ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ BẢO TRÂM
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA
SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC
Giáo viên hướng dẫn: ThS. PHẠM THỊ MƠ
Đà nẵng 6/2010
1
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu..........................................................2
4. Giả thuyết khoa học..................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................3
6. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................3
7. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................4
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU................5
1.1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề.................................................5
1.1.1. Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học nước ngoài....................................5
2.2. Tiến trình nghiên cứu...........................................................................38
2.3. Các phương pháp nghiên cứu..............................................................38
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu......................................................38
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu điều tra........................................39
2.3.2.1. Phương pháp trắc nghiệm nhu cầu giao tiếp..................................39
2.3.2.2. Phương pháp trắc nghiệm khả năng giao tiếp................................40
2.3.3. Phương pháp quan sát.......................................................................43
2.3.4. Phương pháp phỏng vấn...................................................................44
2.3.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu............................................47
Chương 3. THỰC TRẠNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP
CỦA SINH VIÊN KHOA SƯ PHẠM– TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY
NGUYÊN...................................................................................................49
3.1. Thực trạng một số đặc điểm giao tiếp của SV khoa SP – Trường ĐHTN
....................................................................................................................49
3.1.1. Mức độ nhu cầu giao tiếp của sinh viên khoa Sp -Trường ĐHTN..49
3.1.2. Nội dung giao tiếp của SV khoa SP - Trường ĐHTN......................55
3.1.3. Kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP-Trường ĐHTN.........................58
3
3.1.3.1. Mức độ kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP - Trường Đại học Tây
Nguyên.......................................................................................................58.
3.1.3.2. Mức độ của từng kỹ năng giao tiếp..............................................62
3.2 Nguyên nhân dẫn đến đặc điểm giao tiếp của SVSP trường ĐHTN...66
3.3. Các giải pháp đề xuất..........................................................................76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...........................................................78
1. Kết luận chung........................................................................................78
2. Kiến nghị................................................................................................79
2.1. Đối với sinh viên..................................................................................79
định chương trình, kế hoạch đào tạo một cách phù hợp.
5
Đại học Tây Nguyên là một trường đào tạo đa ngành nghề, trong đó có
nghề sư phạm. Số lượng sinh viên của trường đông, trong đó có những sinh
viên thuộc các dân tộc ít người, với đặc điểm văn hóa khác nhau, phong cách
sinh hoạt, giao tiếp khác nhau. Để nhà trường có được kế hoạch đào tạo phù
hợp với từng loại hình nghề nghiệp và từng loại sinh viên, nhằm nâng cao kỹ
năng giao tiếp nghề nghiệp cho họ, nhất là sinh viên sư phạm, phải có những
khảo sát về đặc điểm giao tiếp hiện có của sinh viên ở góc độ tâm lý học.
Qua kết quả tiếp xúc sơ bộ cho thấy, nhiều sinh viên của trường còn e
dè, thiếu chủ động, thiếu mạnh dạn trong học tập và các hoạt động khác.
Nguyên nhân của thực trạng trên có nhiều và một trong các nguyên nhân. phải
kể tới đó là năng lực giao tiếp còn hạn chế của sinh viên. Muốn nâng cao
năng lực giao tiếp cho sinh viên sư phạm thì phải nắm được đặc điểm giao
tiếp của họ. Đó là lý do, khiến tôi chọn đề tài nghiên cứu “Một số đặc điểm
giao tiếp của sinh viên khoa sư phạm- Trường Đại học Tây Nguyên” nhằm
góp phần đưa ra cơ sở khoa học để có giải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo của Nhà trường đối với ngành sư phạm.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa Sư phạm trường đại học Tây Nguyên
Trên cơ sở đó khuyến nghị các biện pháp giúp nhà trường tiến hành
những hoạt động nâng cao khả năng giao tiếp nghề nghiệp của sinh viên sư
phạm.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa Sư phạm – Trường Đại
học Tây Nguyên.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: để xây dựng hệ thống khái niệm làm
cơ sở lý luận cho đề tàu, chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái quát lý thuyết.
- Phương pháp điều tra bằng test: Để kháo sát một số đặc điểm giao
tiếp của sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên, chúng tôi sử
dụng test trắc nghiệm đo nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp.
- Phương pháp điều tra viết: phương pháp được sử dụng trong việc thu
thập các thông tin liên quan đến nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của
sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên.
- Phương pháp phóng vấn: sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm
thu thập thông tin đầy đủ, chính xác hơn về đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát: nhằm đánh giá độ tin cậy của phiếu điều tra,
chúng tôi sử dụng phương pháp này để đưa ra kết luận đầy đủ hơn cho quá
trình điều tra bằng phương pháp điều tra test.
- Phương pháp thống kê toán học: để xử lý số liệu thu được, nhằm đưa
ra được những kết luận chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu, chúng
tôi sử dụng phương pháp thống kê trong toán học: tính %, tính trung bình
cộng, sử dụng excel và phần mền SPSS.
Chúng tôi sẽ trình bày hệ thống phương pháp nghiên cứu ở chương 2,
phần 2.3
8
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU
đặc điểm tâm lý cá nhân đối với quá trình giao tiếp; giao tiếp và lãnh đạo;
giao tiếp trong quần chúng; mô hình hoá quá trình giao tiếp; sự chênh lệch và
vi phạm loại hình giao tiếp...và nhiều công trình nghiên cứu lí luận khác.
Bên cạnh các công trình công bố trong 3 hội nghị trên còn có hàng loạt
các công trình với các mức độ khác nhau được nghiên cứu ở Liên Xô và các
nước Đông Âu.
1.1.2. Nghiên cứu giao tiếp ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tâm lý học là khoa học còn non trẻ. Vấn đề giao tiếp
được đi sâu nghiên cứu từ năm 1970 - 1980. Việc nghiên cứu giao tiếp phát
triển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khác nhau, thể hiện các công trình nghiên
cứu lí luận và thực tiễn. Có thể khái quát một số hướng nghiên cứu về giao
tiếp và hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực như sau:
Nghiên cứu lí luận về giao tiếp: Khái niệm, bản chất, vai trò, quan hệ
giữa giao tiếp và hoạt động. Có thể kể ra một số công trình sau: Đỗ Long:
“Cacmac và phạm trù giao tiếp” (1963); Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao
tiếp” (1981); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp sư phạm” (1987) và “Một số vấn đề
về giao tiếp sư phạm”, Nguyễn Văn Lê “Vấn đề giao tiếp” (1992). Trong đó
có nhóm các công trình nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm có thể kể tới là:
Hoàng Anh “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, Nguyễn Thạc Hoàng Anh với cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại học Sư phạm - 1998,
Ngô Công Hoàn - Hoàng Anh “Giao tiếp sư phạm”, Trần Duy Hưng đã bàn
tới kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên, Ứng xử sư phạm (Trịnh Trúc
Lâm).
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp như:
“Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao Đẳng sư phạm Quảng Trị” Nguyễn Thị Diễm; tác giả Nguyễn Thanh Bình trong tạp chí Nghiên cứu giáo
10
dục 1992 với bài “Nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm”; “Ảnh hưởng của
nhu cầu giao tiếp đến việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp sư phạm sinh
dưới dạng một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây
hậu quả khi đi tới bộ thu. [12]
Tâm lý học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền đạt
và tri giác các thái độ, niềm tin và ý định, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lý
chung của loài người làm sao cho đôi bên đối thoại hiểu được nhau và đạt
được mục tiêu giao tiếp [11]
Tâm lý học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh
nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân - bệnh nhân trong bệnh viện nhằm
tạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân [29]
1.2.2. Hướng tiếp cận thứ hai: xem xét các xu hướng cơ bản trong tâm
lý học giao tiếp.
Khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm lý học thế giới
dẫn đi theo 3 xu hướng rõ rệt
- Hướng thứ nhất: xác định bản chất giao tiếp qua việc xác định nội
hàm của khái niệm (thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp).
- Hướng thứ hai: xem xét bản chất giao tiếp qua việc xác định vị trí của
giao tiếp trong hệ thống khái niệm phạm trù tâm lý.
- Hướng thứ ba: xác định chính xác hoá khái niệm giao tiếp bằng việc
phân biệt “giao tiếp” với các thuật ngữ, khái niệm liên quan như “thông tin”,
“ứng xử” hoặc “quan hệ xã hội”.
* Hướng thứ nhất: “Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao
tiếp”.
+ Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp: chỉ nhấn mạnh một khía cạnh
nhất định nào đó trong giao tiếp.
- Nhất mạnh đến khía cạnh thông tin trong giao tiếp giữa người với
người, gồm các tác giả với những quan niệm sau:
12
Như vậy có thể thấy, xu hướng mở rộng khái niệm giao tiếp đã làm mất
đi bản chất xã hội của giao tiếp.; không thấy được sự khác biệt về bản chất
giữa giao tiếp người và thông báo ở động vật. Về phương tiện giao tiếp ở
người mang tính chất truyền đạt một khối lượng thông tin lớn phức tạp gồm
cả tính chất cụ thể và tính chất trừu tượng, còn động vật chỉ mang tính chất cụ
thể (thông báo về tình huống cụ thể bên ngoài hoặc trạng thái của con vật).
* Hướng thứ hai: nhìn nhận bản chất giao tiếp trong việc xác định vị trí
của nó trong hệ thống các khái niệm phạm trù tâm lí học. Đại diện là hai nhà
tâm lý học A.A.Leeonchiep và B.H.lomop khi bàn về giao tiếp và hoạt động.
A.A.Leeonchiep nghiên cứu trên cơ sở hệ thống hoạt động. Theo ông,
giao tiếp là một dạng đặc biệt của phạm trù hoạt động, nhưng không phải lúc
nào nó cũng là hoạt động hoàn chỉnh ở bậc cao và độc lập. Giao tiếp có thể
tham gia vào một hoạt động không giao tiếp khác, với chức năng như hoạt
động lý thuyết tham gia vào hoạt động thực hành. Và trong trường hợp này
giao tiếp cũng không khác gì so với dạng khác của hoạt động.
Tại sao giao tiếp có thể là một dạng của hoạt động?
Thứ nhất là mối quan hệ giữa chủ thể với môi trường xung quanh do
hoạt động tạo nên đã bao hàm cả giao tiếp. Nghĩa là, mối quan hệ chủ thể khách thể hay đúng hơn là chủ thể - hoạt động - đối tượng không phải là mối
quan hệ của một chủ thể cá thể với một đối tượng riêng biệt, mà là mối quan
hệ có tính xã hội trong cả ba thành phần của nó.
Thứ hai là đối tượng có tính xã hội vì nó không phải là một vật thờ ơ,
tồn tại ngoài xã hội loài người, mà là một vật mà những tính khách quan của
nó được phản ánh trong quá trình hoạt động và cấu tạo nên hình ảnh của vật
trong ý thức của con người, có ý thức xã hội nhất định. Như vậy đối tượng
của hoạt động không phải chỉ là những gì tồn tại ở dạng vật chất mà cả ở tinh
thần nữa.
14
- Thứ nhất không tìm thấy được vị trí của giao tiếp trong hệ thống các
dạng hoạt động như đã được phân loại trước đây.
- Thứ hai khó xác định động cơ giao tiếp vì mỗi thành viên của giao
tiếp có động cơ riêng của mình. Trong quá trình giao tiếp chúng có thể xích
lại gần nhau, vì vậy không thể dùng phương pháp nghiên cứu của hoạt động
để áp dụng vào nghiên cứu giao tiếp
- Thứ ba khó xác định được đối tượng giao tiếp.
Nếu kết quả của hoạt động thực tiễn ở dạng hoạt động vật chất thì kết
quả của giao tiếp là sự thay đổi ý thức, hành vi và tính chất của các thành
viên. Vì vậy giao tiếp gần với hoạt động trí tuệ hơn, nhưng khác với hoạt
động này ở chỗ là giao tiếp không chỉ thay đổi hình ảnh tư tưởng về đối
tượng, mà còn thay đổi chức năng tâm lý và thuộc tính của các thành viên.
+ Lomop cho rằng, không nên tuyệt đối hoá một phạm trù nào đó, dù
phạm trù đó mạnh đến đâu đi nữa thì nó cũng chỉ thể hiện một mặt nhất định
nào đó của cuộc sống con người, hoạt động và giao tiếp - hai mặt của sự tồn
tại xã hội con người của lối sống. Hai mặt này luôn gắn nhiều với nhau trong
một lối sống thống nhất. Hơn nữa giữa chúng luôn tồn tại sự chuyển biến từ
cái này sang cái kia
Tóm lại, B.Ph lomop cho rằng hoạt động và giao tiếp là hai mặt của sự
tồn tại xã hội con người. Hai mặt này gắn liền với nhau trong lối thống nhất.
Giữa chúng luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau và nhiều khi giao tiếp để hoạt
động và hoạt động giao tiếp, giao tiếp được thực hiện bằng phương thức của
hoạt động, hoạt động được tiến hành bằng phương thức của giao tiếp, giữa
chúng luôn có chuyển hoá giữa cái này sang cái kia.
Đứng trước hai quan niệm này, đa số các nhà tâm lý học như:
K.K.Ptamop, A.A.Bodaliop, D.B.Econhin, G.M.Andreeva cho rằng: cả hai
nhà tâm lý trên đều có điểm hợp lý và có điểm chưa hợp lý. Như A.Leonchiep
16
nhu cầu trao đổi thông tin, nhu cầu chia sẻ tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giải
trí,nhu cầu được khẳng định trước người khác…
- Nội dung giao tiếp: Là những vấn đề chủ thể muốn đề cập khi giao tiếp
với người khác. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thể
hiện ở thông tin cần truyền đạt. Thông tin được cấu trúc như thế nào thể hiện
ở nội dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết quả cao nhất.
Trong nội dung giao tiếp có thể chia làm hai loại: nội dung tâm lý và nội
dung công việc. Nội dung tâm lý bao gồm các thành phần cơ bản là nhận
thức, thái độ cảm xúc và hành vi. Nội dung công việc thể hiện ở bất kỳ quá
trình giao tiếp nào, nó là đặc trưng của giao tiếp.
Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng ở lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính…
của chủ thể giao tiếp. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện,
mối quan hệ của chủ thể và đối tượng giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của
chủ thể.
- Phương tiện giao tiếp: để thực hiện thông qua hệ thống tín hiệu giao
tiếp ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) và giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt,
giọng nói, cử chỉ, tư thế…).
- Đối tượng giao tiếp sẽ tiếp nhận thông tin qua lăng kính chủ quan riêng
của họ. Để giao tiếp thành công thì phải hiểu rõ đối tượng mà chủ thể muốn
giao tiếp từ trước khi giao tiếp và cả trong quá trình giao tiếp thông qua việc
quan sát đối tượng, nắm bắt sự đáp ứng của họ và điều chỉnh kịp thời cho phù
hợp. Bên cạnh đó kết quả giao tiếp sẽ tốt hơn nếu chủ thể giao tiếp xác định
đúng đôi tượng, đúng nội dung, đúng mức độ, phạm vi thông tin sẽ truyền đạt,
đúng thời điểm, đúng nơi đúng chổ.
Trong đề tài này chúng tôi xem xét giao tiếp theo mặt nhân cách, trong
đó dựa trên quan điểm của Leoochiev.
18
đạt được sự thoả mãn nhu cầu, hoặc là ngăn ngừa sự đụng độ khó chịu với
môi trường.
Theo A.N.Lêonchiev thì nhu cầu là một trạng thái của con người, cần
một cái gì đó cho cơ thể nói riêng, con người nói chung sống và hoạt động.
Nhu cầu luôn có đối tượng, đối tượng của nhu cầu là vật chất hoặc tinh thần,
chứa đựng khả năng thoả mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định hướng đồng
thời là động lực bên trong kích thích hoạt động của con người.
Theo Nguyễn Khắc Viện, nhu cầu là “Điều cần thiết để đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của con người. Được thoải mái thì dễ chịu, thiếu hụt thì
căng thẳng ấm ức. Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể,
khi hoà nhập, khi mâu thuẫn, có nhu cầu cơ bản, thiết yếu, có nhu cầu thứ
yếu, giả tạo. Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội mà biến đổi” [2].
Trên cơ sở tìm hiểu, thu thập phân tích các khái niệm khác nhau về nhu
cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của GS.TS.
Nguyễn Quang Uẩn “Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá
nhân với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy được thoả mãn
để tồn tại và phát triển”.
1.3.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
- Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng: khi chủ thể gặp đối tượng
được ý thức là có giá trị để thoã mãn nhu cầu của mình và có điều kiện thực
hiện phương thức thoả mãn thì nhu cầu đó trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể
hoạt động nhằm vào đối tượng. Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ
thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với đời sống cá nhân và đời sống xã hội càng
được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng nhanh chóng được nảy sinh, củng cố
và phát triển. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa
đựng khả năng thoả mãn nhu cầu. Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn
tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể tiến hành hoạt
20
và được thoả mãn, đồng thời lại nảy sinh nhu cầu mới ở cấp độ cao hơn. Đặc
biệt thông qua hoạt động cụ thể làm xuất hiện các nhu cầu chức năng như:
nhu cầu lao động, nhu cầu sáng tạo nghệ thuật, nhu cầu học tập.
- Trạng thái ý chí - cảm xúc: Nhu cầu thường đi kèm với các trạng thái
ý chí cảm xúc, đặc biệt khi nhu cầu ở mức độ cao. Những trạng thái cảm xúc
tiêu biểu như tính hấp dẫn của một đối tượng có liên quan đến một nhu cầu
nhất định, sự không hài lòng hoặc thậm chí đau khổ khi nhu cầu không được
thoả mãn. Trạng thái ý chí - cảm xúc thúc đẩy hoạt động tìm kiếm cách thức
cần thiết nhằm thoả mãn nó. Chính vì vậy, nhu cầu trở thành một trong những
động cơ mạnh mẽ thúc đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các
hành vi ý chí nói riêng. Trạng thái ý chí - xúc cảm sẽ bị giảm, thậm chí có lúc
hoàn toàn biến mất hoặc chuyển sang trạng thái ngược lại thì nhu cầu đã được
thoả mãn.
1.3.1.3. Các loại nhu cầu
A.Maslow (1908 - 1970) chia nhu cầu thành 5 loại bao gồm: nhu cầu
vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng,
nhu cầu về phát triển cá nhân.
+ Nhu cầu vật chất (sự sinh tồn cơ bản). Thứ bậc đầu tiên này rất cơ
bản và đặc biệt quan trọng. Nói cách khác, nếu thiếu những nhu cầu cơ bản,
nhất là nhu cầu cơ bản về thức ăn, nước uống, con người sẽ không thể tồn tại
được.
+ Nhu cầu về sự an ninh, an toàn. Con người sống trong môi trường an
toàn là môi trường mà ở đó không có mối đe doạ nguy hiểm, rình rập và thực
sự có lợi cho sự phát triển liên tục, lành mạnh cho mỗi cá nhân, điều này liên
quan đến môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường gia đình tốt đẹp,
thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ, y tế, giáo dục, vui chơi giải trí và sự
an toàn trong nghề nghiệp, bảo vệ thân thể.
23
+ Nhu cầu xã hội là nhu cầu liên quan đến mối quan hệ giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích cộng đồng, xã hội. Nhu cầu của con người là do xã hội quy
định, mức độ phát triển của nhu cầu do tính chất của sản xuất xã hội và phân
phối sản phẩm quyết định. Một trong những nhu cầu xã hội là nhu cầu giao
tiếp. Nhu cầu giao tiếp tạo điều kiện để hình thành những mối liên hệ giữa
người này và người khác. Nó thúc đẩy sự trao đổi kinh nghiệm, quan niệm,
tình cảm.
1.3.1.4. Các mức độ của nhu cầu
Mức độ nhu cầu là độ gay gắt đòi hỏi về một đối tượng nào đó thể hiện
ở việc thể hiện ý thức được trạng thái thiếu thốn của chủ thể, đối tượng và
phương thức thoả mãn nó.
Nhu cầu có thể tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi tác giả lại có
những cách phân chia mức độ nhu cầu khác nhau.
- Theo X.L. Rubinstein căn cứ vào mức độ của ý thức thì nhu cầu trải
qua 3 mức độ: ý hướng, ý muốn, ý định.
+ Ý hướng: là bước khởi đầu của nhu cầu. Ở mức độ này nhu cầu chưa
được phản ánh đầy đủ, rõ ràng vào trong ý thức của con người. Nói cách khác
lúc này, chủ thể đang trải nghiệm sự thiếu hụt nhưng chưa xác định được đối
tượng gây ra sự thiếu hụt đó.
Khi chủ thể đã ý thức được đối tượng nhu cầu, nghĩa là sự trả lời được
câu hỏi “thiếu hụt cái gì” thì nhu cầu chuyển sang mức độ cao hơn đó là ý
muốn.
+ Ý muốn: Ở mức độ ý muốn chủ thể đã ý thức được đối tượng chứa
đựng khả năng thoả mãn nhu cầu. Tuy nhiên chủ thể vẫn cần phải tiếp tục tìm
kiếm cách thức và các điều kiện để thoả mãn nhu cầu. Ở mức độ này chủ thể
xuất hiện những trạng thái rung cảm khác nhau biểu hiện sự mong muốn.