Phân biệt các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của luật thương mại. - Pdf 35

Thảo Luận Luật Kinh Tế
Đề Tài: Phân biệt các phương thức giải quyết
tranh chấp theo quy định của luật thương mại.
MỤC LỤC:
A.PHẦN MỞ ĐẦU
B.PHẦN NỘI DUNG
I.Khái quát về tranh chấp thương mại và các phương thức
giải quyết.
II.Phương thức thương lượng,hòa giải.
III.Phương thức trọng tài thương mại.
IV. Phương thức tòa án.
V.Lựa chọn phương thức thích hợp

C.PHẦN KẾT LUẬN


A.PHẦN MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt Nước ta đang tiến hành chính sách phát
triển kinh tế đối ngoại theo hướng tham gia ngày càng sâu rộng vào thị trường quốc tế,
thì tính đa dạng và phức tạp trong quan hệ thương mại làm cho tranh chấp thương mại
cũng trở lên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều
về chủng loại, xuất phát từ lợi nhuận của các bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải
quyết tranh chấp là hết sức quan trong và cần thiết. Cần thiết là bởi cần có những phương
thức giải quyết phù hợp để nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể,
góp phần duy trì ổn định và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, tranh chấp
thương mại có thể được giải quyết bằng các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng
tài thương mại hoặc tòa án. Mỗi phương thức đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, và
việc lựa chọn phương thức nào đó có thể đem lại cho những bên trong cuộc đối với mỗi
vụ việc cụ thể. Hiểu biết và nắm vững về mỗi phương thức là cơ hội và chìa khóa để các
doanh nhân tìm ra được con đường giải quyết tranh chấp thích hợp nhất cho doanh

Tuy nhiên, hành vi thương mại gồm những hành vi nào là điều đáng quan tâm hơn cả.
Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành vi thương mại:
Ở Việt Nam, Điều 45 Luật thương mại quy định các loại hành vi thương mại gồm:
1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thương nhân
3. Môi giới thương mại
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá


6. Gia công trong thương mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá
9. Đấu thầu hàng hoá
10. Dịch vụ giám định hàng hoá
11. Khuyến mại
12. Quảng cáo thương mại
13. Trưng bày giới thiệu hàng hoá
14. Hội chợ, triển lãm thương mại
Tuy vậy, ngoại diên của khái niệm hành vi thương mại ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển có phạm vi rộng hơn nhiều. Ở Anh nói riêng và cộng đồng Anh ngữ nói
chung thuật ngữ "Commerce" không đồng nhất với "trade", mà nó bao gồm cả "trade",
"bank", "insurrance" , "transport", ... hay nói một cách khác thương mại bao gồm cả việc
mua, bán, các sản phẩm vô hình có tính chất đặc thù khác. Tác động thương mại là hoạt
động "thường xuyên, độc lập và mưu cầu lợi nhuận", và theo luật thương mại của Pháp,
hoạt động thương mại bao gồm:
1. Mua bán động sản với mục đích bán lại để kiếm lời
2. Hoạt động trung gian trong việc mua bán động sản và bất động sản.
3. Cho thuê động sản và bất động sản.
4. Chế tạo và chuyên chở

nhau. Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể
được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài
hoặc tòa án.
Việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền
tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước và trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo
yêu cầu của các bên tranh chấp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh, thương mại ngày càng
đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch
vụ, đầu tư… Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh,
thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục
tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi
phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của
một phương thức để có quyết định hợp lý.

II.Phương thức thương lượng,hòa giải.
1.
a.

Giới thiệu chung về phương thức lương lượng, hòa giải
Thương lượng:


Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh
chấp cùng nhau bàn bạc, dàn xếp để tháo gỡ những bất đồng phát sinh nhằm loại bỏ
tranh chấp mà không cần có sự giúp hay phán quyết của bên thứ ba.
Thương lượng là phương thức dược các bên lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn hầu
hết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết theo các này. Nhà
Nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp
trên tinh thần hoạn toàn tôn trọng quyền thoả thuận của các bên.

bên mà không phải cơ quan tài phán nào cũng làm được. Bởi vậy, nếu thương lượng
thành công không những các bên đã loại bỏ được những bất đồng phát sinh mà mức
độ phương hại đến mối quan hệ kinh doanh giữa các bên cũng thấp, tăng cường sự
hiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai.
-

Nhược điểm:

Thương lượng thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ
thiện chí, hợp tác của các bên. Khi một hoặc các bên thiếu sự hiểu biết về lĩnh vực


đang tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình, khả năng thắng thua nếu phải
theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán hoặc không có thái độ nỗ lực hợp tác, thiếu sự
thiện chí, trung thực trong quá trình thương lượng thì khả năng thành công là rất
mong manh, kết quả thường bế tắc.
b.

Hòa giải:

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm
trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp
nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.
Bản chất của thương lượng được thể hiên qua các đặc trưng sau:
-

-


-

trọng và tuân thủ các cam kết đạt được trong quá trình hòa giải cũng cao hơn.
-

Nhược điểm:

+ Hạn chế của hòa giải là dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian mà một
bên không trung thực, thiếu sự thiện chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải
cũng khó có thể đạt được kết quả mong đợi.
+ Ngoài ra, chính phải sử dụng đến bên trung gian nên uy tín, bí mật kinh doanh cũng
dễ bị ảnh hưởng hơn quá trình thương lượng.
+ Bên cạnh đó, chi phí cho quá trình giải quyết bằng hòa giải cũng tốn kém hơn do
phải trả phí cho bên trung gian.
2.
-

-

-

-

3.

Cơ sở pháp lý
Điều 327 LTM 2005 quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp : “Thương
lượng giữa các bên; hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải…”
Điều 259 Bộ luật hàng hải 2005 quy định : “Các bên liên quan có thể giải quyết
tranh chấp hàng hải bằng thương lượng, thỏa thuận hoặc khởi kiện tại trọng tài
hoặc tòa án có thẩm quyền…”

Pháp luật hiện chưa có quy định về phẩm chất, điều kiện cần có của một nhà thương
lượng, một hòa giải viên, tuy nhiên nếu họ là luật sư hay hòa giải viên thì phải đáp
ứng được điều kiện được quy định trong điều 10 Luật luật sư 2006 và Điều 12 Pháp
lệnh trọng tài Thương mại 2003.
4.

Điều kiện của thương lượng, hòa giải

Các bên đương sự được đảm bào quyền tự định đoạt, có quyền tự thương lượng, hòa
giải với nhau mà không bị giới hạn bởi điều luật nào, nếu không thành thì sẽ được giải
quyết bằng con đường trọng tài hay tòa án.
Điều kiện để thương lượng, hòa giải một tranh chấp thương mại, trước hết phải xem
xét thỏa mãn :
-

Có tranh chấp thương mại xảy ra
Các bên mong muốn loại bỏ mâu thuẫn, khắc phục tổn thất, tiếp tục duy trì quan
hệ hợp tác và các bên đều có tinh thần thiện chí, nhân nhượng, tôn trọng và giữ gìn
uy tín cho nhau.
Các tranh chấp sử dụng phương thức này thường có giá trị nhỏ, ít phức tạp, chưa
trở nên gay gắt, các bên hiểu về nhau, sẵn sàng nhân nhượng và duy trì mối quan
hệ lâu dài. Nói vậy không có nghĩa là các tranh chấp phức tạp, giá trị tài sản lớn,
liên quan đến nhiều tổ chức, quốc gia thì không thể thương lượng hòa giài mà vấn
đề là các bên phải có thiện chí hợp tác mà mong muốn dùng phương pháp này để
giải quyết nhanh chóng các tranh chấp đó.

5.

Phương pháp thương lượng, hòa giải



Có thể nêu ra một số công việc cần tiến hành như :
Xác định trách nhiệm cụ thể đối với các bên;
Xác định những biện pháp chế tài nếu một bên hoặc các bên không thực thi đầy đủ
kết quả thương lượng, hòa giải đã thống nhất.
Ngoài ra, các bên có thể phải tiến hành nhiều công việc khác tùy thuộc vào từng
vụ việc cụ thể. Mọi công việc tiến hành không trái đạo đức xã hội, không gây tổn
hại cho bất kỳ ai.

-

7.

Hiệu lực của thương lượng, hòa giải

Thương lượng, hòa giải là các phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện
của các bên. Biên bản thỏa thuận, hòa giải không phải là một bản án nên việc thực
hiện phương án thương lượng, hòa giải mà các bên đã đạt được không mang tính
cưỡng chế. Đây là điểm làm hạn chế hiệu lực thi hành các kết quả thu được từ quá
trình giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải. Về vấn đề này, pháp luật hiện
nay vẫn còn bỏ ngỏ.

III.Phương thức trọng tài thương mại.
1.Khái niệm trọng tài thương mại
Khoản 1 điều 3 luật trọng tài thương mại năm 2010 “Trọng tài thường mại là
phươn thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy
định của Luật này”. Như vậy, với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp,
trọng tài thương mại (TTTM) có thể được hiểu là phương thức mà các bên tranh chấp




-

Trọng tài là một tổ chức xa hội – nghề nghiệp được thành lập nên để giải quyết
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, đặc điểm này thường được
gắn với các trọng tài thường trực. Mỗi trọng tài thường trựcđề có điều lệ hoạt
động riêng, có trụ sở, bộ máy giúp việc, danh sách trọng tài viên và quy tắc tố
tụng riêng của mình
TTTM là một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập với tòa án, phán quyết của
TTTM không có tính chất cưỡng chế thi hành như bản án, quyết định của toàn
án. Tuy nhiên để đảm bảo giá trị pháp lý của phán quyết của TTTM, pháp luật


nước ta quy định, phán quyết của TTTM nếu không được các bên đương sự tự
nguyện thi hành thì có thể nhờ sựu hỗ trợ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cưỡng chế thi hành

3. Hình thức tồn tại
Trọng tài thương mại tồn tại dưới 2 hình thức: trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế

a. Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc là phương thức mà trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành
lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải
quyết xong vụ tranh chấp.
Bản chất của trọng tài vụ việc thể hiện qua các đặc trưng cơ bản:
- Một là, trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt
hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp.
- Hai là, trọng tài vụ việc không có cơ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không
có danh sách trọng tài viên.
- Ba là, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.

nếu các bên có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau
khi xảy ra tranh chấp”.
Thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc
áp dụng phương thức trọng tài. Không có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì không có việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, và thỏa thuận này có thể được ghi trong hợp đồng
hoặc là thỏa thuận riêng, có thể là một phụ lục đính kèm tại thời điểm ký hợp đồng hoặc
được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp.

* Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan
Khoản 2, Điều 4, Luật trọng tài thương mại quy định: “Trọng tài viên phải độc lập,
khách quan, vô tư và tuân theo quy định pháp luật.”.
Điều 42, Luật thương mại quy định về việc thay đổi Trọng tài viên:
“1. Trọng tài viên từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi
Trọng tài viên giải quyết tranh chấp trong trường hợp sau đây:
a) Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;
b) Trọng tài viên có lợi ích liên quan trọng vụ tranh chấp;
c) Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan;
d) Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh
chấp đó ra giải quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản.
2. Kể từ khi được chọn hoặc được chỉ định, Trọng tài viên phải thông báo bằng văn bản
cho Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài và các bên về những tình tiết có thể ảnh
hưởng đến tính khách quan, vô tư của mình.”

* Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật


Trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp, tư tưởng chỉ đạo đối với trọng tài viên là
pháp luật, nếu trọng tài viên không căn cứ vào pháp luật, nhận hối lộ, có hành vi vi phạm
đạo đức trọng tài bên thì các bên có quyền yêu cầu đổi trọng tài. Chỉ có dựa vào pháp
luật, trọng tài viên mới giải quyết được tranh chấp một các chính xác, công bằng và hợp


6. Thủ tục tố tụng trọng tài


Thủ tục tố tụng trọng tài được Luật trọng tài thương mại quy định sự khác nhau giữa
hai phương thức trọng tài là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế. Những nội dung cơ
bản của thủ tục tố tụng trọng tài bao gồm:
- Khởi kiện và thụ lý đơn kiện
- Thông báo đơn khởi kiện
- Bị đơn gửi bản tự bảo vệ
- Bị đơn gửi đơn kiện lại nguyên đơn (có thể có hoặc không)
- Thành lập hội đồng trọng tài
- Chuẩn bị giải quyết tranh chấp
- Hòa giải
- Phiên họp giải quyết tranh chấp
- Ra quyết định trọng tài

7. Thi hành quyết định trọng tài
Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài, tuy nhiên nếu
hết thời hạn thi hành phán quyết mà các bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu
cầu hủy phán quyết thì luật quy định bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Việc đảm bảo thi hành trên
thực tế quyết định trọng tài bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước là yếu tố quyết định khắc
phục những hạn chế của phương thức tài phán trọng tài.

8. Ưu, nhược điểm
* Ưu điểm
Thứ nhât, TTTM đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các nên bởi TTTM không phải
là phương thức giải quyết tranh chấp bắt buộc. Việc đưa tranh chấp ra trọng tài
giải quyết xuất phát từ sự hỏa thuận của các bên. Trong tài, quy chế tố tụng trọng

phạm trong quá trình giải quyết tranh chấp
Ngoài ra, phán quyết có trọng tài không phải lục nào cũng được thi hành trôi chảy, thuận
lợi như việc thi hành bản án, quyết định của tòa án. Bởi TTTM không phải là cơ quan
quyền lực nhà nước nên phán quyết của TTTM không có tính cưỡng chế thi hành mà phải
nhờ đến sự trợ giúp của cơ quant hi hành án.

9. Pháp luật trọng tài thương mại ở Việt Nam
Ta có thể thấy sau nhiều năm thi hành pháp lện trọng tài thương mại 2003 đã có
những hạn chế nhất định. Để khắc phục những hạn chế đó thì luật TTTM 2010 đã ra
đời và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2011. Đi kèm với luật là nghị định
63/2011/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật trọng
tài thương mại. Đây có thể coi là những văn bản pháp luật mới nhất tính đến thời
điểm này chứa các quy định pháp lý về trọng tài thương mại Việt Nam
-

Nôi dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về TTTM
Nhưng việc pháp luật trọng tài Việt Nam đã làm được trong thời gian qua:


+ Pháp lệnh TTTM năm 2003 và mới đây là luật TTTM năm 2010 là một cột
mộc quan trọng đánh dấu những bước ngoặt quan trọng lịch sử phát triển của
pháp luật trọng tài Việt Nam. Và thực tiễn cho thấy những năm vừa qua, việc áp
dụng pháp luật TTTM đã mang đến nhiều thành tự đáng kể. Hiện nay ở Việt
Nam có 7 trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động (ACIAC, VIAC,
HCMCAC, CHAC, CCAC, PIAC, VID.ARCE). Đối với trung tâm trọng tài Việt
Nam (VIAC), nếu như năm 2003 VIAC mới giải quyết được 16 vụ, thì tới năm
2004 con số này đã tăng gấp đôi lên 32 vụ, năm 2006 VIAC giải quyết được 36
vụ, năm 2008 con số này tăng lên tới 58 vụ và hết năm 2010 vừa qua, số vụ
tranh chấp mà VIAC đã giải quyết lên 63 vụ. Như vậy, sau 7 năm áp dụng pháp
lệnh trọng tài, số vụ giải quyết bởi VIAC đã tăng 4 lần. Trong đó, VIAC đã giải

vì đệ đơn lên Thủ tướng để Thủ tướng có chỉ đạo với Tòa án. Chưa bàn tới việc
như vậy có vi phạm về tính độc lập tư pháp; nhưng về cơ bản là không cần thiết vì
Vinalines có quyền này.

10. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại trong thời gian
tới.
+ Hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của
TTTM
Các văn bản pháp luậ hướng dẫn luật TTTM 2010 nên giải thích theo hướng
mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài, tôn trọng ý chí tự do thỏa thuận
của các bên tranh chấp. Cụ thể, nên quy đinh thẩm quyền của trọng tài theo
phương pháp loại trừ, mở rộng thẩm quyền của trogj tài ra cả tranh chấp dân
sự, trừ một số tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, quanheej hôn nhân,
gia đình và thừa kế theo quy định của luật dân sự quy định tại dự thảo lần 1
cuar luật này. Ví dụ, theo luật trọng tài tại Singapore thì trọng tài có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp dân sự, trừ tranh chấp về hình sự và tranh chấp
hôn nhân gia đình
+ Hoàn thiện quy định của pháp luật về biên pháp khẩn cấp tạm thời
Pháp luật trọng tài hiện hành nên có quy định về việc thi hành các biện pháp
khẩn cấp tạm thời theo đại diện dự án USAID/STAR cho rằng, việc thi hành
các quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như việc thay đổi, áp dụng
bổ sung, hủy bỏ các biện pháp của tòa án
+ Hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài vô
hiệu
Pháp luật TTTM nên bổ sung quy định về thủ tục yêu cầu toàn án xem xét
quyết định của hội đồng trọng tài về vấn đề vô hiệu của thỏa thuận trọng tài.
Cụ thể trong thời gian tòa án xem xét để ra quyết định thoản thuận trọng tài có
vô hiệu hay không, hôi đồng trọng tài nên tạm dừng tố tụng. Bản thân trong
thời gian này, dù có tiến hành tố tụng, các bên cũng khó đạt được kết quả như
mong đợi khi một bên đã không thiết tha với việc giải quyết tranh chấp tại


IV. Phương thức tòa án.
1.Giới thiệu chung về phuơng thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án.
Tòa án là phương tức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà
nuớc, đuợc tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết


định của tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ đuợc bảo đảm thi
hành bằng sức mạnh cuỡng chế của nhà nuớc. Việc giải quyết tranh chấp thuơng mại tại
tòa án không những phải tuân thủ các quy định về thẩm quyền khá rắc rối mà còn phải
tuân theo một thủ tục rất nghiêm ngặt của luật tố tụng. Việc giải quyết tranh chấp về kinh
doanh thuơng mại tòa án bao gồm nhiều quy định khác nhau. Khi có tranh chấp nguời có
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu muốn tòa án bảo vệ quyền và lợi ích thì phải
gửi đơn kiện đến đúng cấp tòa án có thẩm quyền. Tòa án sẽ xem xét vụ việc và xét xử
theo thủ tục sơ thẩm và ra bản án sơ thẩm. Nếu các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm
thì có quyền kháng cáo yêu cầu cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Việc giải quyết
tại tòa án còn có thể đuợc xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm.

2.Thẩm quyền của tòa án.
Thẩm quyền của toà án về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thuơng mại đuợc
phân định theo vụ việc, theo cấp tòa án, theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn
và đã quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự. Ở đây ta xem xét khía cạnh thẩm quyền của
tòa án theo vụ việc.
Điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 phần I Nghị quyết số 01/20056/HĐTP của hội đồng thẩm
phán tòa án nhân dân tối cao ngày 31/3/2005 về huớng dẫn thi hành một số qui định trong
phán những quy định chung của BLTTDS 004 thì tòa kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải
quyết cac tranh chấp về kinh doanh, thuơng mại theo quy định tại điều 29 BLTTDS, cụ
thể là những tranh chấp kinh doanh thuơng mai sau:
Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong họat động kinh doanh, thuơng mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm 14 lĩnh

trí tuệ đối với họat động kinh doanh của doanh nghiệp, việc BLTTDS quy định tranh
chấp về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là một lọai tranh chấp kinh doanh,
thuơng mại phù hớp và cần thiết.
Thứ tư, các tranh chấp khác về kinh doanh, thuơng mại và pháp luật có qui định. Xuất
phát từ họat động kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thị truờng rất đa dạng, phức tạp
nên các tranh chấp thuơng mại cũng rất phong phú, đa dạng. Vì vậy các nhà làm luật khó
có thể liệt kê đuợc mọi tranh chấp khác về kinhh doanh, thuơng mại. Đây là qui địnnh mở
mang tính dự phòng và đón đầu của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
luôn biế động đặc biệt là các quan hệ kinh doanh và các tranh chấp kinh doanh, thuơng
mại.
Hiện nay, những tranh chap trong kinh doanh thuơng mại khác mà chưa xác định là
lọai tranh chấp nào, chúng sẽ thuộc quyền giải quyết của tòa án cấp tỉnh hay cấp huyệ
cũng chưa đuợc pháp luật đề ra những tiêu chí nhất định. Do đó để hạn chế sự hạn chế và
đùn đẫy lẫn nhau giữa các tòa án các cấp. Ngay từ bây giờ cần phải có quy định cụ thể và
vấn đề này theo huớng các tranh chap khác nếu phát sinh trên thực tế sẽ do tòa án nhân
dân cáp tỉnh giải quyết, để phòng truờng hợp có những vụ án quá phức tạp đòi hỏi thẩm
phán phải có trình độ cao.

3.Thủ tục giải quyết:
Thủ tuc giải quyết về tranh chấp kinh doanh, thuơng mại tại tòa án cũng như thủ tục
giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, gồm có:
-

Thủ tục giẩi quyết vụ án tại tòa án tại tòa án cáp sơ thẩm, gồm có: khơi kiện và thụ
lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, phiên tòa sơ thẩm.


-

Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm.

giải viên.

2.

Kết hợp trọng tài với trung gian hòa giải:
Một số hợp đồng quy định quy trình giải quyết tranh chấp theo 2 cấp : sử dụng trung
gian hòa giải, trường hợp không thành công sẽ sử dụng tố tụng trọng tài. Ít nhất, các bên
phải có thỏa thuận ngụ ý về quy trình này, đó là các bên cố gắng giải quyết tranh chấp
một cách thân thiện trước khi nhờ đến trọng tài hoặc tòa án. Đối với hợp đồng dài hạn,
các bên phải giữa quan hệ tốt, thậm chí cả khi tranh chấp phát sinh để có thể duy trì giao
dịch trong tương lại. Trong trường hợp này, nỗ lực đạt được thỏa thuận giải quyết tranh


chấp một cách thân thiện là hoàn toàn cần thiết. Nếu các bên cắt đứt quan hệ và không
huy vọng vào quan hệ tương lại thì sử dụng trung gian hòa giải là vô ích, trường hợp đó,
cách duy nhất là sử dụng trọng tài. Một số tổ chức trọng tài quy chế có các điều khoản
mẫu kết hợp hòa giải với trung gian trọng tài : VD điều khoản trung gian của WIPO.
3.

Trọng tài hay tòa án:
Đối với hợp đồng quốc tế, các bên rất khó thỏa thuận để lụa chọn một tòa án quốc
gia. Hơn nữa, lựa chọn một tòa án quốc gia ở nước thứ ba thì hầu như không thích hợp.
Tố tụng tòa án thường kéo dài vì các tòa án thường bị quá tải công việc, hơn nữa toà án
có các cấp thẩm quyền khác nhau, điều này khiến cho bên chưa thỏa mãn có cơ hội yêu
cầu xem xét lại nội dung vụ kiện. Hơn nưa,x tòa án không phải bao giờ cũng chuyên về
các vấn đề thuowgn mại và thẩm phán chưa hẳn đã có đủ kiến thức để giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế. Nhìn chung, đặc trưng của tố tụng tòa án là các quy tắc, thủ tục
nghiêm ngặt, thường khá cứng nhắc.
Đặc trưng của tổ chức trọng tài quốc tế là quy tắc “tính độc lập của các bên”. Các
bên tùy ý tổ chức tổ tụng bằng cách dẫn chiếu quy tắc tố tụng trọng tài sẵn có hoặc soạn

giải và trọng tài hết sức phổ biến, chiếm ưu thế, nhưng ở quốc gia còn đang trong
quá trình chuyển đổi như Việt Nam thì việc giải quyết vấn đề bằng Tòa án vẫn giữ
vai trò quan trọng. Do đó mà khi áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp
vào thực tiễn, ta cần linh hoạt tùy theo hoàn cảnh.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status