nước, cơ quan được nói tới đầu tiên là nguyên thủ quốc
gia- người đứng đầu nhà nước, sau đó là các loại cơ quan khác nắm giữ quyền lực
hành chính - lãnh thổ và xác lập mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước ở trung
ương với các cấp chính quyền nhà nước ở địa phương.
Nếu hình thức chính thể của nhà nước nói tới cách tổ chức quyền lực nhà nước
ở trung ương thì hình thức cấu trúc của nhà nước lại nói tới cách thức tổ chức
quyền lực nhà nước theo tổ chức lãnh thổ. Theo đó, cấu trúc nhà nước gồm hai
dạng cơ bản là cấu trúc đơn và cấu trúc liên bang.
Cấu trúc nhà nước đơn nhất có đặc điểm là quyền lực nhà nước được tổ chức từ
một quốc gia có lãnh thổ thống nhất được chia thành các đơn vị hành chính các
cấp, cấp dưới trực thuộc cấp trên, địa phương trực thuộc trung ương. Trong cấu
trúc này, nhà nước có một hệ thống pháp luật thống nhất áp dụng chung trong toàn
lãnh thổ, có một hệ thống cơ quan quyền lực, một hệ thống cơ quan quản lý được
tổ chức thành các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Công dân trong
nhà nước này chỉ chịu sự điều chỉnh của một quy chế pháp lý.
Cấu trúc nhà nước liên bang có đặc điểm là quyền lực nhà nước được tổ
chức từ sự kết hợp của từ hai quốc gia, bang hoặc vùng lãnh thổ thành viên trở lên,
trong đó, chính quyền liên bang và chính quyền bang (quốc gia) thành viên có sự
độc lập tương đối. Điều đó được thể hiện ở trong cấu trúc này là nhà nước có hai
hệ thống pháp luật, hai hệ thống cơ quan quyền lực, hai hệ thống cơ quan quản lý,
một hệ thống của chính quyền liên bang, một hệ thống thuộc chính quyền các
bang, quốc gia thành viên. Công dân trong nhà nước có cấu trúc này vừa chịu sự
điều chỉnh của quy chế pháp lý liên bang, vừa chịu sự điều chỉnh của quy chế pháp
lý của bang, quốc gia thành viên.
Cấu trúc nhà nước cũng có sự thay đổi theo thời gian theo khuynh hướng ngày
càng phức tạp hơn tùy thuộc vào quy mô lãnh thổ cũng như khả năng tổ chức
quyền lực của các lực lượng cầm quyền.
Ngoài hai dạng cơ bản nêu trên còn có một hình thức khá phổ biến hiện nay
là nhà nước liên minh. Nhà nước liên minh có một số đặc điểm gần giống với nhà
nước liên bang nhưng mối liên hệ giữa các thành viên không chặt chẽ như nhà
Ở chế độ chính trị phản dân chủ nhà nước sử dụng những phương pháp và
thủ đoạn có tính chất cực đoan để thực hiện quyền lực. Các lực lượng cầm quyền
dùng nhiều biện pháp để hạn chế hoặc loại trừ khả năng tham gia của nhân dân vào
việc thực hiện quyền lực nhà nước. Trong lịch sử, chế độ chính trị phản dân chủ
được thực hiện ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào bản chất của nhà nước và
các nhà cầm quyền. Có mức độ phản dân chủ bình thường như ở một số nhà nước
phong kiến, nhân dân chỉ được coi là các “thần dân” không được tham gia vào việc
thực hiện quyền lực nhà nước. Có mức độ phản dân chủ cao hơn khi mà nhà nước
cầm quyền có các chính sách cực đoan, chuyên chế, không chỉ không thừa nhận
việc tham gia vào quyền lực nhà nước của nhân dân mà còn có nhiều sự cấm đoán,
đàn áp. Ở mức độ cao nhất, chế độ chính trị này được thể hiện qua chính sách của
các nhà cầm quyền đến mức độc tài, phát xít, không chỉ loại trừ việc tham gia của
nhân dân vào việc thực hiện quyền lực nhà nước mà còn sử dụng kết hợp nhiều
biện pháp cực đoan, cấm đoán, đàn áp và triệt tiêu hoàn toàn khả năng chống đối
từ các lực lượng chính trị dân chủ đấu tranh cho sự tiến bộ của nhân loại.
II.
Sự phát triển của hình thức nhà nước qua các kiểu nhà nước
Có thể nói hình thức nhà nước là một vấn đề có tính biến động rất lớn trong
quá trình phát triển của nhà nước. Lịch sử thay thế của các kiểu nhà nước cho thấy
hình thức thức nhà nước luôn có sự biến đổi theo thời gian và có sự khác nhau về
không gian tồn tại. Sự phát triển của hình thức nhà nước có thể được xem xét dưới
những biểu hiện qu các kiểu nhà nước trong lịch sử như sau:
1. Về hình thức chính thể của nhà nước
Hình thức chính thể của nhà nước có sự thể hiện rất đa dạng, phong phú và có
những biểu hiện khác nhau qua các kiểu nhà nước trong lịch sử và ngày càng có
khuynh hướng phức tạp hơn.
Trong nhà nước chủ nô, nói chung hình thức chính thể của nhà nước còn tương
đối đơn giản, trong đó hình thức chính thể có sự khác nhau khá nhiều giữa các nhà
nước ở phương Đông so với các nhà nước phương Tây. Các nhà nước phương Tây
tế khá mạnh đã lôi kéo thêm tầng lớp bình dân đấu tranh với tầng lớp quý tộc cũ
vốn có địa vị cao trong xã hội lúc bấy giờ để giành lấy quyền lợi cho mình, trong
đó đặc biệt là các quyền về chính trị. Điều này dẫn tới sự đa dạng về phương thức
tổ chức quyền lực ở đây. Nó cũng phù hợp với chế độ nô lệ điển hình ở đây, trong
đó có thể kể đến tính chất đối kháng trong quan hệ giai cấp đòi hỏi phải thiết lập
quyền lực chính trị tương ứng để thực hiện việc chuyên chính giai cấp.
Ở phương Đông, hình thức chính thể đơn giản hơn và hầu như chỉ có một
hình thức duy nhất là chính thể quân chủ tuyệt đối với quyền lực vô hạn của các
ông vua. Quyền lực của vua được thần thánh hóa (như các Pha-ra-ông ở Ai cập,
Hoàng đế - Thiên tử ở Trung quốc…) và vương quyền được kết hợp với thần
quyền nên không có bất cứ sự kiểm soát nào đối với nhà vua. Vai trò của người
đứng đầu nhà nước ở phương Đông xuất phát từ sự tôn sùng của toàn xã hội do uy
tín tự nhiên của các ông vua ban đầu có được từ tài năng của họ trong chỉ huy
chiến đấu chống ngoại xâm và tổ chức trị thủy và các vua sau được thừa hưởng
các quyền lực này khi nó đã được thần thánh hóa. Chính thể này hình thành và tồn
tại được như vậy là do nhu cầu của công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm của các
dân tộc phương Đông cần một thủ lĩnh thực sự và được suy tôn, có đủ uy tín để
liên kết các bộ lạc để tạo ra sức mạnh của cả cộng đồng và gắn với nó là chế độ nô
lệ gia trưởng. Sự tuyệt đối hóa vai trò của vua trong các nhà nước này đã làm cho
chính thể quân chủ này trở thành quân chủ chuyên chế.
Trong nhà nước phong kiến, sự khác nhau về hình thức chính thể giữa
phương Đông với phương Tây vẫn tiếp tục được duy trì do sự khác biệt rất lớn về
nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý... Nếu như ở phương Đông,
hình thức chính thể quân chủ vẫn tiếp tục được duy trì một cách bền vững qua cả
hai giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến thời kỳ phân quyền và thời kỳ trung
ương tập quyền với vai trò đặc biệt của người đứng đầu nhà nước là các ông vua
vẫn được coi là “thiên tử”, được “thay trời trị dân” thì ở phương Tây, hình thức
chính thể tiếp tục có sự phát triển ở những dạng khác. Ở giai đoạn đầu, chế độ
quân chủ chuyên chế như nhà nước phong kiến nhưng nhà nước tư sản lại có hai
biến thể của chính thể quân chủ là quân chủ nhị hợp (tồn tại chủ yếu ở giai đoạn
đầu của nhà nước tư sản) và chính thể quân chủ đại nghị (còn tồn tại phổ biến ở
các nhà nước có chính thể quân chủ hiện nay). Chính thể quân chủ nhị hợp có đặc
điểm là người đứng đầu nhà nước là vua, vẫn lên ngôi theo con đường thế tập (cha
truyền hoặc mẹ truyền, con nối) và thường giữ chức suốt đời và nắm quyền hành
pháp. Quyền lập pháp trước đây của vua đã bị hạn chế bởi nghị viện. Đây là kết
quả của sự thỏa hiệp giữa các thế lực phong kiến cũ vẫn còn tiềm lực tương đối lớn
với các thế lực tư sản mới đang có tiềm lực về kinh tế nhưng chưa đủ sức để loại
bỏ các thế lực phong kiến này ra khỏi đời sống chính trị. Chính thể quân chủ đại
nghị có đặc điểm là ngôi vua cũng được thế tập, vua vẫn đứng đầu nhà nước
nhưng quyền lực bị hạn chế ở cả hai lĩnh vực. Đó là quyền lập pháp bị hạn chế bởi
nghị viện, quyền hành pháp bị hạn chế bởi chính phủ. Vua không có thực quyền
mà chỉ còn là thủ lĩnh tinh thần, giữ vai trò trong các nghi thức nhà nước. Nói cách
khác thì vua chỉ trị vì mà không cai trị nên vua có quyền “vô trách nhiệm”. Chính
phủ được lập ra từ phe đa số trong nghị viện. Thủ tướng đứng đầu chính phủ và
cũng là thủ lĩnh của phe đa số trong nghị viện. Chính phủ có thể bị bất tín nhiệm
bởi nghị viện và khi đó chính phủ phải từ chức tập thể. Trung tâm quyền lực thực
chất ở các nhà nước có chính thể này nằm ở chức vụ thủ tướng.
Ở nhà nước tư sản không còn chính thể cộng hòa quý tộc. Tuy chỉ còn
chính thể cộng hòa dân chủ nhưng chính thể này cũng rất phức tạp. Nó có những
dạng thức chủ yếu là chính thể cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị (cộng hòa
nghị viện) và cộng hòa lưỡng tính (cộng hòa hỗn hợp) với những đặc điểm chung
và riêng nhất định
Đối với chính thể cộng hòa tổng thống, nguyên thủ quốc gia là tổng thống vừa
đứng đầu nhà nước, vừa đứng đầu chính phủ. Tổng thống được cử tri bầu ra, giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ và có quyền lực rất lớn. Tổng thống có quyền tự thành lập
chính phủ bằng cách chỉ định các thành viên chính phủ không phụ thuộc vào phe
ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia. Một điểm tiến bộ quan trọng nữa là chính
thể nhà nước luôn được quy định trong hiến pháp - văn bản pháp lý quan trọng
nhất của mỗi nhà nước và được coi là hình thức nhân dân trao quyền cho các cơ
quan nhà nước.
Đối với các nhà nước XHCN, tuy thời gian ra đời khá muộn và tồn tại thực tế
chưa nhiều nhưng nó cũng tạo ra được một số hình thức chính thể có thể xem xét
và nghiên cứu. Nói chung, tuy tên gọi có thể khác nhau như Công xã Pa-ri, cộng
hòa Xô viết, cộng hòa dân chủ nhân dân… do những điều kiện ra đời khác nhau
nhưng chúng đều có chính thể cộng hòa dân chủ. Tùy thuộc vào từng nhà nước cụ
thể mà trong mỗi chính thể của các nhà nước này, pháp luật có quy định cách thức
và mức độ tham gia của nhân dân vào việc thành lập ra các cơ quan cao nhất của
nhà nước. Các quy định này cũng được ghi nhận ở Hiến pháp của mỗi quốc gia.
2. Về hình thức cấu trúc của nhà nước
Cấu trúc nhà nước là yếu tố có ít thay đổi hơn so với hình thức chính thể và
chế độ chính trị. Sự ổn định này không chỉ diễn ra ở từng nhà nước mà còn đối
với cả các kiểu nhà nước nói chung trong lịch sử. Điều này có được là do sự ổn
định từ chính yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc nhà nước là yếu tố lãnh thổ. Có thể
thấy sự phát triển cấu rúc nhà nước qua các kiểu nhà nước trong lịch sử như sau:
Ở kiểu nhà nước chủ nô, hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là đơn nhất. Bản
thân hình thức cấu trúc đơn nhất cũng rất đơn giản. Về mặt lãnh thổ, ban đầu hầu
hết các nhà nước đều có diện tích tương đối nhỏ và dân cư còn tương đối thưa nên
nhà nước chưa chia lãnh thổ thành các cấp đơn vị hành chính rõ ràng. Chính
quyền trung ương gần như quản lý dân cư trực tiếp hoặc dùng phương thức trung
ương tản quyền, trong đó vua cử người xuống các địa phương thay mặt mình để
giải quyết các vấn đề phát sinh, sau đó báo cáo lại với vua. Về sau, do sự mở rộng
lãnh thổ do chiến tranh, mở rộng đất đai canh tác, phát triển sản xuất… quy mô tổ
chức trở nên phức tạp hơn đòi hỏi nhà nước phải phân chia lãnh thổ thành nhiều
đơn vị hành chính các cấp, cấp dưới trực thuộc cấp trên, địa phương trực thuộc
trung ương gần giống như ngày nay. Tuy nhiên, do điều kiện đi lại khó khăn,
phức tạp, chính quyền trung ương khó kiểm soát được hết các địa bàn nên sự phát
bang có khuynh hướng mở rộng và phát triển với rất nhiều lý do. Đây là thời kỳ
mà các nhà nước tư sản thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược để mở rộng thị
trường đáp ứng cho yêu cầu của các quan hệ hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Sự mở
rộng của các cuộc chiến tranh lan rộng và trở thành những cuộc chiến tranh thế
giới dẫn đến sự liên kết của nhiều nhà nước lại với nhau để tạo sức mạnh vừa để
cạnh tranh về kinh tế, vừa để tạo ưu thế quân sự làm hình thành nên các nhà nước
liên minh và sau đó phát triển thành các nhà nước liên bang. Nhiều nước nhỏ đã
tự thấy việc liên minh như vậy để tạo ra nhà nước liên bang như là một phương
thức để tồn tại và có chỗ dựa để phát triển và được hưởng lợi về ngoại giao,
thương mại… Sự ra đời của nhà nước Hoa kỳ cũng trên cơ sở của sự liên kết giữa
các bang thành viên bắt đầu từ sự liên minh theo điều khoản hợp bang được ký
kết giữa mười ba bang. Sau khi Hiến pháp 1787 được tất cả các nước thành viên
của liên minh này phê chuẩn vào năm 1789, nhà nước liên minh chuyển thành nhà
nước liên bang với sự mở rộng không ngừng bằng cách kết nạp các thành viên
mới hầu hết từ sự tự nguyện. Đến nay, nhà nước này có tới hơn năm mươi bang
và vùng lãnh thổ thành viên. Thực tế mẫu mực này cho thấy sự hình thành và phát
triển của nhà nước liên bang từ cơ sở tự nguyện và xuất phát từ chính lợi ích của
các thành viên không chỉ đem lại lợi ích cho chính họ mà còn tạo ra sự ổn định
cao cả về an ninh quốc phòng, cả về chính trị, kinh tế cho khu vực.
Đối với các nhà nước XHCN, hình thức cấu trúc nhà cũng tồn tại cả hai dạng
đơn nhất và liên bang. Tuy nhiên, các nhà nước liên bang ở các nước XHCN được
hình thành không xuất phát từ sự tự nguyện của các thành viên mà có tính chất
khiên cưỡng. Chủ yếu sự hình thành các nhà nước liên bang là do tạo nên ưu thế
quân sự mà điển hình là Liên xô cũ. Các quốc gia thành viên nhỏ, yếu thế thường
chịu nhiều sự thiệt thòi so với các quốc gia thành viên lớn và có nhiều ưu thế. Đặc
biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước đã bị cưỡng bức vào nhà
nước liên bang nên các nước này càng về sau càng tháy nhiều bất lợi và thiêt thòi
nên có khuynh hướng ly khai khỏi nhà nước liên bang. Để chống lại khuynh
quan đại diện dân cử, được bầu bởi cử tri và thực hiện ba chức năng cơ bản là
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; lập hiến và lập pháp; giám sát tối
cao đối với toàn bộ bộ máy nhà nước. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội
thông qua việc trả lời chất vấn của các đại biểu trong các kỳ họp và một số hoạt
động khác, đồng thời cũng là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
2. Về hình thức cấu trúc
Nhà nước Việt Nam hiện nay có cấu trúc đơn nhất. Theo quy định của Hiến
pháp hiện hành thì các cấp hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được phân chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành
huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành
quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã
chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính cấp dưới
trực thuộc cấp trên, cấp tỉnh trực thuộc trung ương. Chính quyền địa phương có
Hội đồng nhân dân được cử tri địa phương bầu ra theo nhiệm kỳ và Ủy ban nhân
dân có cùng nhiệm kỳ với Hội đồng nhân dân
Ngoài cách xác định về mặt lãnh thổ như vậy để xác định các cấp chính
quyền nhà nước làm cơ sở để phân định thẩm quyền, cấu trúc này ở Việt Nam còn
được thể hiện ở việc chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất được áp dụng chung
cho cả nước. Mặt khác, công dân Việt Nam chỉ chịu sự điều chỉnh của một quy chế
pháp lý chung.
3. Về chế độ chính trị
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện một chính sách
dân chủ rộng rãi. Nhà nước tạo điều kiện cho nhân dân tham gia một cách tích cực
vào tất cả các quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Công dân có thể thực hiện
quyền của mình bằng hai hình thức là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân
chủ đại diện là việc nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua các cơ quan
đại diện dân cử mà mình đã bầu ra là quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Dân
chủ trực tiếp là việc nhân dân tự mình thực hiện quyền lực và có thể xảy ra ở bất
Hình thức bên trong của pháp luật là sự liên kết, sắp xếp của các bộ phận, các
yếu tố cấu tạo nên hệ thống pháp luật. Hình thức bên trong của pháp luật xác định vị
trí, vai trò của các yếu tố hay các bộ phận của pháp luật gồm các chính sách pháp luật,
nguyên tắc pháp lý, các quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật. Giữa
chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chính sách pháp luật và các nguyên
tắc pháp lý giữ vai trò chỉ đạo và định hướng cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Hình
thức bên trong phản ánh khá cơ bản bản chất của pháp luật, vì các chính sách pháp
luật của một nhà nước được thể hiện đầu tiên trong các quan điểm hay nguyên tắc
pháp lý định hướng cho nội dung của pháp luật. Trên cơ sở định hướng của các
nguyên tắc này, toàn bộ hệ thống pháp luật sẽ được hình thành với những biểu hiện cụ
thể ở các cấp độ khác nhau từ ngành luật, chế định pháp luật đến các quy phạm pháp
luật cụ thể.
Ngành luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực
quan hệ xã hội nhất định với phương pháp điều chỉnh tương ứng. Để nhận biết một
ngành luật, có thể dựa vào đối tượng điều chỉnh của nó là loại quan hệ xã hội nào, với
những tính chất gì và dựa vào cách thức được sử dụng để tác động lên các quan hệ xã
hội ấy
Chế định pháp luật là một tập hợp các quy phạm pháp luật để điều chỉnh một
nhóm quan hệ xã hội có tính chất giống nhau hoặc có quan hệ mật thiết với nhau.
Quy phạm pháp luật là quy tắc chung mà các thành viên trong xã hội phải coi là
chuẩn mực để tuân theo trong những phạm vi xác định, là tế bào cấu tạo nên hệ thống
pháp luật. (Xem thêm chương Quy phạm pháp luật)
Hình thức bên trong của pháp luật được coi là cơ sở quan trọng để đánh giá về một
hệ thống pháp luật. Nó có thể phản ánh nội dung, những dấu hiệu cơ bản thuộc về bản
chất của một kiểu pháp luật trong những điều kiện tồn tại nhất định.
2. Hình thức bên ngoài của pháp luật
Những yếu tố cấu tạo nên pháp luật được thể hiện dưới những hình thức cụ thể
chỉ ra pháp luật được hình thành bằng cách nào, đồng thời cho biết căn cứ pháp lý trực
tiếp để áp dụng pháp luật được gọi là hình thức bên ngoài của pháp luật. Đó là những
phương thức tồn tại và cách thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, chứa đựng
tập quán pháp vừa hình thành chậm, vừa có tính bảo thủ và rất khó thay đổi nên nó
không phải là hình thức có thể đáp ứng linh hoạt các yêu cầu của cuộc sống
Bên cạnh đó, còn có cách gọi khác đối với hình thức này là tục lệ pháp (droit
coutumier) như quan điểm của giáo sư Vũ Văn Mẫu đã trình bày trong cuốn Luật học
đại cương (Sài gòn 1972).1
Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các phán quyết của các chủ
thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể được nhà nước thừa nhận làm
khuôn mẫu cho việc giải quyết các vu việc tương tự về sau.
Sự phát triển mau chóng của đời sống kinh tế xã hội luôn đòi hỏi sự điều chỉnh
kịp thời. Tuy nhiên, không phải bao giờ nhà nước cũng kịp ban hành các quy phạm
mới để đáp ứng nhu cầu đó nên tiền lệ pháp đã hình thành. Do được hình thành nhanh,
thủ tục gọn lại có tính xác định cụ thể nên hiện nay tiền lệ pháp được khá nhiều quốc
gia sử dụng, đặc biệt là ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Common Law. Tuy
nhiên, do có nguồn gốc từ hoạt động của các cơ quan không có chức năng xây dựng
hay sáng tạo pháp luật nên tính chất pháp lý của chúng không cao. Mặt khác, sự phụ
1
1. Vũ Văn Mẫu, Luật học đại cương, Sài gòn, 1972, trang 11
thuộc vào các chi tiết của vụ việc trước sẽ làm hạn chế phần nào tính linh hoạt của các
chủ thể áp dụng do tính bất di bất dịch của tình huống mẫu trong các vụ việc đã được
giải quyết. Ngược lại, cũng có thể xảy ra trường hợp khi áp dụng tiền lệ pháp, người ta
có thể suy diễn làm cho các tình tiết của phán quyết mẫu không còn đúng như ý nghĩa
ban đầu khi đối chiếu với các tình tiết của vụ việc cần áp dụng. Tiền lệ pháp được sử
dụng phổ biến hơn trong các quan hệ dân sự, đặc biệt là trong các quan hệ thương mại
do xu thế hội nhập của nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc sử dụng hình thức pháp
luật này nhiều hay ít còn phụ thuộc truyền thống của các nền văn minh pháp lý, trong
đó có các vấn đề về trình tự và thủ tục tố tụng là vấn đề khá phức tạp mà người áp
dụng có thể gặp phải.
được thể hiện ở hình thức bên ngoài như tập quán pháp, tiền lệ pháp hay văn bản quy
phạm pháp luật. Và như vậy, nội dung của phần này chỉ xá định nguồn của pháp luật
theo nghĩa thứ hai và đồng nghĩa với hình thức bên ngoài của pháp luật.
III. Việc sử dụng các hình thức (nguồn) của pháp luật trong các kiểu pháp
luật
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình với bốn kiểu pháp luật, hình thức
(nguồn) của pháp luật được sử dụng ở các mức độ khác nhau do những điều kiện kinh
tế- xã hội và những truyền thống pháp lý cũng như sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hệ
thống pháp luật. Việc sử dụng đó có thể thấy được qua các kiểu pháp luật như sau:
1. Hình thức pháp luật ở kiểu pháp luật chủ nô
Ở kiểu pháp luật này, hình thức pháp luật pháp luật đã được thể hiện một cách khá
đầy đủ với ba hình thức chủ yếu là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy pháp
luật. Tuy nhiên, ở những giai đoạn khác nhau, mức độ sử dụng hình thức pháp luật
nào nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của mỗi hình thức cũng như thái độ
của nhà cầm quyền.
Đối với hình thức tập quán pháp, nhà nước chủ nô sử dụng hình thức này một cách
khá phổ biến, thậm chí còn đươc coi là hình thức chủ yếu ở thời kỳ đầu của nhà nước
này. Điều này khá dễ hiểu vì đây là thời kỳ chữ viết còn rất hạn chế, việc sử dụng các
vật liệu cho sự thể hiện pháp luật thành văn (bảng đồng, bia đá, da súc vật, đất
nung…) khá tốn kém. Mặt khác, đây là hình thức phù hợp với trình độ lập pháp ở thời
kỳ này và cũng thuận lợi cho nhà cầm quyền khi áp dụng có thể tùy tiện.
Đối với hình thức tiền lệ pháp, nhà nước chủ nô cũng đã bắt đầu có ý thức sử dụng
hình thức này. Tuy nhiên mức đọ còn khá khiêm tốn. Các chủ thể có thẩm quyền
trong quá trình thực thi quyền lực có tạo ra những phán quyết thể hiện ý chí của mình.
Họ coi đó là những phán quyết mẫu mực và buộc việc giải quyết các vụ việc về sau có
nội dung tương tự phải lấy đó làm chuẩn mực. Các phán quyết này chủ yếu tồn tại
dưới dạng lời nói nên lúc đó có thể coi là hình thức pháp luật khẩu truyền. Tất nhiên,
điều đó sẽ bị lợi dụng để việc áp dụng có thể dễ dàng cho người áp dụng trở nên tùy
sau.
2. Hình thức pháp luật (nguồn) của pháp luật phong kiến
Do hình thành gắn liền với tình trạng phân quyền cát cứ nên pháp luật phong kiến
thiếu tính thống nhất do cùng một lúc tồn tại pháp luật của chư hầu cùng pháp luật của
chính quyền trung ương, đặc biệt là thời kỳ đầu. Mặt khác, nhiều khi pháp luật là sự
tập hợp các tập quán ở các địa phương nên nó mang tính tản mạn, tương ứng với nền
sản xuất nhỏ, manh mún. Hình thức pháp luật được sử dụng phổ biến là tập quán pháp
nên pháp luật có tính cục bộ, được hình thành một cách tự phát, chậm chạp lại có tính
bảo thủ, rất khó thay đổi nên hiệu quả tác động thấp. Thời kỳ phong kiến, nước Pháp
tồn tại hơn 300 hệ thống luật tập quán của các địa phương, ở Đức cũng có một tập hợp
các tập quán được ghi chép lại, còn ở Việt Nam, câu tục ngữ “ phép vua thua lệ làng”
cũng phản ánh vai trò đặc biệt lớn của tập quán pháp. Để hạn chế điều này, các nhà
nước phong kiến đã ban hành khá nhiều các văn bản quy phạm pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ xã hội và vì vậy đã có một số bộ luật lớn được ban hành để áp dụng
chung cho cả nước, nhất là vào thời kỳ nhà nước trung ương tập quyền. Tuy nhiên,
việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện bởi một trình độ kỹ
thuật pháp lý còn rất nhiều hạn chế như kỹ thuật pháp điển hoá, việc phân chia các
ngành luật, kỹ thuật xây dựng các quy phạm cụ thể... Nhiều khi phần giả định của quy
phạm giống như là sự mô tả một tình tiết có thật đã từng xảy ra giống như một tình
huống được mô tả trong một án lệ.
Bên cạnh hai hình thức pháp luật trên, hình thức tiền lệ pháp cũng được một số nhà
nước phong kiến sử dụng một cách phổ biến, đặc biệt là ở nước Anh. Việc áp dụng
tiền lệ pháp là cơ hội cho phép bọn địa chủ, quan lại phong kiến trở nên tuỳ tiện khi
giải quyết các vụ việc theo ý muốn chủ quan của chúng. Trong một số quốc gia, do
vai trò đặc biệt quan trọng của tôn giáo mà nhà nước sử dụng các tín điều tôn giáo một
cách trực tiếp tương tự như pháp luật mà điển hình là các quốc gia Hồi giáo
Muxulman.
Một hình thức pháp luật tồn tại khá phổ biến trong pháp luật phong kiến là hình
mẫu mực và được thừa nhận làm khuôn mẫu để giải quyết các vấn đề mới phát sinh
mà văn bản quy phạm không thể được ban hành kịp để điều chỉnh. Mặt khác, như ở
Anh, người ta nghi ngờ về những đạo luật do nhà vua ban hành nên văn bản quy phạm
không phải là hình thức được coi trọng. Hình thức tiền lệ pháp trở thành nguồn quan
trọng của các quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law mà điển hình là Anh và
Hoa kỳ. Có thể coi đây là một đóng góp của pháp luật tư sản về phương diện kỹ thuật
pháp lý góp phần tạo nên một sự hoàn thiện pháp luật qua việc khắc phục những hạn
chế của pháp luật thành văn cùng với sự thừa nhận những nguyên tắc công bằng, công
lý có điều kiện được thực thi mà không phụ thuộc vào nhà cầm quyền. Điều đó đã
được chứng tỏ qua thời gian, các án lệ- một dạng của tiền lệ pháp- không những
không mất đi giá trị của chúng mà ngược lại nó càng ngày càng được tôn trọng và
phát huy tác dụng của chúng đối với việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Việc sử dụng
nguồn pháp luật này rất ít có sự kháng cáo, kháng nghị vì nó thường được chấp thuận
bởi những người bị hoặc được phán quyết do sự tin tưởng của họ và phán quyết mẫu
đã được thử thách và kiểm chứng qua thời gian. Ngày nay, do xu hướng hội nhập và
quốc tế hóa, nhiều nhà nước đã chấp nhận sử dụng nguồn pháp luật quan trọng này
ngày càng nhiều hơn, kể cả những nước có truyền thống sử dụng văn bản như ở châu
Âu lục địa.
Đối với hình thức văn bản quy phạm pháp luật, trong pháp luật tư sản thì đây là
hình thức được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là ở các nước thuộc châu Âu lục địa.
Do kỹ thuật pháp điển hóa được sử dụng một cách khá nhuần nhuyễn từ truyền thống
mà nhiều bộ luật quan trọng đã ra đời với một vai trò đặc biệt lớn và trở thành nguồn
pháp luật chủ yếu ở nhiều nước. Không chỉ vậy, ngay cả đối với những nước có
truyền thống sử dụng tiền lệ pháp cũng tiếp nhận một cách chủ động và khá tích cực
khuynh hướng sử dụng loại nguồn này. Có những bộ luật quan trọng có ảnh hưởng rất
lớn không chỉ đối với một quốc gia mà còn đối với nhiều quốc gia khác mà điển hình
là bộ luật dân sự của Pháp được mang tên hoàng đế Napoleon. Chúng được nhiều nhà
nước tiếp nhận như một nguồn pháp luật chính thức của chính mình. Việc sử dụng
pháp lý nào xác định là nguồn cho các hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật. Nó
chủ yếu mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu về khả năng áp dụng trong điều kiện hiện
nay để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế toàn diện.
Về hình thức tập quán pháp, hiện nay pháp luật Việt Nam dành cho loại nguồn này ở
một vị trí khiêm tốn và chỉ coi như một hình thức pháp luật bổ sung khi văn bản quy
phạm pháp luật còn thiếu. Nó có thể được xác định một cách gián tiếp, ví dụ như tại
điều 3 của Bộ luật dân sự 2005 là: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và
các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không có tập quán thì
áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp
luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này.” hoặc xác định
nguồn trực tiếp như quy đinh tại khoản 4, điều 625 của Bộ luật này: “Trong trường
hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi
thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.” Có thể khẳng
định rằng, tập quán pháp vẫn hoàn toàn là cần thiết và còn tiếp tục phát huy những giá
trị tích cực của nó trong đời sống, không chỉ là một nguồn quan trọng bổ sung cho sự
khuyết thiếu của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà còn là một cơ sở cho sự bảo
tồn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Hình thức văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay vẫn tiếp tục giữ vai
trò chủ đạo trong hệ thống pháp luật. Hình thức này được thể hiện ở một hệ thống các
văn bản quy phạm pháp luật được xác định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2004) và Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật (năm 2008). Nói chung, hình thức này đã có một sự tiến
bộ rất đáng kể qua rất nhiều lần hoàn thiện, được ban hành với một chất lượng ngày
càng cao, kỹ thuật pháp lý tốt, đặc biệt là các văn bản có giá trị pháp lý cao như Hiến
pháp và các đạo luật lớn nên đã đóng góp một phần rất quan trọng vào việc thực hiện
mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN với yêu cầu các quan hệ xã hội cơ
bản phải được điều chỉnh bằng các đạo luật. Chính vì nó là nguồn pháp luật chủ yếu ở
Việt Nam nên việc áp dụng pháp luật chủ yếu cũng là áp dụng các văn bản quy phạm
pháp luật. Do vậy cần xác định hiệu lực của nguồn luật này.
2. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản có thể không chấm dứt toàn bộ hiệu lực trong trường hợp nó chỉ bị sửa đổi,
thay thế hay bãi bỏ từng phần. Phần còn lại của nó vẫn tiếp tục có giá trị áp dụng như
những trường hợp thông thường khác.
Văn bản bị ngưng hiệu lực khi có quyết định của chủ thể có thẩm quyền cho tạm
dừng việc áp dụng văn bản đó cho đến khi có quyết định khôi phục lại hiệu lực của
chúng. Nhưng cũng có thể chúng sẽ mất hiệu lực luôn sau khi khi bị xác định là văn
bản trái pháp luật. Khi đó, thường sẽ có một quyết định huỷ bỏ hoặc bãi bỏ của chủ
thể có thẩm quyền.
Văn bản còn có hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố). Hiệu lực trở về trước của
văn bản được hiểu là giá trị tác động của văn bản đối với những vụ việc xảy ra trước
khi văn bản đó có hiệu lực. Việc lấy văn bản mới để áp dụng cho các vụ việc như vậy
phải có những điều kiện là nó phải được pháp luật quy định và việc áp dụng đó không
gây ra tình trạng bất lợi cho người bị áp dụng.
Hiệu lực theo không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giá trị tác động của
văn bản lên các quan hệ xã hội xảy ra được xác định theo phạm vi lãnh thổ, vùng hay
khu vực.
Hiệu lực theo không gian của văn bản thường được văn bản tự xác định hoặc được
xác định theo thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản. Theo đó, thông thường các
văn bản do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành có hiệu lực trong phạm vi toàn
lãnh thổ. Còn các văn bản do cơ quan nhà nước ở địa phương nào ban hành sẽ có hiệu
lực trên phạm vi địa phương đó.
Tuy nhiên, việc xác định hiệu lực về mặt không gian của văn bản không chỉ thuần
tuý dựa vào những căn cứ trên mà cần phải chú ý đến mối quan hệ giữa nó với các văn
bản khác hoặc xem xét trong mối quan hệ với đối tượng tác động.
Trường hợp chia tách hoặc sáp nhập các đơn vị hành chính lãnh thổ thì hiệu
lực của văn bản thường được xác định theo phần lãnh thổ trước khi được chia tách
hoặc sáp nhập cho đến khi đơn vị hành chính mới ban hành văn bản thay thế.
Hiệu lực theo đối tượng tác động là giá trị tác động của văn bản lên các quan hệ
pháp luật lại càng có vai trò quan trọng trong các hoạt động của nhà nước và của xã
hội. Đó là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền để
đưa ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước và trở thành hệ thống chuẩn mực
chung cho toàn xã hội.
Xây dựng pháp luật- cũng có thể hiểu là hoạt động ban hành pháp luật – được thực
hiện qua hai loại hoạt động chủ yếu là lựa chọn các quy phạm xã hội có sẵn như các
quy tắc đạo đức, tập quán… phù hợp với yêu cầu của nhà nước để nâng chúng lên
thành các chuẩn mực pháp lý và đặt ra các quy phạm mới để điều chỉnh các quan hệ
mới hoặc có thể sẽ phát sinh. Kết quả của những hoạt động này sẽ tạo ra một hệ thống
nguồn (cơ sở pháp lý) cho các hoạt động của xã hội và của chính nhà nước. Hoạt động
xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là ban hành ra các văn bản quy
phạm pháp luật.
Căn cứ pháp lý cho các hoạt động này hiện nay là Hiến pháp 1992 và hai văn bản
luật là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân năm 2004 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, trong đó
xác định các vấn đề liên quan đến xây dựng pháp luật gồm các loại văn bản quy phạm
pháp luật, thẩm quyền ban hành, nguyên tắc và trình tự thủ tục ban hành, kiểm tra,
giám sát hoạt động ban hành văn bản đồng thời với việc xử lý các văn bản quy phạm
trái pháp luật... Căn cứ thực tế là các yêu cầu cũng như điều kiện kinh tế- xã hội và
yếu tố thời đại. Việc xây dựng pháp luật về căn bản phải dựa vào các căn cứ nêu trên
nếu muốn tạo ra được một hệ thống pháp luật vừa toàn diện, đồng bộ, vừa phù hợp
với các điều kiện khách quan của đời sống xã hội. Do vậy, các chủ thể xây dựng pháp
luật phải là những người chủ động xem xét các yêu cầu của đời sống xã hội, nhận thức
các quy luật vận động của kinh tế, đánh giá đúng tình hình thế giới có ảnh hưởng đến
Việt Nam để tạo ra các chuẩn mực cần thiết đảm bảo cho việc điều chỉnh pháp luật đạt
hiệu quả cao. Điều đó chỉ có thể đạt được khi nó tuân theo các nguyên tắc cơ bản chỉ
đạo và các quy trình nhất định.
2. Nguyên tắc xây dựng pháp luật ở Việt Nam
Nguyên tắc xây dựng pháp luật là những quan điểm, tư tưởng khoa học và xuất phát
từ bản chất của chế độ, có ý nghĩa chỉ đạo, bao trùm toàn bộ quá trình tạo ra các văn
c. Nguyên tắc khoa học
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình xây dựng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền
phải đảm bảo được yêu cầu của một hệ thống pháp luật hiện đại. Đó là sự hợp lý về cơ
cấu, chặt chẽ về nội dung, rõ ràng, mạch lạc trong cách trình bày, có tính liên thông
giữa các văn bản tạo nên sự thống nhất, hiệu quả cho cả hệ thống và thuận tiện cho
việc áp dụng, tra cứu, đối chiếu, kiểm tra. Do đó, hoạt động xây dựng pháp luật phải
dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại, nhất là khoa học pháp lý. Nguyên tắc
này còn đảm bảo cho tính khả thi của pháp luật trên thực tế.
d. Nguyên tắc dân chủ
Đây là nguyên tắc xuất phát từ bản chất của chế độ XHCN mà nhà nước đang theo
đuổi thực hiện cũng như việc phát huy trí tuệ của nhân dân và tạo nên sự đồng thuận
xã hội cao trong việc thực hiện pháp luật sau này. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự
tham gia rộng rãi của nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật từ khâu xây dựng kế
hoạch cho đến khâu xây dựng dự thảo, góp ý kiến, thẩm định, đánh giá tác động mà
đặc biệt là hoạt động phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật, qua đó mà cho nhân dân được biết sự cần thiết cũng như nội dung của vấn đề mà
pháp luật đã đặt ra.
e. Nguyên tắc pháp chế
Đây là nguyên tắc có ý nghĩa bảo đảm tính hợp pháp, chặt chẽ của hệ thống pháp
luật nói chung và của từng văn bản quy phạm pháp luật nói riêng. Nguyên tắc này đòi
hỏi quá trình xây dựng pháp luật phải thừa nhận và tôn trọng tính tối cao của Hiến
pháp, trong đó các chủ thể phải ban hành văn bản quy phạm theo đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, có nội dung phù hợp với Hiến pháp và các văn bản có hiệu lực cao
hơn để tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản, thậm chí vô hiệu hóa lẫn
nhau. Việc kiểm tra, giám sát để phát hiện và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật
sai trái là hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên.
f. Nguyên tắc đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa các lực lượng và thành
phần xã hội.
pháp luật hiểu được tại sao pháp luật lại quy định như vậy để có ý thức tự giác hơn
trong việc thực hiện pháp luật sau này.
d. Thẩm định dự thảo
Thẩm định dự thảo là hoạt động có tính chuyên sâu, bảo đảm cho văn bản được
ban hành vừa có tính hợp lý, vừa có tính hợp pháp, đặc biệt nó có thể giúp cho việc