lời nói đầu
1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,
ngành Viễn thông Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt
Nam đã nhanh chóng hiện đại hoá được mạng lưới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về
cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Đến hết
năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số huyện đã được trang bị tổng đài điện
tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu hết các tỉnh, thành phố, thị xã
đã liên lạc trực tiếp khắp cả nước và các nước trên thế giới qua 3 tổng đài, 6 trạm vệ
tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà nhập với
mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam
vẫn còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nước ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và
trong khi đó ở Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100
dân, Hàn Quốc 43,04 máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62
máy/100 dân... Mục tiêu đến năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đưa
mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100 dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp
tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại
đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Để đạt được mục
tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt Nam đòi hỏi một
khối lượng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trước xu thế
hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã lan
sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn thông Việt
Nam khi bước vào thế kỷ 21. Đứng trước những yêu cầu như vậy, thì từ nay đến năm
2020 dịch vụ Viễn thông Việt Nam phải có một chiến lược phát triển phù hợp với tình
hình kinh tế xã hội đất nước, phù hợp với hiện trạng Viễn thông Việt Nam; để có thể
phát huy được nội lực, thu hút vốn nước ngoài và hội nhập quốc tế. Từ tình hình đó, đề
tài “Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam trước xu
thế hội nhập quốc tế” mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong thời gian
tới, trong chương này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trường dịch
vụ Viễn thông của một số nước trên thế giới. Chương I bao gồm 4 vấn đề được trình
bày sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược tự do hóa và mở cửa
thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông
các nước trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lưu không thể đảo ngược, và việc tham gia của
các quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế
thương mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng được củng cố và phát triển cả về
lượng và chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bước sang
một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá “Cơn lốc hoà nhập kinh tế “đã cuốn tất cả
các nước trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến
chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đưa
nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị
trường buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội
nhâp kinh tế quốc tế là con đường ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc tế,
là phương thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế toàn
3
cầu. Còn đối với các quốc gia đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế không những là
chiến lược quan trọng thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế xã hội mà còn là sự lựa chọn
không thể tránh khỏi để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Hơn nữa ngày nay
đông lực của hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ nhằm khai thác lợi thế so sánh mà còn
4
dù trong năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhưng
tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thương mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực như
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dương - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA..đã đóng
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới. Trong đó tổ chức
thương mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu
hướng toàn cầu hoá thương mại. Tại hội nghị cấp bộ trưởng lần thứ nhất của WTO họp
ở xingapore với 128 nước tham gia đã thông qua được hiệp định công nghệ thông tin
ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản
phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa học.
Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán Singapore
càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu
Như vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA...và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trường, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nước phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thương mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nhân tố rất
quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994 là
209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450 tỷ
USD. Với việc đầu tư ra nước ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thương mại quốc tế. Nhưng
ngược lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc đẩy các
công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài. Các nước G7 là các nước đứng đầu về đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài. FDI vào châu á chiếm khoảng 1/3 FDI toàn thế giới
Các công ty đa quốc gia MNCs là lực lượng chủ chốt đầu tư ra nước ngoài.
Hàng năm các MNCs đầu tư ra khoảng 300-350 tỷ USD. Hoạt động của MNCs đã có
minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nước thành viên Cộng
đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định thư vào năm 1996 thành lập
khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nước ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ tư trên thế giới
với 250 triệu người tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nước này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hướng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
6
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nước
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực Thái
Bình Dương phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cường hợp tác khu vực nhằm
tạo một thị trường có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nước trong tổ chức SAARC
-Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ, Pakistan đã
đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cường buôn bán và
hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu tư và kỹ thuật với hy vọng thành lập được
một khu vực buôn bán giống như ASEAN
Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa
qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam á
ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nước ở
trong khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nước thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ tư
trên thế giới, có diện tích 3,3 triệu km2 với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD,
xuất khẩu hơn 300tỷ USD/năm. AFTA đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch tự do
buôn bán vào năm 2003 hoặc sớm hơn, thúc đẩy hình thành khu vực đầu tư tự do
ASEAN và sau đó từng bước tiến tới nhất thể hoá ASEAN về kinh tế trong vùng vài ba
chục năm tới
hội nhập quốc tế của mình. Nhưng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ trên đều
phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nước trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nước. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hướng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế và mở rộng
được nhiều thị trường xuất khẩu ra bên ngoài do việc được hưởng quy chế tối huệ quốc
(MFN) và ưu đãi quốc gia (NT) của các nước thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất
khẩu mà ta có lợi thế so sánh như gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép...
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp
tác về thương mại với các nước khu vực châu á - Thái Bình dương. Thương mại giữa
Việt Nam và các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương chiếm hơn 80% tổng
lượng thương mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai
8
thác được lợi thế, tận dụng những ưu đãi của APEC dành cho các nước đang phát triển,
tránh rơi vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực.
+ Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách
thể chế, chính sách, luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của các tổ chức này. Điều này công
với các lợi thế so sánh mà lâu nay Việt Nam có như lao động, vị trí địa lý... sẽ tạo điều
kiện cho Việt Nam có cơ hội thu hút được vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực để các công ty trong nước đổi mới
công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, tăng cường hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất
áp dụng thống nhất chính sách thương mại trên phạm vi cả nước; và có thời gian biểu
cho quá trình cải cách kinh tế.
3.2.2. Những thách thức:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thương mại và đầu tư, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn nếu
như cải cách trong nước không được thực hiện kịp thời và đúng lượng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thương
mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo được những điều kiện hợp lý để tăng
cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải
quyết được trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất
nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã
không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng như kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản
xuất đến dịch vụ chưa chuẩn bị hay chưa xây dựng một chiến lược thống nhất về hội
nhập để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tượng Việt Nam trên
thương trường quốc tế.
+ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới
nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ gặp khó khăn.
II - Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập.
Trong thời gian tới xu hướng hội nhập nói chung vẫn tiếp tục được củng cố và
phát triển cả bề rộng và bề sâu, trong đó đáng chú ý là xu hướng đẩy nhanh việc mở
10
3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh.
4. Các dịch vụ TELEX.
11
5. Các dịch vụ Telegraph.
6. Các dịch vụ Facsimile.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ thư điện tử (E mail)
2. Dịch vụ thư thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lưu trữ
và tự động chuyển, lưa trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).
8. Các dịch vụ khác.
Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu tiên
được đưa ra đàm phán và cam kết trong GATT 93 (tiền thân của WTO). Kết thúc vòng
đàm phát GATT93, đã có 68 nước trên thế giới có cam kết với cấc dịch vụ Viễn thông
VAS . Sở dĩ các nước bàn và cam kết mở cửa các dịch vụ VAS trước vì đây là những
dịch vụ dễ triển khai về kỹ thuật và ít ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế cũng như an
ninh quốc gia của các nước.
Tuy nhiên, hoạt động có ý nghĩa nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất về thương
lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới.
1.2. Xu hướng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hướng
khuyến khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư
nhân trong khai thác dịch vụ Viễn thông.
Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển, thị trường dịch vụ
Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị về mặt
truy nhập nội hạt và lưu lượng đường dài trong nước và quốc tế. Đồng thời các công ty
này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc quyền đã làm
cho giá cả thường mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến khích giảm chi phí
hay nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền trong Viễn thông có
13
liên quan đến an ninh quốc phòng. Nhưng trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá trong
khai thác dịch vụ Viễn thông, hầu như Chính phủ các nước trên thế giới đã cho phép
thêm nhiều công ty được tham gia vào thị trường dịch vụ Viễn thông. Các lĩnh vực
khuyến khích các công ty tham gia khác thác thường là các lĩnh vực hấp dẫn, có lợi
nhuận cao như là các dịch vụ đường dài quốc tế, di động, các thiết bị đầu cuối khách
hàng và các dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty được tham gia khai thác dịch
vụ Viễn thông nhằm tăng cường sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy Viễn thông phát triển.
Tuy nhiên việc đưa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn thông không phải là một quá
trình xảy ra nhanh chóng kể cả những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ,
Pháp.... Thông thường lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai hoặc ba công ty cạnh tranh
khai thác các dịch vụ Viễn thông, và các công ty mới thành lập thường bị hạn chế về
phạm vi khai thác.Ví dụ:Như ở các nước đang phát triển các công ty mới thành lập lúc
đàu chỉ được khai thác dịch vu nội hạt, các dịch vụ giá trị gia tăng và thông tin di
động.Sau một thời gian mới cho phép tham gia khai thác các dịch vụ cơ bản, có phạm
vi đường dài và quốc tế. Tuy nhiên hầu như các nước đều duy trì một công ty chủ đạo
như công ty NTT của Nhật Bản, BT của Anh, ATT của Mỹ ,FT của Pháp... Thông
thường trên thế giới, dịch vụ thông tin di động, nhắn tin được khuyến khích sự tham
gia của nhiều công ty, tại vì:
sử dụng
Khi xem xét hai xu hướng chủ yếu về Viễn thông kể trên phải kể đến vai trò của
các công ty đa quốc gia - MNCs trong lĩnh vực khai thác dịch vụ Viễn thông. Chính
các công ty này là chất xúc tác cho quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá Viễn thông. Các
MNCs đã xây dựng một mạng lưới thông tin có tính toàn cầu từ đầu này đến đầu kia,
không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ước, hiệp định về
tự do hoá thương mại dịch vụ Viễn thông giữa các nước được thực hiện thì các MNCs
thường thường hay liên minh với các công ty khai thác nhà nước ở nước sở tại để xâm
nhập vào thị trường các nước này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn thông chủ yếu tập
trung ở các nước phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi thế về vốn, công
nghệ, thị trường các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các loại hình dịch vụ
Viễn thông, từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản.
1.3. Xu hướng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh
truyền hình và đa phương tiện.
Bước vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật
Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần dần
nới lỏng việc quản chế thị trường Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học và phát
thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ lẫn nhau,
ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trước kia ngày càng không rõ ràng. Sự hoà
nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lưới, hoà nhập về nghiệp vụ và hoà
nhập về thị trường. Xu hướng này được chứng minh bởi sự sáp nhập và liên hợp ngày
càng nhiều của các công ty khai thác Viễn thông, máy tính truyền hình và hữu tuyến.
15
Ví dụ:
+ Tháng 1/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ đã bỏ ra 4,4 tỉ USD mua
lại Công ty New Southern England để tiến vào thị trường điện thoại nội hạt Đông Bắc
nước Mỹ.
+ Ngày 15/9/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ lại cùng với công ty
Viễn thông lớn thứ bảy của Hoa Kỳ, cũng là nhà đầu tư ngoại quốc lớn nhất vào thị
trường Viễn thông Châu Âu, là công ty Ameritech, đã chính thức sáp nhập với giá đến
để được gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, và cũng đang tiến hành
thương lượng với Hoa Kỳ để đi đến ký hiệp định thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên
để hội nhập đầy đủ vào các tổ chức này thì Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ mà các tổ chức kinh tế quốc tế yêu cầu trong đó có nghĩa vụ tự do hoá thương mại
dịch vụ. Trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông
trên thế giới, thì vấn đề tự do hoá Viễn thông là một yêu cầu, một nghĩa vụ cấp bách
đối với Việt Nam khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt để được gia nhập
vào WTO cũng như ký được hiệp định thương mại Việt Mỹ thì tự do hoá dịch vụ Viễn
thông là một trong những vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu.
2.1. Trong tổ chức thương mại thế giới - WTO.
Sau vòng đàm phán Uruguay, quá trình tự do hoá thương mại được mở rộng ra đối
với cả thương mại dịch vụ. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS là nỗ lực đầu
tiên để đưa lĩnh vực thương mại dịch vụ theo những nguyên tắc điều tiết của thương mại
đa biên. GATS đưa ra một số quy định về nghĩa vụ chung và những yêu cầu cụ thể trong
thương mại dịch vụ. GATS đề cập đến một số khái niệm, nguyên tắc và quy định cho phép
các nước đang phát triển linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quá trình tự do hoá thương
mại dịch vụ. Trong vòng đàm phán Uruguay về thương mại đa biên, 11 ngành dịch vụ đã
được đưa ra đàm phán trong đó có lĩnh vực dịch vụ Viễn thông.
Hiện tại, thị trường dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam vẫn được chính phủ bảo hộ
ở mức khá cao. Chỉ có 3 công ty được phép khai thác dịch vụ Viễn thông đó là: Tổng
công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam - VNPT; Công ty Viễn thông quân đội -
VIETTEL; Công ty cổ phần Viễn thông Sài Gòn - SPT. Còn đối với các công ty nước
ngoài chỉ được khai thác dịch vụ Viễn thông dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh -
BCC. Quy chế đối xử quốc gia (NT) vẫn chưa được dành cho các công ty dịch vụ Viễn
thông nước ngoài. Các công ty này đang phải tiếp tục đối mặt với những hạn chế hành
chính trong quá trình hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng như các lĩnh vực khác,
việc thiếu tính minh bạch và một cơ chế luật pháp thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng nhiều
đến sự tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam. Vì
vậy để được gia nhập vào WTO, Việt Nam phải đưa ra biện pháp cho phép các công ty
nước ngoài xâm nhập thị trường dịch vụ Viễn thông. Việt Nam cần phải có các nghiên
thương mại dịch vụ GATS của tổ chức thương mại thế giới WTO.
APEC hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện thể hiện ở hai điểm:Thứ
nhất, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế liên chính phủ nhằm xúc tiến sự hợp
tác, tăng trưởng và phát triển của khu vực. Thứ hai, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn
kinh tế nên nó không đưa ra những chỉ thị, nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với các
thành viên, mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi ích
của các bên. Do vậy trong quá trình hợp tác, Việt Nam có thể tham gia ở lĩnh vực và
mức độ nào đó mà Việt Nam đủ khả năng. APEC đưa ra chương trình tự do hoá mậu
dịch đối với cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng là năm 2010 với các nước phát triển và
18
năm 2020 với các nước thành viên đang phát triển. Mỗi nước thành viên được tuỳ ý,
căn cứ vào thực tiễn đất nước mình mà đưa ra một kế hoạch hành động trong đó vạch
rõ lộ trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác gây cản trở thương
mại và đầu tư. Vì vậy trước mắt Viễn thông Việt Nam sẽ không gặp nhiều khó khăn
khi tham gia APEC vì Việt Nam có thể tạm thời dùng những cam kết của Việt Nam với
ASEAN và trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ để áp dụng với APEC. Ngoài ra một
lợi thế khác là Việt Nam chưa gia nhập WTO.
Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài thì Việt Nam không tránh khỏi phải chịu một sức
ép ngày càng tăng đối với tiến trình tự do hoá thương mại các dịch vụ Viễn thông, mốc
cuối cùng đối với Việt Nam là 2020 - tức là đến 2020 Việt Nam phải tự do hoá thị
trường dịch vụ Viễn thông dành cho nhau các ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia.
Ngoài ra, do tính chất ràng buộc lẫn nhau của các nguyên tắc trong WTO, ASEAN và
APEC, việc Việt Nam tham gia các hoạt động về Viễn thông trong APEC cũng sẽ gặp
phải những thách thức lớn về mở cửa thị trường. Tại Hội nghị Vancouver APEC đã đề
ra 9 lĩnh vực dịch vụ tự do hoá trong đó có dịch vụ Viễn thông . Do vậy lĩnh vực dịch
vụ Viễn thông có thể được thúc đẩy tự do hoá sớm hơn thời hạn từ năm 2020.
2.4. Trong Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Việt Nam và Mỹ đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao từ tháng 7/1995. Hiện
nay hai nước đang tiến hành đàm phán Hiệp định thương mại song phương toàn diện,
hiệp định này sẽ bao gồm nhiều vấn đề về thương mại dịch vụ trong đó có dịch vụ
như quá trình xây dựng lộ trình hội nhập về dịch vụ Viễn thông. Mặt khác với thể chế
quản lý yếu kém và lạc hậu tồn tại trong một thời gian dài đã ảnh hưởng không ít tới
sự phát triển của Viễn thông Việt Nam.
+ Hội nhập cũng đồng nghĩa với việc đứng trước những áp lực về mở cửa thị
trường, dành ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cho các nước, các công ty và tổ
chức kinh doanh khai thác dịch vụ Viễn thông nước ngoài. Trong khi đó các công ty
trong nước nhất là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam do hoạt động trong
một môi trường độc quyền với một thời gian dài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do sức ép
cạnh tranh từ việc mở cửa thị trường. Mặt khác so với các công ty khai thác dịch vụ
Viễn thông trên thế giới thì các công ty của Việt Nam còn thu kém rất nhiều mặt: Công
nghệ, tài chính, thị trường, kinh nghiệm quản lý... và một điều quan trọng là các công
ty này được hoạt động trong một môi trường cạnh tranh khá dài cho nên kinh nghiệm
kinh doanh của họ hơn hẳn các công ty Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới, việc tự
do và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông đồng nghĩa với việc các công ty trong
nước sẽ mất dần thị trường do không đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài.
+ Việc tự do và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông dẫn đến việc thành lập
nhiều công ty trong nước cũng như cho phép các công ty nước ngoài cùng tham gia vào
khai thác dịch vụ Viễn thông. Đối với các công ty, đặc biệt là các công ty nước ngoài,
với họ lợi nhuận vẫn đặt lên hàng đầu. Do vậy các công ty khai thác dịch vụ sẽ tập
trung tranh giành thị trường ở các vùng thành thị, khu công nghiệp và mảng thị trường
sinh lợi cao trong khi những vùng sâu, vùng xa và các mảng thị trường không sinh lợi,
20
mang tính chất công ích không ai làm, dẫn đến sự mất cân đối trong việc phát triển
kinh tế - xã hội và làm cho Nhà nước mất dần quyền kiểm soát đối với thị trường Viễn
thông, phải lệ thuộc vào các công ty mạnh (thường là các công ty nước ngoài).
+ Đội ngũ cán bộ chưa đủ trình độ năng lực nên trong thời gian đầu của quá
trình hội nhập sẽ gặp rất nhiều khó khăn trước những thay đổi nhanh chóng của công
nghệ cũng như thị trường.
3.2. Những cơ hội.
Bên cạnh những thách thức chủ yếu kể trên thì quá trình mở cửa và hội nhập
hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước, trong đó việc hoạch định chiến lược tự do hoá và mở
cửa thị trường đúng đắn cho mỗi ngành và các biện pháp thực hiện chiến lược đó có
vai trò đặc biệt quan trọng. Việc đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền về kinh tế thế
giới thực sự là một thử thách to lớn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển với những
điều kiện không thuận lợi như Việt Nam.
Tự do hoá và mở cửa thị trường bắt nguồn từ quá trình phát triển về kinh tế của
các nước có nền về kinh tế thị trường phát triển cao. Khi các thành phần kinh doanh
trong nền về kinh tế đứng trước những áp lực gia tăng của thị trường do cạnh tranh gay
gắt và đòi hỏi Chính phủ phải nới lỏng những ràng buộc cứng nhắc của các luật lệ, quy
chế gây cản trở kinh doanh và bỏ dần sự can thiệp sâu. Điều này đã giúp cho các thành
phần về kinh tế phát triển với quy mô toàn cầu bất chấp sự khác biệt về thể chế chính
trị cũng như trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia khác nhau và trở thành chất
xúc tác quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế thế giới trong quá trình toàn cầu
hoá. Như vậy, tự do hoá và mở cửa thị trường là một chiếc “cầu nối” để giúp cho nền
kinh tế nước đó hội nhập một cách đầy đủ vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Quan
hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá, mở cửa thị trường là mối quan hệ hai
chiều, nghĩa là tự do hoá và mở cửa thị trường góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ngược lại hội nhập kinh tế quốc tế tác động tích cực tới việc tự do hoá
và mở cửa thị trường. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia khi tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế thì việc tự do hoá và mở cửa thị trường là một nghĩa vụ, một yêu cầu cấp bách,
và Việt nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ .
2. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược:
Trong thời gian đầu quá trình tự do hoá và mở cửa thị trường diễn ra ở lĩnh vực
thương mại hàng hoá và đầu tư sau đó lan sang các lĩnh vực thương mại dịch vụ. Với
đặc tính toàn cầu tự nhiên, Viễn thông là một trong những ngành dịch vụ sớm chịu tác
động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Ngoài ra, dịch vụ Viễn thông còn
là một ngành kinh doanh có tốc độ tăng trưởng nhanh và đem lại lợi nhuận cao. Xét
trên góc độ tài chính, ngành này chỉ đứng sau lĩnh vực Bảo hiểm và Ngân hàng. Chính
vì vậy lĩnh vực dịch vụ Viễn thông đã trở thành đối tượng đàm phán thương mại rộng
khắp trên toàn cầu. Tổ chức thương mại thế giới WTO đưa ra mục tiêu thực hiện thị
nguồn lực bên trong và bên ngoài để thực hiện được chiến lược đó.
* Trong các doanh nghiệp thì chiến lược được cụ thể hoá dưới góc độ là chiến
lược kinh doanh của một doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và
phát triển thì phải xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với thực trạng của
doanh nghiệp đó. Chiến lược kinh doanh là sự tập hợp một cách thống nhất các mục
tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh chiến
lược tổng thể nhất định. Chiến lược kinh doanh được xem xét như một quá trình ra
quyết định trong đó các nhà quản lý, những người ra quyết định cần phải phân tích môi
23
trường kinh doanh, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, xây dựng
các mục tiêu và tìm kiếm các nguồn lực, các biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu
đó. Mục tiêu là sự cụ thể hoá định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Mục tiêu bao
giờ cũng được phân thành mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, căn cứ vào đó để
đề ra các nhiệm vụ thích hợp cho mỗi giai đoạn. Muốn mục tiêu đề ra sát tình hình thực
tế và có tính khả thi phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Thứ nhất, các mục tiêu phải cụ thể hoá không được chung chung để các cấp
có thể kiểm soát việc thực hiện chúng.
+ Thứ hai, mục tiêu đề ra cần được giới hạn thời gian hoàn thành cụ thể. Đây
không chỉ là đặt ra cái mà Công ty phải đạt được mà đòi hỏi quy định thời hạn cho mỗi
mục tiêu.
+ Thứ ba, muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý và duy trì sự bền vững
của Công ty thì mục tiêu là cái đích có thể đạt được. Việc xác định mục tiêu vượt quá
khả năng (thiếu nguồn lực, không đủ điều kiện...) sẽ dẫn tới những hậu quả xấu.
+ Thứ tư, các mục tiêu phải thống nhất và hỗ trợ cho nhau: mục tiêu ngắn hạn
và tiền đề thực hiện mục tiêu dài hạn.
* Còn đối với chiến lược của một ngành mà cụ thể ở đây không phải là một
chiến lược bó hẹp trong một Công ty mà nó mang tính toàn ngành và được tập trung
vào vấn đề tự do hoá và mở cửa thị trường đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam.
Dưới góc độ quản lý Nhà nước, thì chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường
dịch vụ Viễn thông sẽ gồm:
xem xét một cách đầy đủ ta có thể kết hợp xem xét cam kết về dịch vụ Viễn thông của
các nước tham gia hiệp định về Viễn thông cơ bản trong WTO/GATS và tình hình
Viễn thông của các nước trong thời gian qua. Có thể phân loại các nước ngày thành 3
nhóm và nhóm các nước ASEAN mà Việt Nam là một nước thành viên.
1. Nhóm các nước công nghiệp phát triển.
Các nước ở Bắc Mỹ, cộng đồng Châu Âu và Nhật Bản hiện tại chiếm tới 75%
dịch vụ Viễn thông thế giới.Các nước này có mạng Viễn thông hiện đại đã phát triển ra
nhiều loại hình dịch vụ khác nhau từ các dịch vụ truyền thông như điện thoại, điện báo,
Telex... tới các dịch vụ hiện đại như Internet, điện thoại ảo. Trong hiệp định về Viễn
thông WTO/GATS, bắt đầu từ năm 1998, các nước này đã cam kết hoàn toàn cho các
công ty nội địa và nước ngoài cạnh tranh tự do. Vậy nguyên nhân vào đã khiến cho các
nước này chiếm một vị trí to lớn trong thị trường Viễn thông cũng như họ cam kết tự
do thị trường dịch vụ Viễn thông sớm như vậy.
Nguyên nhân thứ nhất: Các nước này hiện tại vẫn là những nước chủ yếu sản
xuất các thiết bị Viễn thông và có khả năng thay đổi nhanh chóng công nghệ Viễn
thông tiên tiến. Hiện tại, các chỉ tiêu Viễn thông trên thế giới được xây dựng theo 3 tiêu
chuẩn: Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Do vậy muốn hay không muốn tất cả các nước
25