HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT TRÊN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY - Pdf 35

HỌC VIỆN KỸ THUẬT MẬT MÃ
KHOA LÝ LUẬN – CHÍNH TRỊ

ĐỀ TÀI

HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN
DỤNG HỌC THUYẾT TRÊN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY

Môn học: TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2014


MỤC LỤC
MỤC LỤC.......................................................................................................2
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................3
Chương 1. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI .................5
1.1. SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI.............................................................................................................6
1.2. LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT.........................8
1.3. CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG........................10
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ
HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY................13
2.1. NHẬN THỨC LẠI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
13
2.2. NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN XUẤT PHÁT ĐỂ
XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA.......................................15
Chương 3. KẾT LUẬN.................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................20


và kiến trúc thượng tầng của nước ta. Nó giúp chúng ta rất nhiều trong việc
đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Xây
dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc
3


phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.
Mục tiêu đó là sự cụ thể hoá học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và
hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam. Nó cũng là mục tiêu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Chính vì vậy mà bài tiều luận này sẽ trình bày về đề tài "Học thuyết về
hình thái kinh tế - xã hôi và sự vận dụng học thuyết trên trong thời kỳ úa
độ lên CNXH ở Việt Nam". Đây là một đề tài hay, có nội dung phức tạp và
rộng.

4


CHƯƠNG 1. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
Chúng ta đều biết, trong lịch tư tưởng nhân loại trước Mác đã có không
ít cách tiếp cận, khi nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội. Xuất phát từ
những nhận thức khác nhau, với những ý tưởng khác nhau mà có sự phân chia
lịch sử tiến hoá của xã hội theo những cách khác nhau. Chúng ta cũng đã quen
với khái niệm thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại cối xay gió, thời đại
máy hơi nước ….và gần đây là các nền văn minh: văn minh nông nghiệp, văn
minh công nghiệp, văn minh hậu công nghiệp.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận và tổng thể quá trình lịch

thì phương thức sản xuất này sẽ bị diệt vong và xuất hiện một phương thức
sản xuất mới hoàn thiện hơn, có quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản
xuất. Như vậy bản chất của sự thay thế trên là phụ thuộc vào mối quan hệ
biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Xã hội không phải là tổng hợp của những hiện tượng sự kiện rời rạc,
những cá nhân riêng lẻ mà xã hội là một chính thể toàn vẹn có cơ cấu phức
tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt đó có vai trò nhất định và tác động
đến các mặt khác tạo nên sự vận động của xã hội. Chính tính toàn vẹn đó
được phản ánh bằng tổng thể các mặt của hình thái kinh tế - xã hội.
Tổng thể hình thái kinh tế xã hội bao gồm nhiều mặt, mỗi mặt lại có
những thế mạnh riêng lẻ và phải dựa vào những thế mạnh đó để nghiên cứu,
tìm tòi và phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
1.1. SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỜI
SỐNG XÃ HỘI
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi hình thành đến nay đã
trải qua các giai đoạn phát triển cao thấp khác nhau, tương ứng với mỗi giai
đoạn đó là một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể, sự vận động và thay thế lẫn
nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử là do các qui luật khách
quan chi phối đặc biệt là bị chi phối bởi qui luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Do đó C.Mác viết
“Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử tự nhiên”.
Trong đời sống hàng ngày những điều tất yếu mà xã hội nào cũng cần
có đó là sản xuất vật chất, sản xuất vật chất có vai trò rất lớn trong cuộc sống
con người, nó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào
tự nhiên, cải biên các dạng vật chất của tự nhiên để tạo ra của cải vật chất cho
đời sống xã hội. Đó là quá trình hoạt động có mục đích, nhằm cải biến những
6


sản xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của mình.
+ Trong quá trình sản xuất vật chất, con nguời luôn luôn tìm cách làm
giảm nhẹ hoạt động lao động và nâng cao hiệu quả của lao động, do đó đã
không ngừng cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu mới vào sản
7


xuất, thúc dẩy lực luợng sản xuất phát triển. Sự phát triển lực lượng sản xuất
đến một giai đoạn nhất dịnh sẽ làm thay đổi mối quan hệ giữa nguời với
nguời trong quá trình sản xuất. Do quan hệ sản xuất thay đổi đã làm thay đổi
các quan hệ xã hội khác giữa nguời với nguời, từ đó đã chuyển xã hội lên một
giai đoạn phát triển mới cao hơn.
+ Phương thức sản xuất là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con nguời một mặt phải quan hệ
với tự nhiên, mặt khác phải quan hệ với nhau - đó là hai mặt lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, hai mặt tạo thành phương thức sản xuất. Sự tác
động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã tạo thành
quy luật chung chi phối sự tồn tại và phát triển của xã hội loài nguời - quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình dộ phát triển của lực
lượng sản xuất (sẽ được trình bày trong phần tiếp theo).
1.2. LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong
quá trình sản xuất, là biểu hiện trình độ trinh phục tự nhiên của con người
trong giai đoạn lịch sử nhất định. Lịch sử sản xuất là một thể thống nhất hữu
cơ giữa tư liệu sản xuất (đặc biệt là công cụ lao động) với người lao động, với
kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp. Lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết
định phương thức sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất vật chất thể hiện ở quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ
tổ chức quản lý trao đổi hoạt động với nhau và quan hệ phân phối sản phẩm.

xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất quyết
định sự hình thành và biến đổi của quan hệ sản xuất. Khi không thích ứng với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ
kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn
của chúng tất yếu sẽ nảy sinh. Biểu hiện của mâu thuẫn này trong xã hội là
mâu giữa các giai cấp đối kháng.
Lịch sử đã chứng minh rằng do sự phát triển của lực lượng sản xuất,
loài người đã bốn lần thay đổi quan hệ sản xuất gắn liền với bốn cuộc cách
mạng xã hội, dẫn đến sự ra đời nối tiếp nhau của các hình thái kinh tế xã hội.
Vào giai đoạn cuối cùng của xã hội phong kiến ở các nước Tây Âu lực lượng
sản xuất đã mang những yếu tố xã hội hoá gắn với quan hệ sản xuất phong
kiến. Quan hệ sản xuất phong kiến chật hẹp không chứa đựng được nội dung
mới của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất của Tư bản chủ nghĩa ra đời
thay thế quan hệ sản xuất phong kiến. Trong lòng nền sản xuất tư bản, lực
lượng sản xuất phát triển, cùng với sự phân công lao động và tính chất xã hội
9


hoá công cụ sản xuất đã hình thành lao động chung của người dân có tri thức
và trình độ chuyên môn hoá cao. Sự lớn mạnh này của lực lượng sản xuất dẫn
đến mâu thuẫn gay gắt với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Giải quyết
mâu thuẫn đó đòi hỏi phải xáo bỏ quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa,
xác lập quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Theo Mác,
do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phát triển sản
xuất của mình và do đó thay đổi phát triển sản xuất làm ăn cuả mình, loài
người thay đổi quan hệ sản xuất của mình.
Phù hợp có thể hiểu là cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng
với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phải
tạo được điều kiện sản xuất và kết hợp với tối ưu giữa tư liệu sản xuất và sức
lao động, bảo đảm trách nhiệm từ sản xuất mở rộng. Mở ra sau những điều

đó hệ tư tưởng chính trị và bộ máy quản lý nhà nước có vị trí quan trọng nhất.
1.3.1. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng được thể hiện
ở một số mặt:
Cơ sở hạ tầng nào thì kiến trúc thượng tầng đó (giai cấp nào giữ vị trí
thống trị về mặt kinh tế thì đồng thời cũng là giai cấp thống trị xã hội về tất cả
các lĩnh vực khác).
Quan hệ sản xuất nào thống trị cũng sẽ tạo ra kiến trúc thượng tầng
tương ứng. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa các tập đoàn trong xã hội và
đời sống tinh thần của họ đều xuất phát trực tiếp và gián tiếp từ mâu thuẫn
kinh tế, từ những quan hệ đối kháng trong cơ sở hạ tầng.
Cơ sở hạ tầng thay đổi thì nhất định sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự thay
đổi về kiến trúc thượng tầng. Quá trình đó diễn ra ngay trong những hình thái
kinh tế xã hội cũng như khi chuyển tiếp từ hình thái này sang hình thái kinh tế
xã hội khác. Trong xã hội có giai cấp mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng được biểu
hiện là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị.
Khi hạ tầng cũ bị xoá bỏ thì kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi và
thay thế vào đó là kiến trúc thượng tầng mới được hình thành từng bước thích
ứng với cơ sở hạ tầng mới. Sự thống trị của giai cấp cũ đối với xã hội cũ bị
xoá bỏ, thay vào đó bằng hệ tư tưởng thống trị khác và các thể chế tương ứng
của giai cấp thống trị mới. Đương nhiên không phải "khi cơ sở hạ tầng thay
đổi thì lập tức sẽ dẫn đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng". Trong quá
trình hình thành và phát triển của kiến thượng tầng mới, nhiều yếu tố của kiến
trúc thượng tầng cũ còn tồn tại gắn liền với cơ sở kinh tế đã nảy sinh ra nó. Vì

11


vậy giai cấp cầm quyền cần phải biết lựa chọn một số bộ phận hợp lí để sử
dụng nó xây dựng xã hội mới.


CHƯƠNG 2. SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI
KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
Dựa trên cơ sở những lý luận chung trên, phần tiếp theo của đề tài xin
phép được đi sâu vào vấn đề "sự vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội
trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam hiện nay".
2.1. NHẬN THỨC LẠI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ
“Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,
không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ
nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng thái hiện nay.
Những điều kiện của phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang tồn
tại” dựa vào sự phân tích trực tiếp những mâu thuẫn của xã hội tư sản trong
giai đoạn đầu phát triển của nó, dựa vào triển vọng của phong trào công nhân,
Mác và Ăngghen đã đưa ra dự đoán về sự phát triển của xã hội loài người
trong tương lai, tất yếu phải tiến đến hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ
nghĩa, mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái ấy. Tất nhiên dự
đoán khoa học của các ông mới chỉ cho phép phác hoạ được những đường nét
chủ yếu về xã hội tương lai ấy. Lênin cũng chỉ rõ: “Chúng ta không hề coi lý
luận của mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại
chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những
người xã hội chủ nghĩa phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không
muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”.
Đáng tiếc là trong nhiều năm qua, đối với chúng ta, lý luận về chủ
nghĩa xã hội không những không được bổ sung, phát triển cho phù hợp với sự
phát triển của thực tiễn, mà lại được giải thích một cách máy móc, giáo điều
và được áp dụng một cách dập khuôn làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực ở
nhiều nước bị biến dạng, dẫn đến khủng hoảng và tan rã. Hậu quả đó do nhiều
nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta mắc phải những sai

chủ nghĩa nhưng phải tiến hành sao cho sự bỏ qua này không hề vi phạm tiến
trình lịch sử - tự nhiện của sự phát triển. Do đó cần có sự phát triển nhất định
nhân tố tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ là một yêu cầu khách quan.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa, không có nghĩa là gạt bỏ tất cả quan hệ sở hữu cá thể, tư nhân
chỉ còn lại chế độ công hữu và tập thể, trái lại tất cả những gì thuộc về sở hữu
tư nhân góp phần vào sản xuất kinh doanh thì chấp nhận nó như một bộ phận
tự nhiên của quá trình kinh tế xây dựng chủ nghĩa xã hội, khuyến khích mọi
hình thức kinh tế để phát triển sản xuất và nâng cao cuộc sống của nhân dân.
14


Vậy nước ta chọn lựa con đường xã hội chủ nghĩa không qua giai đọan
phát triển tư bản với ý nghĩa là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đặc biệt là về
mặt chính trị của chế độ đó - tức không thể hình thành một hệ thống chính trị
của giai cấp tư sản, trong đó đa số sống phụ thuộc vào lợi ích và quyền lực
của thiểu số. Để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta
chủ trương một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần
kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế của
chủ nghĩa xã hội, từng bước xã hội hoá xã hội chủ nghĩa. Trong thực tế nền
sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trên cơ sở lực lượng sản xuất
phát triển. Quá trình đó được thực hiện không phải bằng sự tước đoạt, gò ép
theo chủ nghĩa hình thức như trước đây mà được thể hiện từng bước thông
qua hỗn hợp các hình thức sở hữu như công ty cổ phần, chủ nghĩa tư bản nhà
nước, các hình thức hợp tác xã... để dần hình thành các tập đoàn kinh doanh
lớn, trong đó các đơn vị quốc doanh là nòng cốt. Tức là chúng ta chỉ bỏ qua
những gì mà xã hội mới có thể thay thế vào những quan hệ xã hội cũ đem laị
hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn. Chúng ta không chủ trương gạt bỏ cái cũ để
có cái mới mà thực hiện chuyển hoá cái cũ thành cái mới.

vụ hàng đầu hiện nay. Như trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của
Đảng đã khẳng định là: Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện đại. Cơ cấu kinh tế lập hiến, quan hệ sản xuất tiến
bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất
và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng văn minh, và nước ta đã chuyển sang một thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đây là những nhận định rất quan trọng đối với
những bước đi tiếp theo trong sự nghiệp đổi mới.
- Phải khắc phục quan niệm bỏ qua chủ nghĩa tư bản một cách giản
đơn, khai thác sử dụng tối đa chủ nghĩa tư bản làm khâu "trung gian" để
chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội như Lênin đã chỉ ra. Chủ
trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và việc sử dụng các thành
phần hình thức kinh tế trung gian quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta mà Đại hội VI vạch ra là đúng đắn. Đại hội VII của Đảng
cũng chỉ rõ: "… phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất thiết lập từng
bước quan hệ sản xuất từ xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về
hình thức sở hữu phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng sản xuất chủ nghĩa tiến hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà
nước". Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
của kinh tế quốc doanh. Thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết quả lao
16


động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu. Đó là một trong những phương hướng cơ
bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nước ta. Ngoài ra
cần phải xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới,
hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản
phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả.
- Tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng
văn hoá phát huy nhân tố con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là động

lượng sản xuất sẽ hình thành nên một tổng thể đó là kiến trúc thượng tầng bao
gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và
những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất
định và đều có đặc điểm riêng, có quy luật phát triển riêng nhưng không tồn
tại tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và nảy sinh trên cơ sở hạ
tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng.
Vậy xây dựng hình thái kinh tế xã hội ở Việt Nam thì nhất thiết các yếu
tố lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, sinh hoạt,
văn hoá... không thể thiếu một yếu tố nào được mà nó phải gắn bó, liên kết
cùng nhau trên con đường phát triển của đất nước. Biết tìm ra những phương
pháp có hiệu quả phù hợp với đất nước như xây dựng nền sản xuất hàng hoá
nhiều thành phần, xây dựng hệ thống chính trị theo nguyên tắc nhân dân lao
động, mở rộng giao lưu quốc tế... sẽ làm cho hình thái kinh tế nước ta phát
triển hơn. Chính những điều đó sẽ có ý nghĩa rất tốt đối với các mặt trong
tổng thể hình thái kinh tế xã hội của nước ta. Nó sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế
lực lượng lao động sẽ có việc làm và không bị dư thừa, đời sống văn minh
lịch sự, thu nhập quốc dân tăng thì tổng thể hình thái kinh tế - xã hội của nước

18


ta sẽ phát triển, nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế của nước ta đi lên. Muốn vậy nước
ta phải thực hiện tốt đường lối đổi mới toàn diện mà Đảng đã đề ra.
Khái quát lại, xây dựng hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa ở nước ta là
xây dựng một hệ thống quan hệ xã hội theo yêu cầu phát triển không ngừng
của lực lượng sản xuất hiện đại. Xây dựng một hệ thống chính trị làm chủ của
nhân dân lao động hoạt động theo nguyên tắc tất cả từ con người và vì con
người.
Chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa đảng ta vẫn tiếp tục truyền
thống tốt đẹp đó của mình. Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status