BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ NHỮNG NGÔI MỘ GIÓ TRÊN ĐẢO LÝ SƠN- QUẢNG NGÃI - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảo Lý Sơn (còn có tên gọi là Cù Lao Ré) là huyện đảo duy nhất của tỉnh
Quảng Ngãi. Đảo nằm ở phía Đông Bắc, cách đất liền 15 hải lý. Đảo Lý Sơn được
coi là cửa ngõ ra Hoàng Sa. Đây cũng được coi là một bảo tàng sống động về lịch
sử chủ quyền Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, cùng với một hệ
thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và đa dạng với nhà thờ họ,
đình làng, các lăng, lân, Âm linh tự, mộ gió… có nhà, thác có mồ có mả” vì vậy,
tang lễ cho người chết, xây cất mồ mả, cún
Quan niệm của người Việt , “sống có cửa g giỗ linh hồn người mất được xem
là phần không thể thiếu được trong đời sống. Người dân vùng biển do sống ở một
môi trường khắc nghiệt hơn, nơi người chết không phải lúc nào cũng tìm được thi
thể nên phổ biến một tập tục, đó là những người bị nạn trên biển, không tìm được
thi thể thì phải làm mộ gió, dựng cây tre đầu làng, trên cây tre buộc mảnh vải trắng
(nhìn như cây nêu) với niềm tin là gọi hồn người chết trở về nhập vào ngôi mộ.
Tục đắp mộ gió, táng hình nhân thế mạng phổ biến nhiều vùng trên đất nước
ta, nhưng không đâu nhiều bằng huyện đảo Lý Sơn . Bởi ở đây ngoài những ngôi mộ
gió của ngư dân bị gặp thiên tai, tai nạn mất xác trên biển còn có những quân binh
các đội Hoàng Sa, Trường Sa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ . Ở Lý Sơn, bãi tha ma
nào cũng có mộ gió, thậm chí vì đất chật người ta còn đắp cả mộ ở góc ruộng tỏi,
góc vườn hay góc sân nhà…
Mộ gió ở Lý Sơn gắn liền với tục cúng “Khao lề thế lính”, một lễ thức của cư
dân vùng biển với tín ngưỡng thờ chiến sĩ trận vong, ở đây là những người lính đi
làm nhiệm vụ ở đảo Hoàng Sa thuở trước:
Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Đề tài mộ gió được viết khá nhiều, nhưng không phải từ góc độ nghiên cứu
khoa học. Những bài viết về đề tài này hầu hết mới chỉ dừng lại ở mức độ một bài
báo, hoặc một phóng sự nhiều kỳ. Lựa chọn đề tài:” Những ngôi mộ gió ở Lý Sơn”
làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp, tôi muốn đưa đến một cái nhìn toàn diện, bao
quát về mộ gió từ lịch sử, thời gian hình thành, nguyên nhân lập mộ gió, cách thức

tinh thần của cư dân trên đảo, ngoài ra còn chú trọng so sánh với các ngôi mộ ở các
vùng ven biển khác để thấy được sự khác biệt của những ngôi mộ gió ở Lý Sơn.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ khi người dân trên đảo có tục đắp mộ gió (cách đây 200
năm cho đến ngày nay)

2


- Về không gian: Huyện đảo Lý Sơn và một số vùng ven biển Việt Nam nơi
có tục đắp mộ gió.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi tích
cực tìm các tài liệu , bài báo tạp chí, internet đã xuất bản có liên quan đến vấn đề
mộ gió, mộ chiêu hồn để đọc, phân tích từ đó đưa ra các lập luận và nhận xét góp
phần làm cho đề tài được khoa học, chặt chẽ và hấp dẫn hơn. Bên cạnh đó tôi đã
tiến hành điền dã, khảo sát, thống kê những ngôi mộ gió ở Lý Sơn cũng như tiến
hành phỏng vấn người trực tiếp tham gia lập mộ gió và những người trong gia đình
có mộ gió.
- Phương pháp phân tích và so sánh tài liệu.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện đảo Lý Sơn
Chương 2: Mộ gió, mộ chiêu hồn và nghi thức liên quan.
Chương 3: Di tích liên quan đến đội Hoàng Sa và ngư dân đánh bắt ở Hoàng
Sa trên đảo Lý Sơn
Kết luận

3

Đảo Bé, còn gọi là Cù Lao Bờ Bãi, trước đây là thôn Bắc thuộc xã An Vĩnh,
nay là xã An Bình, nằm cách đảo lớn khoảng 5km về phía Tây Bắc.
Phía Đông Nam đảo lớn có hòn Mù Cu, cách bờ chừng 500m, nơi đây chỉ là
những bãi đá nhô cao, và chỉ có duy nhất loài cây Mù cu sinh sống. Hòn Mù Cu nhỏ
hẹp, không có người ở. Hiện nay, tại đây người ta lợi dụng sự che chắn sóng biển từ
1

Theo cách lý giải dân gian là Cù lao có nhiều cây Ré. Một loại cây họ gừng, mọc hoang.

4


phía Đông Nam của hòn Mù Cu để xây dựng vũng neo đậu tàu thuyền của ngư dân
trên đảo.
Huyện đảo Lý Sơn có được diện mạo như ngày này là kết quả của quá trình
đấu tranh lâu dài, không mệt mỏi của con người khắc phục những khó khăn, tận
dụng những nguồn lợi sẵn có từ thiên nhiên, khai thác, cải tạo để phục vụ cho cuộc
sống của mình.
Địa hình ở khu vực phía Nam Đảo Lớn cao hơn so với mực nước biển 2030m, độ dốc nhỏ hơn 8 độ, bậc thềm chân núi có độ dốc từ 8-15, được người dân
khai thác để trồng hành, tỏi.
Hệ thống năm ngọn núi trải dài bờ biển phía Bắc tựa như bức tường thành
chắn gió mùa Đông Bắc vào mùa đông cho người dân sinh sống ở phía Nam Đảo.
Huyện Lý Sơn chịu tác động của gió mùa nên có hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 3
đến tháng 8. Vào mùa mưa, biển động, tàu khó ra khơi, ảnh hưởng đến nghề đi biển
của người dân.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện đảo là 800ha trong đó đất nông nghiệp
chiếm hơn 400ha. Đất lâm nghiệp chiếm 182ha, đất chưa sử dụng là 218ha… Đất
nông nghiệp trên đảo được canh tác theo hai dạng: cây hoa màu là 383ha chủ yếu
canh tác hành, tỏi, lạc, đậu, bắp… và 17 ha trồng cây ăn quả. Đất là tài nguyên quan

cảng Dung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai.
1.1.2. Lịch sử đảo Lý Sơn
Từ kết quả khai quật khảo cổ tại các di chỉ Xóm Ốc và suối Chình – nơi có
hai dòng suối cổ đã cạn trên đảo và những hiện vật - công cụ lao động bằng đá do
giáo sư Diệp Đình Hoa phát hiện ở khu vực núi Giếng Tiền, xã An cho thấy trên
đảo Lý Sơn đã có người sinh sống, cách ngày này chừng 2500 – 3000 năm (tương
ứng với văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh). Dấu tích văn hóa Champa sớm và
Champa phát triển (từ thế kỷ I đến thế kỷ XIII,XIV) cũng khá dày trên đảo. Cư dân
thuộc văn hóa Sa Huỳnh sống quần cư dọc theo hai bên bở suối Chình, kinh tế chủ
yếu là khai thác biển, món ăn chủ yếu là sò và cá. Họ để lại trong khu cư trú một
lớp vỏ ốc dày 1,5m. Họ cũng làm nông nghiệp. Bộ công cụ canh tác nông nghiệp và
chế biến nông sản như cuốc đá, rìu đá, bàn nghiền đã chứng mình điều đó.
Kế tục văn hóa Sa Huỳnh là văn hóa Champa phát triển từ những thế kỷ đầu
Công nguyên. Vết tích văn hóa của họ được để lại qua dấu tích văn hóa chứa trong
tầng văn hóa lớp trên của di chỉ Xóm Ốc và suối Chình. Đó là những hạt cườm bằng
thủy tinh bầu dục dẹt, những đồ trang sức bằng đồng, bình hình trứng đáy nhọn và

6


nhiều đồ gốm Chăm thô và mịn khác. Hiện vật Champa ở đây rất giống với những
hiện vật tìm thấy trong các tầng văn hóa Trà Kiệu ( Duy Xuyên, Quảng Nam) từ
sớm đến muộn. Những di tích khác mang dấu ấn Champa còn có miếu bà Lồi, chùa
Hang, dinh Bà Trời, giếng Vuông. Cư dân Champa sống bằng kinh tế khai thác
biển, buôn bán biển và trồng rau củ, hoa màu…
Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, những cư dân Việt sinh sống ở ven biển
Sa Kỳ là làng An Hải (nay thuộc xã Bình Châu – huyện Bình Sơn) và làng An Vĩnh
(nay thuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn Tịnh) đã di cư ra đảo sinh sống. Theo ghi chép
của một số dòng họ trên đảo thì người Việt ra đảo đầu tiên khoảng những năm 1604
-1610, đã có 15 người từ đất liền ra đảo và phân chia ranh giới khai thác, cứ trú và

lập nên những mái nhà gồm hai, ba lớp, cửa bàn khoa cùng với rầm thượng, rầm hạ
để cất giấu của cải.3
Trong lịch sử, đảo Lý Sơn có tên gọi là Cù Lao Ré. Chữ Cù Lao được việt
hóa từ chữ Pulau của ngôn ngữ Malayo-Polynesien, có nghĩa là đảo, chữ Ré là tên
dân gian, tương truyền xưa đảo có nhiều cây ré nên dân gian gọi là Cù Lao Ré. Tài
liệu xưa nhất về Lý Sơn là toàn lộ đồ thư tập “Thiên nam tứ chí lộ đồ thư ” (1630)
của Đỗ Bá đã gọi Cù Lao Ré là Du Trường Sơn. Đến năm 1831, trong An Nam Đại
Quốc Họa Đồ giáo sĩ L.Tabord đã gọi Lý Sơn là Poulo Canton.
Về mặt hành chính, đảo Lý Sơn gọi là Cù Lao Ré, gồm hai phường An Vĩnh
và An Hải. Đời vua Gia Long 1808. Lý Sơn đặt thành tổng gọi là tổng Lý Sơn. Đời
vua Đồng Khánh, hai phường An Hải và An Vĩnh thuộc tổng Bình Hà huyện Bình
Sơn về sau đặt lại là tổng Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi có một viên Bang tá
cai trị. Phường An Hải đổi thành xã Hải Yến, phường An Vĩnh đổi thành xã Vĩnh
Long.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đảo Lý Sơn đổi thành tổng Trần Thành
gồm hai xã Dương Xạ (Hải Yến cũ) và xã Vĩnh Long. Năm 1946 tổng Trấn Thành
đổi thành xã Lý Sơn trực thuộc huyện Bình Sơn. Năm 1951, quân Pháp đánh chiếm
đảo Lý Sơn và thành lập một khu hành chính thuộc thành phố Đà Nẵng. Từ năm
1945 đến 1975, chính quyền Sài Gòn chia Lý Sơn thành hai xã Bình Vĩnh và Bình
Yến thuộc huyện Bình Sơn. Sau ngày giải phóng hai xã vẫn giữ nguyên tên gọi cũ,
ngày 01.01.1993 huyện Lý Sơn được thành lập gồm hai xã Lý Hải và Lý Vĩnh. Đến
năm 2003 tên các xã của huyện được đổi thành An Vĩnh và An Hải, xã An Hải gồm
các thôn: thôn Tây, thôn Đông, thôn Bắc (đảo Bé) sau này do đặc thù của một hòn
đảo tách biệt với đảo lớn và có vị trí quan trọng nên thôn Bắc được tách ra thành
đơn vị hành chính cấp xã, gọi là xã An Bình.
Do nằm ở vị trí án ngữ cửa biển Sa Kỳ - Quảng Ngãi nên đảo Lý Sơn có tầm
quan trọng về quân sự. Từ giữa thế kỷ XVII Bắc quân đô đốc Bùi Tá Hán trên
đường đem quân nhà Lê Trung Hưng vào đánh dẹp nhà Mạc, lấy lại vùng thừa
3 Dẫn theo cuốn “Văn hóa truyền thống đảo Lý Sơn”, tr.24.


trở thành đặc sản của Lý Sơn nhưng do quy trình cải tạo đất đòi hỏi phải có đất cát
vôi trắng để cho năng suất cao, nhưng nguồn cát này hầu như đã cạn kiệt nên sản
xuất nông nghiệp ở Lý Sơn gặp rất nhiều khó khắn và phát triển không bền vững.

9


Chăn nuôi: chủ yếu là bò, dê, lợn, gà, vịt nhưng chưa hình thành trang trại
chăn nuôi tập trung quy mô như các huyện khác mà chủ yếu là chăn nuôi theo hình
thức hộ gia đình. Số lượng gia súc, gia cầm năm 2010 của huyện là 6.000 con.
Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện quyết định thu nhập của hơn
50% cư dân của huyện, sản lượng khai thác chiếm gần 1/3 tổng sản lượng khai thác
của toàn tỉnh nhưng chủ yếu tập trung lĩnh vực khai thác thủy sản nước mặn với các
hình thức như: lặn, câu, lưới cước, lưới trủ, lưới ru, vây ngày, vây đêm, rút chì,
chong đèn… mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2009
đạt 24.938 tấn, tăng gấp gần 5 lần so với năm 1993. Quý 1 năm 2013, Lý Sơn giá trị
sản xuất ngành thủy sản đạt 52.486 triệu đồng. Hiện nay huyện có 419 chiếc tàu
thuyền, tổng công suất 43,372 CV, tổng số lao động trực tiếp trên biển là 3.003
người (trong đó có 158 tàu đánh bắt xa bờ, khai thác chủ yếu trên vùng biển Hoàng
Sa và Trường Sa). Theo ông Võ Xuân Huyện, Bí thư Huyện ủy Lý Sơn, từ nay đến
năm 2015, huyện Lý Sơn sẽ tập trung phát triển kinh tế biển. Cụ thể vận động nhân
dân cải hoán, đóng mới tàu thuyền, vươn ra biển đánh bắt hải sản dài ngày. Với mục
tiêu vừa sản xuất, vừa tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển. Ngoài kinh tế
ngư nghiệp và nông nghiệp, người dân trên đảo còn làm nghề chế biến hải sản, dịch
vụ thương nghiệp. Xưa ở Lý Sơn do nhu cầu lương thực, thực phẩm và các nhu yếu
phẩm khác phục vụ cho đời sống của nhân dân trên đảo nên đã xuất hiện giao
thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa Lý Sơn với đất liền qua phương tiện ghe
bầu, người Lý Sơn rất giỏi nghề đi biển và kỹ thuật đóng ghe bầu. Hiện nay, dịch vụ
mua bán trên đảo đang phát triển khá mạnh, chủ yếu là các dịch vụ nghề cá, mua
bán ngư cụ, và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân.

2005, đến năm 2008 còn 77,96%, dự báo đến năm 2010 giảm xuống còn 76,46%.
Lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng chiếm một phần rất nhỏ và biến
động không đều: năm 2000 chiếm 9,2%, đến năm 2005 giảm xuống còn 6,75% và
tăng lên 7,3% vào năm 2008, dự báo đến năm 2010 chiếm khoảng 8,82% tổng số
lao động trong các ngành kinh tế quốc dân của toàn huyện. Lao động dịch vụ tăng
tương đối nhanh từ 5,18% năm 2000 lên 13,19% năm 2005 và đạt 14,69% năm
2008, dự báo đến năm 2010 lao động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm 14,71% tổng số
trong các ngành kinh tế quốc dân của huyện.
Đây là một yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
huyện bởi vấn đề lao động tại chỗ cơ bản được giải quyết. Bình quân hàng năm
huyện giải quyết 200 việc làm mới cho lao động và giải quyết việc làm ổn định cho
1729 lao động. Tuy nhiên, chất lượng lao động cũng là vấn đề lớn đặt ra với huyện
khi hiện tại có 87,3% số lao động là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ

11


yếu lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Số người đi biển ngày
càng nhiều.
1.1.4.Con ngƣời Lý Sơn
Nguồn gốc của cư dân ngày nay trên đảo Lý Sơn là những người nông dân
vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh di cư vào Quảng Ngãi và ra đảo Lý Sơn từ những năm
đầu thế kỷ XVII. Bước đầu tạo lập cuộc sống trên đảo với nhiều khó khăn, bất chắc
và nguy hiểm, sống xa quê hương, xa bản quán, và hầu như rất ít giao lưu với các
địa phương khác, đời sống kinh tế còn mang nhiều tính tự cấp, tự túc. Nhưng trải
qua trên 400 năm khai phá và xây dựng, bao thế hệ người Lý Sơn đã biết gìn giữ,
vun đắp, thành quả của cha ông để xây dựng nên một Lý Sơn giàu truyền thống lịch
sử và văn hóa.
Con người Lý Sơn cần cù và sáng tạo trong lao động, sống trong môi trường
biển đã biết đóng ghe bầu để đi biển và giao lưu thương mại với các địa phương

trách quan trọng là vượt biển ra Hoàng Sa để khai thác sản vật, đo đạc và cắm mốc
thủy trình, bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo này. Lịch sử Lý Sơn gắn
liền với quá trình bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa. Theo nguồn
thư tịch cổ như “Phủ biên tạp lục”, “Đại Nam thực lục tiền biên”, “Đại Nam nhất
thống chí” đều có ghi chép về đội Hoàng Sa. “Phủ biên tạp lục” của Lê Qúy Đôn
năm 1776 đã ghi chép cụ thể về việc chúa Nguyễn phiên đặt những tráng dân ở Lý
Sơn để thành lập đội Hoàng Sa đi khai thác sản vật:
- “Ở ngoài Cù Lao Ré có đảo Đại Hoàng Sa,ngày trước nơi đây thường sản
xuất nhiều hải vật đi bán ở các nơi, nên Nhà nước có thiết lập một đội Hoàng Sa để
thu nhận cái hải vật, người ta phải đi ba ngày, ba đêm mới tới được đảo”
- “Ngày trước họ Nguyễn có thể đi lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất lấy người
xã An Vĩnh sung vào, hàng năm luân phiên, lấy tháng giêng nhận sai dịch ra đó,
mỗi người trong đội Hoàng Sa được cấp phát sáu tháng lương, học chèo 5 chiếc
thuyền câu nhỏ ra ngoài biển, ba ngày, ba đêm mới đến Hoàng Sa, ở lại tha hồ bắt
chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ lượm được những vật trôi dạt như kiếm, hoa bạc, tiền
bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen,ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, hải sâm, các
loại ốc đẹp. Đến kỳ tháng 8, thuyền trở về vào cửa Yên Môn (cửa Thuận An) rồi tới
thành Phú Xuân trình nộp các vật hạng đã lượm nhặt được, người ta cân, định dạng
những con ốc đẹp rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc đẹp, hải sâm, đồi
mồi cũng nhiều vật biển khác, sau đó lãnh văn bằng trở về. Những vật lượm được
ngoài biển có khi nhiều, có khi ít, không nhất định, cũng có lần họ ra đi, trở về
không…”

13


Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú soạn năm 1821,
phần địa chí biên soạn về phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), đảo Cù Lao Ré và Hoàng Sa
như sau: “Phủ Tư Nghĩa ở giữa đạo Quảng Nam, ở thượng du núi liên tiếp đăng
ngang, phía dưới đến biển lớn, chính giữa địa thế rộng rãi, thời đại Thái Vương


Vĩnh có hơn 130 cồn cát, cách xa hơn một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài
không biết mấy ngàn dặm… tục gọi là Vạn Lý Hoàng Sa Châu, trên có giếng nước
ngọt có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, giải , ba ba. Hồi quốc sơ (đầu triều Nguyễn) đặt đội
Hoàng Sa gồm 70 người, lấy người dân xã An Vĩnh xung vào, hàng năm cứ tháng ba
cưỡi thuyền ra đảo,ba ngày ba đêm mới tới nơi, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở
nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân thôn Tư Chình, Bình Cố hoắc xã Cảnh Dương xung
vào được lệnh cưỡi thuyền nhỏ ra các đảo Côn Lôn ở Bắc Hải thu lượm hải vật, cũng
do đội Hoàng Sa kiêm quản luôn.”
Đại Nam thực lục chính biên cũng ghi chép về đội Hoàng Sa và Phạm Quang
Ảnh người làng An Vĩnh Cù Lao Ré - Lý Sơn như sau:“Tháng Giêng, năm Ất Hợi
1815, sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét đo
đạc..”
Tiếp theo vào năm sau: “Năm Bính Tí , niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816) …
vua sai lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi đo đạc thủy trình…”
“Tháng 6, mùa hạ , năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16( 1835) dựng “thần tứ “
ở Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi”
“Việt sử cương giám khảo lược” của Nguyễn Thông có đoạn viết về đội
Hoàng Sa như sau: “…Vạn Lý Trường Sa: từ đảo Lý Sơn tục gọi là Ngoại Lao,
người Trung Quốc gọi là Ngoại La) (tức Cù Lao Ré) đi thuyền về phía Đông, ba
ngày đêm thì đến, Nước Việt Nam ta ở hai buổi quốc sơ thường kén những người
đinh tráng ở hai bộ An Hải và An Vĩnh mà đặt đội Hoàng Sa để đi kiếm lượm những
sản vật ngoài biển. Hàng năm cứ tháng hai đi tháng tám về, bãi cát dăng từ phía
Đông mà trải sang phía Nam chỗ nổi lên, chỗ chìm xuống, không biết mấy nghìn
dặm, ở trong có vụng sâu, thuyền có thể đậu được. trên bãi có nước ngọt, chim biển
nhiều giống không biết tên. Có một cái miếu cổ lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ
“vạn lý Ba Bình” (muôn dặm sóng êm) không biết từ đời nào…”
Đội Hoàng Sa được thành lập dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn từ Gia
Long đến Tự Đức. Đội gồm 70 suất lấy trai tráng xã An Vĩnh, luân phiên nhận
nhiệm vụ ra Hoàng Sa 6 tháng để khai thác sản vật và đo đạc thủy trình. Đội Bắc

Những người đi Hoàng Sa thời ấy chỉ bằng phương tiện là chiếc ghe bầu
mảnh mai, cho nên dễ bị gặp rủi ro trước dông bão, có khi họ vĩnh viễn nằm trong
lòng đại dương.
Những người chết ngoài Hoàng Sa không về được, thì vợ con, cha mẹ và
những người thân trong gia đình tạo những hình nhân bằng đất sét và chôn thành
các mộ gió. Hiện nay mộ gió nằm tập trung nhiều tại thôn Đông và thôn Tây An
Vĩnh.

16


Ngày nay, trên đảo Lý Sơn còn nhiều di tích liên quan đến đội Hoàng Sa,
Trường Sa, đó là:
- Di tích Âm linh tự với tượng đài chiến sĩ trận vong là nơi thờ lính Hoàng
Sa chung với các vị thần khác, hàng năm làm lễ tế lính Hoàng Sa và những người
bỏ mình trên biển.
- Miếu thành hoàng làng ở đình làng An Hải, nơi thờ Bùi Tá Hán, Nguyễn
Tú Tài và lính Hoàng Sa bỏ mình trên biển
- Mộ cai đội Hoàng Sa Phạm Quang Ảnh tại thôn Đông xã An Vĩnh. Đây là
một ngôi mộ chiêu hồn. Ngoài ra còn có nhà thờ tộc họ Phạm Quang còn lưu giữ
nhiều di vật liên quan đến Phạm Quang Ảnh và đội Hoàng Sa.
- Miếu ông Thắm , nơi thời cai đội Võ Văn Khiết, mộ chiêu hồn của cụ Võ
Văn Khiết, nhà thờ họ Võ.
- Khu mộ gió, khu nghĩa địa giành cho lính Hoàng Sa nằm ở thôn Tây xã An
Vĩnh
- Đình làng An Vĩnh, nơi tế lính Hoàng Sa trước khi lên đường làm nhiệm
vụ và khi trở về.
- Tượng đài hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải và nhà trưng bày các hiện
vật liên quan đến đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh.
Ngoài ra tại làng An Vĩnh trong đất liền nay thuộc xã Tịnh Kỳ huyện Sơn

Sơn giỏi đi biển, có tới khoảng 60% dân số làm nghề đi biển. Thủy sản chiếm tới
50% thu nhập của ngư dân trên đảo. Tương lại ngành khai thác thủy sản tiếp tục là
thế mạnh của Lý Sơn. Tuy nhiên, Lý sơn có thể xem như là một làng nông ngư kết
hợp với khoảng 30% dân số sống bằng nghề trồng hành tỏi, đậu, bắp, mà tỏi Lý Sơn
hiện nay đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng.
Đảo Lý Sơn là hòn đảo của những di tích lịch sử, văn hóa với hệ thống các di
tích vật thể và phi vật thể dày dặc. Hiếm có nơi nào mà bảo tồn và lưu giữ được các
giá trị truyền thống tốt như Lý Sơn. Không chỉ vậy Lý Sơn còn là quê hương của
hải đội Hoàng Sa. Là nơi mà các binh phu Hoàng Sa xuất phát lên đường ra Hoàng
Sa theo lệnh vua để thực thi chủ quyền, cắm mốc đo đạc thủy trình và thu lượm sản
vật. Hiện nay vào tháng hai hàng năm các dòng tộc trên đảo vẫn tổ chức lễ khao lề
của tộc họ mình và lễ khao lề thế lính Hoàng Sa như một sự tri ân, thể hiện lòng biết
ơn sâu sắc tới công lao của những người con anh hùng bỏ mạng trên biển vì sự
nghiệp bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Những di tích gắn với hoạt động của đội
Hoàng Sa trên đảo hiện nay, là minh chứng khẳng định: “Hoàng Sa – Trường Sa là
của Việt Nam”.

18


CHƢƠNG 2
MỘ GIÓ, MỘ CHIÊU HỒN VÀ CÁC NGHI THỨC LIÊN QUAN
2.1. Quan niệm của ngƣời Việt về việc an táng ngƣời chết
Trong quan niệm truyền thống của người Việt, nếu người sống cần có ngôi
nhà để sum họp, che nắng che mưa thì người chết cũng phải có một nấm mồ để giữ
gìn hình hài. Người Việt Nam rất coi trọng mồ mả của người đã khuất, do lòng
thành kính với người chết mà ra. Hơn nữa, mồ mả không chỉ là nơi an táng, yên
nghỉ của người đã mất mà còn mang ý nghĩa thiêng liêng, tâm linh và huyền bí,
khiến người ta phải lo xây cất mộ cho người chết đàng hoàng, cũng không ai dám
động chạm tới mồ mả, sợ bị “động mộ” ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc tương

dưới chân người chết theo sự tin tưởng rằng, người chết nằm trong mồ chứng kiến
người sống mỗi lần ra thăm mộ đốt nhang vái lạy hay cúng thức ăn trước mộ bia.
Tuy nhiên về sau này, có nhiều mộ xây bằng đá cẩm thạch hay đá mài thì có mộ bia
dính ở ngay phía đầu người chết. Bình cắm nhang có khi đặt ở đầu, có khi ở giữa
có khi ở chân của người chết.
Dân gian ta có câu: “không mả, con bà đứa nào làm nên” người ta cho rằng
có mối liên quan siêu vật lý giữa mồ mả của tổ tiên với số mệnh của con cháu. Mồ
mả không chỉ là nơi chôn cất người chết, mà còn mang nhiều ý nghĩa linh thiêng.
Mồ mả trong vòng bốn đời phải chôn cố định. Phải chọn đất, chọn hướng chôn phù
hợp với tuổi tác của người đã mất. Sau đó phải giữ gìn, không được phép làm động
mộ nếu không sẽ bị ảnh hưởng đến người sống, vì làm xáo trộn vong linh người âm
đang tu luyện yên tĩnh ở cõi âm. Khi đó chắc chắn con cháu sẽ đau ốm, làm ăn
không thuận lợi.
Đối với gia đình người Viêt thì việc chôn cất, thờ cúng người chết là điều quan
trọng, thiêng liêng và thành kính. Khi “còn sống ông bà, cha mẹ là đại ân nhân,con
cháu phải một lòng kính dưỡng, hiếu thảo; lúc ông bà cha mẹ chết con cháu phải sung
bái tỏ lòng biết ơn đồng thời cầu mong tổ tiên phù hộ…”
Người ta quan niệm rằng phách là phần phụ của thể xác, khi người ta chết thì
tan xuống đất. Theo dị đoan, đàn ông có bảy phách hợp với thất khiếu (bảy lỗ)
trong cơ thể. Đàn bà thì có 9 phách hợp với cửu khiếu trong cơ thể. Đàn ông, đàn bà
đều có ba hồn phụ vào tam tiêu. Khi bất tỉnh thì hồn lìa khỏi than thể trong chốc lát,
khi người ta chết thì hồn lìa hẳn khỏi xác. Bởi vậy phách và xác là phần ô trọc nên
bị tiêu hủy đi. Còn linh hồn là phần tinh anh nên vẫn còn và có đủ ý thức. Vong hồn
không được tiêu diệt nên hằng cảm thông với kẻ sống. Vong hồn của cha - mẹ tuy
âm dương khác nhau nhưng vẫn thường dự vào cuộc sống của con cháu, của gia
đình, mỗi khi có điều vui, điều buồn, điều lo sợ. Tổ tiên vẫn phù hộ cho con cháu
nên đôi khi vẫn đề phòng tai ách. Linh hồn tổ tiên và cha mẹ linh thiêng nhường ấy,

20



21


2.3.Hình nhân thế mạng
Ở nước ta xưa có tục đốt hình nhân thế mạng, để vua chúa xuống dưới âm
cung có người hầu hạ, người ta không chôn người sống mà dùng hình nộm làm
bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nhào nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy làm
quần áo rồi vẽ mặt mũi, sau đó khi tế lễ xong thì đốt hình nhân đó cùng với vàng
mã. Nếu lễ thuỷ thần, long vương, hà bá thì làm thuyền bằng giấy kết trên thân cây
chuối rồi đặt hình nhân vào thuyền và thả trôi sông. Có người nghe theo lời bói toán
nhảm nhí sắp đến vận hạn bị hung thần quỷ dữ bắt, phải nhờ thầy cúng làm lễ, đốt
hình nhân thế mạng. Có người vì mối tư thù nhưng yếu thế không trả thù được bèn
nghĩ cách làm hình nhân rồi đề tên họ, huý, hiệu của kẻ thù vào trước ngực hình
nhân, cắm ở ngã ba, ngã tư đường cái, thắp hương cắm lên đầu hình nhân để nhờ
thần linh bắt tội người đó. Nguồn gốc sâu xa của “hì nh nhân thế mạng” chí nh là tục
“bồi táng”, xuất hiện từ thời nguyên thủy , mà các nhà khảo cổ học đã cho chúng ta
biết từ rất lâu khi khai quật, phát hiện những đồ tùy táng chôn theo hài cốt hoặc than
tro di thân người chết.
Trên thực tế, không phải Lý Sơn là địa phương duy nhất có mộ gió, có hình
nhân thế mạng như nhiều người vẫn hay lầm tưởng. Trong truyền “phong thần” của
sử Trung Hoa đã từng ghi lại chuyện cậu bé Na Tra được tái sinh từ một hình nhân
bằng ngó sen được thổi hồn vào, hay những chuyện “yểm bùa” vào các hình nhân,
búp bê bằng vải trong cung cấm xưa kia…
Cả hai hình thức chiêu hồn nạp táng và làm hình nhân thế mạng đều rất gần
với tục lập mộ gió trên đất nước ta.
2.4. Mộ gió
Mộ gió được hiểu theo nghĩa chung nhất là những ngôi mộ không có hài cốt
thật bên dưới. Thực tế ở nước ta có đến hàng ngàn, hàng vạn ngôi mộ gió. Chúng
nằm rải rác khắp nơi, trên mọi miền của đất nước.

người mất. Hiện tượng này có nhiều ở các vùng đô thị, ven đô nhất là những vùng
mà chuẩn bị mở dự án hay khu công nghiệp. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi thì
đây không thể coi là mộ gió. Nó chỉ là những nấm mộ giả, mộ chờ mà thôi.

23


2.5. Mộ gió trên đảo Lý Sơn, mộ gió hay mộ chiêu hồn?
Hai từ mộ gió ở Lý Sơn chẳng biết có từ bao giờ. Mộ gió là ngôi mộ của
những người dân đi biển bị chết mất xác. Hoặc những ngôi mộ xưa kia được chôn
bên cạnh bờ biển được đắp bằng cát bị nước cuốn trôi đi mất xác, về sau không thể
tìm thấy được, cũng có thể là mộ của người bị mất xác nơi rừng sâu, hoặc người
lính giữa trận tiền mà đồng đội không tìm ra thi thể. Người sống còn ở lại muốn tri
ân, tưởng nhớ tới người đã khuất, tuy thể xác của người thân đã mất nhưng họ vẫn
muốn giữ lại phần tinh anh để cầu mong linh hồn được an ủi, phù hộ, che trở cho
con cháu.
Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, giám đốc sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi thì
“Mộ gió ở Lý Sơn là cách nói dân gian, còn thực chất nó là mộ chiêu hồn”. Có lẽ
bởi vì, bên dưới mộ không có xác người thật, mà chỉ có những hình nhân bằng đất
sét, được thầy phù thủy khéo léo nặn giống như người thật. Hình nhân đó đã được
làm lễ chiêu hồn, gọi hồn trở về nhập vào. Người nhà tin rằng, khi hồn đã nhập hình
nhân thì giống như thân xác thực sự của người đã khuất. Đồng quan điểm với tiễn sĩ
Nguyễn Đăng Vũ, chú Võ Văn Út, hậu duệ của cụ Võ Văn Khiết và cụ Phạm Đoàn
– tộc trưởng họ Phạm Văn cũng đều cho rằng: “phải gọi là mộ chiêu hồn mới đúng,
còn mộ gió chỉ là cái tên mà sau này con em Lý Sơn đi ra ngoài học hỏi, làm ăn gọi
theo như trong đất liền mà thôi…” Trong lịch sử, có rất nhiều người là quan quân,
binh lính, phu dịch của đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải đã hy sinh trong quá trình làm
nhiệm vụ, bỏ mạng trên biển. Khi tộc họ Phạm Văn trên đảo xây dựng ngôi mộ gió
cho Chánh đội trưởng thủy quân Hoàng Sa – Phạm Hữu Nhật, Tiến sĩ Nguyễn Đăng
Vũ đã khắc tấm bia để đặt trước ngôi mộ. Ông đã dốc tâm huyết để góp phần phục

sống ấm no của gia đình, dòng tộc, từ xa xưa người dân vùng ven biển đã có tập tục
lập mộ gió để tưởng nhớ đến họ. Mộ gió có ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam
nhưng lịch sử hình thành mộ gió ở đảo Lý Sơn thì chỉ có một không hai.
Nghề đi biển chứa đựng nhiều rủi ro, bất chắc… hàng năm số ngôi mộ gió ở
Lý Sơn cứ ngày một nhiều thêm. Ở Lý Sơn, nghèo đến mấy, gia đình ngư dân cũng
gắng chạy vạy lo toan để làm mộ chiêu hồn cho người đã mất. Bởi, cuộc sống vất
vả diễn ra theo một vòng xoáy trôn ốc, khi lớn lên con trai của những ngư dân gặp
nạn sẽ rất khó để có điều kiện tìm một nghề nào khác ngoài công việc mà cha, ông
họ đã làm. Và với niềm tin của ngư dân, sẽ rất cay đắng và nhiều điềm dữ, nếu đứa

4 Dẫn theo sách “ Như cây Phong ba trên đảo Hoàng Sa”, tác giả Lê Văn Chương

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status