BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC CHĂN NUÔI
VIỆN KHKT NN MIỀN NAM
DỰ ÁN"CHƢƠNG TRÌNH KHÍ SINH HỌC
PHÒNG NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT
CHO NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM ”
CANH TÁC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG NƯỚC XẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH
KHÍ SINH HỌC LÀM PHÂN BÓN CHO RAU CẢI XANH VÀ
XÀ LÁCH Ở ĐỒNG NAI
Đơn vị chủ trì: Viện Khoa học Kỹ thuật NN miền Nam
Đơn vị thực hiện: Phòng Nghiên cứu Kỹ thuật Canh tác
Chủ trì đề tài : TS. Ngô Quang Vinh
TP. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2010
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC CHĂN NUÔI
VIỆN KHKT NN MIỀN NAM
phân hoá học, tƣơng ứng với các mức 0 kg N, 2,3 kg N có trong 30 m3 nƣớc xả, 4,5 kg N
(50 m3 nƣớc xả), 6,7 kg N (80 m3 nƣớc xả), và 9 kg N (100 m3 nƣớc xả) cho 1 ha.
Đề tài đã có một số kết luận quan trọng sau đây: (i) Hàm lƣợng các nguyên tố kim
loại nặng nhƣ Hg, Cd, Pb, As trong cả 3 mẫu nƣớc xả lấy tại Định Quán, Đồng Nai đều
thấp hơn tiêu chuẩn nƣớc tƣới rau an toàn và tiêu chuẩn nƣớc sinh hoạt của Việt Nam. (ii)
Không phát hiện thấy E. coli, và Samonella ở cả 3 mẫu nƣớc xả đã phân tích. Có thấy
Coliform và trứng giun đũa mật số thấp ở 1 trong 3 mẫu nƣớc xả đã phân tích. (iii) Nếu
công trình đƣợc vận hành tốt, nƣớc xả đƣợc tồn trữ dƣới mái che (nhƣ 1 mẫu đã phân tích),
nƣớc xả đạt tiêu chuẩn để trồng rau an toàn (theo tiêu chuẩn trong Quyết định số 99/2008,
ngày 15 tháng 10 năm 2008 của Bộ NN&PTNT). (iv) Có biểu hiện hàm lƣợng lân và các
kim loại nặng tăng lên (rất nhẹ) trong đất sau 2 vụ thí nghiệm. Vê việc lựa chọn công thức
phân bón, Đề tài cũng đã có kết luận: (v) Với cải xanh, nên chọn công thức 20 tấn PC +
42,92 kg N + 50 kg P2O5 + 40 kg K2O + 30 m3 nƣớc xả. Với xà lách: nếu lấy công làm lời
nên bón : 20 tấn PC + 36,14 kg + 50 kg P2O5 + 40 kg K2O + 100m3 nƣớc xả. Nếu phải
thuê công lao động nên chọn nền phân nhƣ trên với 30 m3 nƣớc xả. (vi) Cả rau cải xanh và
xà lách khi đƣợc bón nƣớc xả theo 2 công thức nói trên đều đạt tiêu chuẩn rau an toàn (theo
QĐ 99/2008/QĐ-BNN). (vii) Cải xanh và xà lách ở Gia Canh, Định Quán, Đồng Nai bón
nƣớc xả phối hợp với phân hóa học và phân chuồng nhƣ nói trên đạt hiệu quả kinh tế cao:
cải xanh lãi 97,0 triệu đồng/ha, xà lách lãi 51,0 triệu đồng/ha.
Các tác giả cũng có một số khuyến nghị: Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể
áp dụng cho sản xuất rau an toàn. Tuy nhiên trong các trƣờng hợp cụ thể phải phân tích
kiểm tra mức độ an toàn vệ sinh của nƣớc xả. Cần nghiên cứu phƣơng pháp bảo quản nƣớc
xả KSH để tạo thành phân bón tốt, phù hợp cho sản xuất rau an toàn. Cần nghiên cứu đánh
giá đầy đủ các mặt tích cực và tiêu cực (nếu có) của việc dùng nƣớc xả trồng rau liên tục,
nhiều vụ. Nên nghiên cứu sử dụng nƣớc xả nhƣ là một dạng dung dịch để trồng rau an toàn
theo phƣơng thức thủy canh, nhất là cho rau ăn lá. Nên nghiên cứu sử dụng nƣớc xả cho các
cây trồng khác nữa ở các tỉnh phía Nam, lựa chọn cây trồng nào tùy thuộc vào loại cây
trồng thƣờng có ở các vùng có các công trình KSH.
3
35
Phụ lục
39
4
DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 1. Tổng lƣợng N, P, K ở các công thức thí nghiệm đợt 2 nói trên
Bảng 2: Mật số vi sinh vật có trong 3 mẫu nƣớc xả khí sinh học của 3 hộ gia đình tại
xã Gia Canh, Định Quán, Đồng Nai
Bảng 3: Hàm lƣợng dinh dƣỡng và mật số vi sinh vật có trong 3 mẫu nƣớc xả khí sinh
học của 3 hộ gia đình tại xã Gia Canh, Định Quán, Đồng Nai.
Bảng 4. Trứng giun đũa và E. coli có trong 3 mẫu nƣớc xả ở 2 lần phân tích khác nhau.
Bảng 5. Hàm lƣợng dinh dƣỡng của các mẫu nƣớc xả lấy tại công trình KSH của nông
dân xã Gia Canh, H. Định Quán, tỉnh Đồng Nai so với một số nguồn khác.
Bảng 6. Năng suất cải xanh và xà lách khi tƣới nƣớc xả ở các mức khác nhau (TN tại
xã Gia Canh, H. Định Quán, tỉnh Đồng Nai, từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2009)
Bảng 7. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng các mức nƣớc xả khác nhau để tƣới cho rau cải
xanh và xà lách. (TN tại xã Gia Canh, H. Định Quán, tỉnh Đồng Nai, từ tháng
10 đến tháng 11 năm 2009)
Bảng 8: Năng suất cải xanh và xà lách ở các mức thay thế đạm hóa học khác nhau
bằng đạm từ nƣớc xả KSH (TN tại xã Gia Canh, Huyện Định Quán, tỉnh Đồng
Nai, từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2009).
Bảng 9. Dƣ lƣợng Nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh có trong rau cải xanh
và xà lách đƣợc bón với các công thức phối hợp nƣớc xả và phân hóa học khác
nhau (TN tại xã Gia Canh, Định Quán, Đồng Nai 11-12/2009).
Bảng 10. Số liệu phân tích đất ruộng trƣớc và sau khi thí nghiệm (tại xã Gia Canh, H.
Tại Việt Nam, Dự án Hỗ trợ chƣơng trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi VN
do Chính phủ Hà Lan tài trợ với tổng số tiền 2 triệu USD (giai đoạn 1) đƣợc triển khai
từ tháng 2/2003 tại 12 tỉnh, thành phố gồm Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc
Ninh, Hải Dƣơng, Hoà Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Đắk Lắk, Đồng
Nai và Tiền Giang, dự án đã xây dựng đƣợc 18.000 công trình khí sinh học. Hiện tất
cả các công trình đều hoạt động tốt, cung cấp khí phục vụ nhu cầu sinh hoạt của ngƣời
dân, tiết kiệm chi phí nhiên liệu, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng tại các vùng
phát triển chăn nuôi. Trên cơ sở kết quả giai đoạn 1, Chính phủ Hà Lan đã đồng ý tiếp
tục hỗ trợ giai đoạn 2 của dự án, dự kiến sẽ đƣợc thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011
với tổng mức đầu tƣ 64,4 triệu euro, với mục tiêu xây dựng 180.000 công trình khí
sinh học tại 58 tỉnh, thành trong cả nƣớc. (Chính phủ - 16/12/2005).
6
Các kết quả nghiên cứu trong nƣớc (Viện Chăn nuôi, Viện Thổ nhƣỡng Nông
hóa (TNNH), Trƣờng Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (ĐHNN1) và trên thế giới (Trung
Quốc, Ấn Độ, Philipines v.v) cho thấy: phụ phẩm khí sinh học chứa nhiều loại chất
dinh dƣỡng cần thiết cho vật nuôi nhƣ các nguyên tố Ca, P, N... một số nguyên tố
khoáng vi lƣợng nhƣ Cu, Zn, Mn, Fe... nhiều loại protein, acid amin (AA); trong đó có
cả 9 AA thiết yếu đối với vật nuôi. Phụ phẩm KSH còn chứa nhiều enzim, có tác dụng
làm tăng tính thèm ăn, tăng hiệu quả chuyển hoá thức ăn của vật nuôi. Ngoài ra, phụ
phẩm KSH còn là loại phân hữu cơ có 2 đặc tính quan trọng là giàu dinh dƣỡng và
sạch. Phân này có tác dụng (1) tăng cƣờng hoạt động của hệ vi sinh vật đất thúc đẩy
quá trình phân giải chất hữu cơ, tăng cƣờng và duy trì độ phì nhiêu của đất, (2) cải
thiện cấu trúc và tính chất lý học của đất, (3) tăng năng suất cây trồng và (4) ít gây nên
sâu bệnh hại.
Những nghiên cứu ứng dụng nƣớc xả KSH sử dụng làm phân bón trong nông
nghiệp của nƣớc ta mới chỉ đƣợc quan tâm và thực hiện trong những năm gần đây. Do
đó, số lƣợng các nghiên cứu không nhiều, còn hạn chế về loại cây trồng và chỉ thực
Bể nạp
Bể chứa nƣớc xả
Bể phân giải
Bể điều áp
Hình 1. Sơ đồ một công trình KSH
8
Vận hành không đúng và ảnh hưởng đến nước xả
- Nạp nhiều hay ít nguyên liệu quá
Nếu nạp quá nhiều nguyên liệu thì thời gian lƣu ngắn, nguyên liệu trong bể
không đủ thời gian phân giải, phân tƣơi sẽ tràn sang bể điều áp, chảy ra ngoài gây mất
vệ sinh môi trƣờng. Nếu nạp quá ít nguyên liệu thì tổng sản lƣợng khí thấp dẫn đến
lƣợng khí sử dụng thấp hơn so với thiết kế.
- Pha loãng và hoà trộn nguyên liệu
Pha loãng tạo điều kiện cho quá trình phân giải xảy ra thuận lợi hơn. Hỗn hợp
nƣớc và chất thải đƣợc gọi là nguyên liệu. Đối với chất thải (phân + nƣớc tiểu) động
vật, tỷ lệ pha loãng là 1 - 2 lít nƣớc cho 1 kg chất thải (3 - 4 lít nƣớc cho 1 kg phân
nguyên) tuỳ thuộc vào mức độ nguyên liệu loãng hay đặc. Pha loãng hợp lý sẽ tạo điều
kiện cho quá trình phân giải xảy ra thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nếu nạp quá nhiều nƣớc
sẽ làm cho nguyên liệu bị loãng, chất thải chƣa kịp phân giải đã bị đẩy ra khỏi bể phân
giải khiến năng suất sinh khí kém, nƣớc xả còn lẫn phân tƣơi, mất vệ sinh.
Thành phần hóa học và dinh dưỡng của nước xả
Theo phân tích của Viện Thổ nhƣỡng Nông hóa (Viện TNNH) và trƣờng Đại
học Nông nghiệp I Hà Nội (ĐHNN1), nƣớc xả có hàm lƣợng dinh dƣỡng (tính bằng
ứng là 28 kg N, 10,8 kg P2O5 và 27 kg K2O. Thêm vào đó, bón bổ sung nƣớc xả cho
bắp cải đã làm giảm 50% số lần cần phun thuốc trừ sâu cắn lá cho một vụ.
Tại Ấn Độ, ngƣời ta cũng đã thử nghiệm bón kết hợp nƣớc xả và phân hóa học
có so sánh với bón phân chuồng kết hợp với phân hóa học cho đậu, mƣớp, đậu tƣơng
và ngô. Kết quả cho thấy, với cùng lƣợng phân hóa học nhƣ nhau, khi bón bằng nƣớc
xả, năng suất tăng 19% với đậu, 14% với mƣớp, 12% với đậu tƣơng và 32% với ngô
so với lô bón phân chuồng kết hợp phân hóa học.
c) Hạn chế sâu bệnh. Bón phụ phẩm KSH (chất lƣợng tốt) có thể kìm hãm, hạn
chế: rệp xanh hại rau, bông và lúa mỳ; bệnh đốm lá ở một số loại cây trồng; nói chung
có thể hạn chế sự phát triển của sâu bệnh 30-100%. Nếu trộn vào phụ phẩm KSH một
lƣợng nhỏ thuốc trừ sâu (khoảng 10%) sẽ tăng đƣợc hiệu quả của thuốc trừ sâu, hiệu
quả nhanh (sau 48 giờ đã có tác dụng) do đó có thể giảm bớt lƣợng thuốc trừ sâu bón
cho cây trồng, hạn chế độc hại, ô nhiễm môi trƣờng và tiết kiệm.
Sử dụng phụ phẩm KSH làm phân bón cho cây trồng có thể thay thế hoàn toàn
hoặc một phần phân hóa học. Nƣớc xả có thể sử dụng trực tiếp nhƣ bón vào gốc hay
phun lên lá, có thể hòa thêm một số loại phân hữu cơ hoặc dùng riêng để bón cho cây trồng.
10
Tổng hợp kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, Dự án KSH đã có khuyến cáo
ghi trong tài liệu Tập huấn kỹ thuật viên về KSH nhƣ sau:
Bón cho bắp cải với quy trình: bón lót 100 kg P2O5 30 kg N 25 kg K2O; bón
lúc hồi xanh: 20 kg N, 2 m3 nƣớc xả; lúc trải lá nhỏ: 30 kg N, 25 kg K2O, 1,5 m3 nƣớc
xả; lúc trải lá rộng: 30 kg N; 1,5 m3 nƣớc xả ; chuẩn bị cuốn: 20 kg N, 1 m3 nƣớc xả;
lúc cuốn: 20 kg N, 10 K2O, 1 m3 nƣớc xả.
Bón cho su hào 8 tấn phân chuồng, 33 - 40 kg N 90 - 100 kg P2O5, 50 - 60 kg
K2O; bón lúc cây hồi xanh: 8 - 10 kg N,5 - 6 kg K2O, 1 - 1,2 m3 nƣớc xả; sau trồng 20
- 25 ngày: 12 - 15 kg N,10 - 12 kg K2O, 1,5 m3 nƣớc xả; sau trồng 35 - 40 ngày: 15 20 kg N, 10 - 12 kg K2O, 2 - 2,5 m3 nƣớc xả.
Bón cho cải xanh, cải ngọt: 20 tấn phân chuồng, 20 kg N, 50 – 70 kg P2O5, 17
trồng phổ biến, trong đó cải xanh và xà lách là hai loại rau đƣợc trồng nhiều và thƣờng
xuyên sẽ đƣợc chọn làm đối tƣợng nghiên cứu. Chọn rau cải xanh cũng là để có điều
kiện để tham khảo và so sánh với công thức phân bón đã đƣợc giới thiệu nói trên.
2.
Mục tiêu của đề tài
2.1
Mục tiêu tổng quát
Xác định đƣợc công thức phân bón có sử dụng nƣớc xả phù hợp với rau cải
xanh và xà lách trồng tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai làm cơ sở để khuyến cáo
nông dân sử dụng rộng rãi nguồn hữu cơ này.
2.2
-
Mục tiêu cụ thể
Đánh giá đƣợc hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng, kim loại nặng và một số vi sinh
vật liên quan đến độ an toàn thực phẩm của rau nhƣ E. coli, Samonella,
Coliform và trứng giun đũa.
-
Xác định đƣợc công thức phối hợp tốt nhất giữa nƣớc xả và phân khoáng đối
với cải xanh và xà lách trồng trên đất bazan huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
-
nhất (hiệu quả kinh tế và an toàn thực phẩm).
Ngoài ra, việc vận dụng thực tế để tiến hành nghiên cứu cho phù hợp nhƣ việc
chọn hộ gia đình và lấy mẫu cũng nhƣ không bố trí thí nghiệm trên ruộng đã đƣợc tƣới
nƣớc xả ở các vụ trƣớc cũng thể hiện cách tiếp cận khoa học và hợp lý của chúng tôi .
Cụ thể:
- Do điều kiện về thời gian và yêu cầu phải làm thí nghiệm tại Đồng Nai, nên
nguồn nƣớc xả hoàn toàn phụ thuộc vào thực tế. Trong khi đó, chúng tôi đã khảo sát
và chỉ tìm đƣợc 1 hộ vận hành, quản lý công trình KSH cũng nhƣ tồn trữ, bảo quản
nƣớc xả tƣơng đối tốt. Do vậy bắt buộc phải lấy nƣớc xả của hộ này để làm thí nghiệm.
- Theo yêu cầu của Dự án, thí nghiệm phải đƣợc đặt tại hộ có công trình KSH.
Tuy nhiên, khi khảo sát, những hộ có công trình KSH và có trồng rau, ruộng rau của
họ đã đƣợc tƣới nƣớc xả nhiều vụ. Việc làm thí nghiệm bón nƣớc xả trên các ruộng
này sẽ không cho kết quả chính xác, chúng tôi đã phải lấy nƣớc xả từ hộ này đem tới
làm thí nghiệm ở hộ khác, nơi ruộng rau chƣa từng đƣợc tƣới nƣớc xả.
13
Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
4.
4.1 Vật liệu nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: nƣớc xả của các công trình KSH tại xã Gia Canh, huyện Định
quán, tỉnh đồng Nai.
- Thời gian, địa điểm: Nghiên cứu đƣợc tiến hành từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2009,
tại xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
4.2 Nội dung
Đề tài thực hiện 2 nội dung: (1) phân tích nƣớc xả và (2) nghiên cứu sử dụng nƣớc xả
KSH.
Nơi phân tích mẫu: Các mẫu đất, nƣớc xả và rau đƣợc phân tích tại Trung tâm kỹ
thuật tiêu chuẩn đo lƣờng chất lƣợng 3 và Viện Khoa học Kỹ thuật NN miển Nam. Tại
đây có các phƣơng pháp phân tích phù hợp đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền của Nhà
nƣớc công nhận.
4.3 Phương pháp nghiên cứu
a/ Phân tích nước xả
a1/ Lấy mẫu nước xả
Để dùng nƣớc xả tƣới rau, trên nguyên tắc, việc vận hành công trình KSH phải
thật tốt, đúng quy trình, khi đó nhiều vi sinh vật gây hại đã bị tiêu diệt trƣớc khi nƣớc
xả chảy ra bể chứa. Trên thực tế, khi khảo sát chúng tôi thấy không có hộ nào làm
đúng quy trình.
Cụ thể, tại xã Gia Canh, có 7 công trình KHS, xây dựng năm 2009, theo mẫu
thiết kế của Dự án KSH hƣớng dẫn. Trong 7 công trình có 3 kiểu KT1 và 4 kiểu KT2,
6/7 công trình có đủ bể nạp, bể phân giải, bể điều áp và bể chứa nƣớc xả, 1/7 công
trình không có bể chứa nƣớc xả nên xả thẳng ra vƣờn cây ăn quả. Thể tích bể nạp của
các công trình này từ 10 đến 12 mét khối.
Việc vận hành công trình KSH của 7 hộ đều có chung một tình trạng nhƣ sau:
toàn bộ lƣợng phân và nƣớc rửa chuồng đƣợc nạp trực tiếp vào bể phân giải với tần
suất 2 lần/ngày (6 hộ). Lƣợng nƣớc rửa chuồng rất lớn, thƣờng 500 – 1000 lít/lần tuỳ
thuộc vào số lƣợng lợn nuôi; tỷ lệ phân/nƣớc nạp từ 1/5 – 1/7, do đó nƣớc xả thƣờng
chảy ra bể chứa hoặc vƣờn ngay khi nạp. Duy nhất hộ ông Trung có bể chứa nƣớc xả
lớn (70 m3), có mái che kín, số lần rửa chuồng chỉ 1 lần/ngày, lƣợng nƣớc rửa ít do đó
15
nƣớc xả chảy ra bể chứa ít và ở đây nƣớc xả đƣợc ủ lâu (thƣờng 6 tháng) nên gần nhƣ
không có mùi hôi. Trong điều kiện thực tế nhƣ vậy, chúng tôi đã lấy 3 mẫu nƣớc xả
tại 3 hộ nhƣ sau:
- 1 mẫu lấy ở hộ ông Dƣơng Minh Trung, là nƣớc đã tích trữ trong bể có mái che
đƣợc 3 tháng.
ủ tiếp bên ngoài thêm 30 ngày nữa thì trứng giun đũa và E coli có mất hay giảm
không. Kết quả so sánh này vừa để giải thích các hiện tƣợng trong thí nghiệm, vừa để
có ý tƣởng, đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm khắc phục hiện trạng vận hành
không đúng, chất lƣợng nƣớc xả có thể không đảm bảo nhƣ hiện nay.
Thực tế đã tiến hành:
Phân tích lần 1: ngày 01/10/2009 và phân tích lần 2 ngày 10/11/2010.
b/ Nghiên cứu sử dụng nước xả.
Vật liệu sử dụng bao gồm: Nƣớc xả từ công trình KSH lấy từ hộ ông Trung
(nhƣ đã nói trên), phân hữu cơ ủ hoai mục, phân hóa học (NPK, Supper lân,
Kaliclorua,…), thuốc BVTV dự phòng: Topsin M, Ridomil, Vertimec 1.8EC, Song mã
24.5EC.
Thí nghiệm cải xanh đặt tại hộ ông Nguyễn Thanh Hoài, địa chỉ: Ấp 1, xã Gia
Canh, H. Định Quán. Tổng diện tích đất trồng rau của gia đình 4300 m2. Các cây rau
chính thƣờng trồng gồm: Cải xanh, cải ngọt, cải thìa, mồng tơi, rau muống, xà lách,
rau mùi. Gia đình đã có kinh nghiệm trồng rau 8 năm. Đất bố trí thí nghiệm thuộc loại
đất bazan, nâu đen, có hệ thống tƣới phun mƣa, tốt. Ruộng bằng phẳng, thoát nƣớc tốt,
chƣa từng tƣới nƣớc xả.
Thí nghiệm xà lách đặt tại hộ ông Nguyễn Văn Nhiệm, địa chỉ: Ấp 4, xã Gia
Canh, H. Định Quán. Tổng diện tích đất trồng rau của gia đình 1000m2. Hộ chuyên
trồng xà lách, đã có 6 năm kinh nghiệm trồng rau. Đất bố trí thí nghiệm thuộc loại đất
bazan, nâu đỏ, tƣới vòi sen cầm tay. Ruộng bằng phẳng, thoát nƣớc tốt, chƣa từng tƣới
nƣớc xả.
-
Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Vụ 1 làm 2 thí nghiệm để xác định công thức phân bón tốt cho cải xanh (ký hiệu
TN 1A) và công thức phân bón tốt cho xà lách (Ký hiệu TN 1B). Vụ 2 cũng làm 2 thí
nghiệm để xác định khả năng thay thế phân hoá học (trong công thức tốt tìm đƣợc qua
+
NPK
+
1,5 m3 nƣớc xả
CT 3:
PC
+
NPK
+
2 m3 nƣớc xả
CT 4:
PC
+
NPK
+
- Bón (tƣới) thúc, tính cho 1 ha:
+ Lần 1 (7 ngày sau trồng): 15 kg N + 10 kg K2O + ½ tổng lƣợng nƣớc xả
+ Lần 2 (15 ngày sau trồng): 10 kg N + 10 kg K2O + ½ tổng lƣợng nƣớc xả.
Cụ thể lƣợng phân bón đƣợc tính toán, cân (phân hóa học) và đong (bằng lít, 1 lít tƣơng
đƣơng với 1/1.000 m3) cho từng công thức, hòa tan phân hóa học và thêm nƣớc lã cho đủ tƣới.
Lƣợng dung dịch (phân và nƣớc) đủ tƣới dựa vào kinh nghiệm tƣới nƣớc cho rau của nông
dân (tối thiểu là 2 lít/m2). Phƣơng pháp nhƣ thế này đảm bảo khoa học ở chỗ, khi nói đến bón
phân, tƣơng tự nhƣ phun thuốc sâu, cần quan tâm đến lƣợng phân nguyên chất cung cấp cho 1
đơn vị diên tích, lƣợng nƣớc hòa tan chỉ tham khảo, miễn đừng ít quá, gây độc cho cây là đƣợc.
Trong trƣờng hợp này, công thức bón nhiều nhất cũng chỉ 3 m3 /1ha, (3.000 lít/10.000
m2, tức 0,3 lít/m2), nếu pha thêm 0,3 lít nƣớc (tỷ lệ 1:1 nhƣ Viện TNNH) cũng chỉ đƣơc 0,6
lit/m2. Tƣới ít nhƣ vậy sẽ không đều vì vậy phải pha thêm đủ nƣớc (2 lít/m2) nhƣ đã nói trên.
Việc bón phân nhƣ trên phù hợp với thời gian sinh trƣởng cây rau cải xanh và xà lách:
dao động trong khoảng 20 - 25 ngày/vụ (từ cấy đến thu).
Giống rau trong thí nghiệm
Cải xanh: là giống Cải bẹ xanh mỡ, do Công ty Giống Cây trồng miền Nam sản
xuất hạt. Bình thƣờng nông dân ở đây gieo hạt và để cải phát triển đến khi đƣợc thu
hoạch, tức là không cấy lại. Nay, để làm thí nghiệm, chúng tôi sẽ lấy cây giống từ các
luống gieo này. Hạt cải đƣợc gieo ngày 07/10/2009.
Xà lách: là giống do Công ty Đông Tây sản xuất hạt. Tƣơng tự nhƣ cải xanh,
nông dân ở đây gieo hạt và để cải phát triển đến khi đƣợc thu hoạch. Chúng tôi lấy cây
giống từ các luống gieo này để trồng thí nghiệm. Hạt xà lách đƣợc gieo ngày
09/10/2009.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đồng (ở cả 2 thí nghiệm:1A, 1B)
Khối 1 (lần lặp 1)
Công thức 1
Công thức 3
Khối 3 (lần lặp 3)
Đối chứng
Công thức 5
19
Cấy rau và thu hoạch
Cải xanh cấy ngày 24/10/2009, cây con 17 ngày tuổi, khoảng cách trồng 15 x
15cm/cây, thu hoạch ngày 14/11/2009.
Xà lách cấy ngày 24/10/2009, cây con 15 ngày tuổi, khoảng cách trồng 15 cm x
15 cm/cây, thu hoạch ngày 20/11/2009
Thí nghiệm 2A và 2B: Nghiên cứu khả năng thay thế phân hoá học bằng
nước xả KSH
Sau thí nghiệm lần 1, đã xác định đƣợc công thức phân bón cho năng suất cao
nhất với cây cải xanh và xà lách trong thí nghiệm 1A và 1B là công thức 3. Từ lƣợng
phân của công thức 3 với tổng số N, P2O5, K2O là 45,18 - 50,12 - 40,19 chúng tôi thay
thế một phần lƣợng NPK của phân hoá học bằng NPK của nƣớc xả. Tuy nhiên không
thể tính % theo cùng lúc 3 yếu tố (N,P,K) chúng tôi phải chọn 1 nguyên tố để tính. Và
N đã đƣợc chọn vì đây là yếu tố ảnh hƣởng mạnh nhất đến năng suất và chất lƣợng rau.
Thí nghiệm đặt 5 mức thay thế (TT) 0, 5, 10, 15 và 20 % lƣợng N từ phân hoá
học (ký hiệu TT0, TT5, TT10, TT15, TT20) với các trị số tƣơng ứng là 0 kg N, 2,3 kg
N có trong 30 m3 nƣớc xả, 4,5 kg N (50 m3 nƣớc xả), 6,7 kg N (80 m3 nƣớc xả), và 9
kg N (100 m3 nƣớc xả). Nhƣ vậy, sự khác nhau giữa các công thức là ở chỗ 5, 10, 15
và 20% N từ phân hóa học đã đƣợc thay thế bằng những lƣợng nƣớc xả có mức N
tƣơng ứng 5, 10, 15 và 20 %. Tất nhiên, khi thay thế thì lƣợng P, K ở các công thức
cũng thay đổi theo nhƣng vì lƣợng P, K trong nƣớc xả rất thấp, dẫn đến sự thay đổi
không nhiều. Bảng 1 cho thấy tổng lƣợng N, P, K ở các công thức sau khi đã tính thay thế.
Tóm tắt thành phần các loại phân bón trong các công thức (CT) nhƣ sau:
1
N
45,18
45,18
45,18
45,18
45,18
2
P2O5
50,12
50,57
50,03
50,48
49,53
3
Công thức 3
Công thức 2
Công thức 5
Công thức 3
Công thức 1
Khối 2 (lần lặp 2)
Công thức 5
Khối 3 (lần lặp 3)
Công thức 4
Cách bón phân
Tƣơng tự nhƣ thí nghiệm 1, bón lót và bón thức 2 lần, cách tính toán pha loãng
phân cũng theo nguyên tắc nhƣ đã làm ở thí nghiệm lần thứ nhất.
Giống rau trong thí nghiệm
Cải xanh: là giống Cải bẹ xanh mỡ, cùng nguồn gốc nhƣ TN 1A, gieo hạt ngày
20/11/2009.
Xà lách: cùng nguồn gốc nhƣ TN 1B, gieo hạt ngày 15/11/2009.
21
Cấy rau và thu hoạch
Cải xanh cấy ngày 5/12/2009, cây con 15 ngày tuổi, khoảng cách trồng 15 x
15cm/cây, thu hoạch ngày 25/12/2009.
Xà lách cấy ngày 1/12/2009, cây con 15 ngày tuổi, khoảng cách trồng 15 x
7.3 x 107
Mẫu số 3 Nguyễn Thị Trí
Không phát hiện
6.2 x 107
Nhƣ đã nói trên, mẫu số 1 là nƣớc xả đã tích trữ trong bể có mái che đƣợc 3
tháng. Mẫu số 2 và số 3 là mẫu lấy ở bể chứa không có mái che, hàng ngày nƣớc xả
mới chảy ra lẫn nƣớc xả cũ. Mục đích của việc phân tích là xem trứng giun và E. coli
của nƣớc xả hiện trạng ở mức nào. Kết quả phân tích cho thấy: điều lo ngại về trứng
giun đũa trong nƣớc xả đã đƣợc trả lời: không mẫu nào có. Riêng E. Coli thì có ở mức
3.0 x 105 đến 7.3 x 107 CFU/1ml. Trong đó mẫu nƣớc xả số 1 (có thời gian tồn trữ lâu 3
tháng) có mật số thấp hơn 2 mẫu nƣớc xả còn lại (không đƣợc tồn trữ lâu).
22
Xin đƣợc nhấn mạnh rằng số liệu trên chỉ có giá trị với mẫu cụ thể. Chúng tôi
chƣa dám khẳng định có tính chất tổng quá vì có những trƣờng hợp vẫn có trứng giun.
Ví dụ, phân tích cuả Wang Qinsheng và Xu Juing (1992) cho thấy có 2,35 trứng/ml
dung dịch (kết quả đề tài đánh giá chất lượng phụ phẩm KSH…, viện NHTN, 2008)
hoặc Nguyễn Nhƣ Hà. ĐHNN1 cho số liệu trung bình của 5 mẫu từ 5 hộ gia đình: trứng giun
là 0,68 x 105 (nghiên cứu sử dụng và chế biến bã thải KSH làm phân bón... ĐHNN1, 2005).
b/ Mẫu phân tích đợt 2
Bảng 2 là kết quả phân tích 3 mẫu nƣớc xả có xuất xứ nhƣ đã nói trên nhƣng
cùng trữ lại trong thùng kín 40 ngày. Trong đó mẫu số 1 đƣợc dùng để tƣới rau trong
các thí nghiệm. Số liệu bảng 3 cho thấy:
- Các nguyên tố kim loại nặng và vi sinh vật trong cả 3 mẫu nƣớc xả đều ở mức
Phosphat (PO4)
P2O5
Kali tổng số
Đơn vị tính
mg/lít
Mẫu số
1
5,9
199,5
Mẫu số
2
6,7
260,5
Mẫu số
3
6,4
284,2
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
23
10
11
12
13
15
16
17
K2 O
Asen (As)
Cardimi (Cd)
Chì (Pd)
Thủy ngân (Hg)
Samonella/25 ml
Coliforms
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
mg/lít
112,0
0,002
kph
kph
pháp: pH: TCVN 6492; OM: AOAC 2007; các chỉ tiêu khác: phương pháp chuẩn
cuả Hiệp hội sức khoẻ công5 đồng Hoa Kỳ (APHA)
- TCNTR: tiêu chuẩn nước tưới rau
- TCNSH: tiêu chuẩn nước sinh hoạt
- kph: không phát hiện