MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là mặt đặc trưng nhất trong hành vi của con người, nó không
những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý,
ý thức, nhân cách mà còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất
lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Giao tiếp giúp cho con người tiếp thu kinh nghiệm của người khác, áp
dụng cho chính mình, mở mang hiểu biết…Trong quá trình giao tiếp chúng ta
học được cách đánh giá hành vi và thái độ, lĩnh hội những tiêu chuẩn từ cuộc
sống, kiểm tra và vận dụng các tiểu chuẩn đó vào thực tiễn. Qua đó, phát huy
khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, giúp cho mỗi người ngày càng phát triển.
Sự đánh giá của người khác như tấm gương soi sáng phản ánh khuôn mặt bản
thân.
Đối với nghề dạy học, giao tiếp không những có vai trò quan trọng
trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ
phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng
lực sư phạm của người giáo viên. Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản
nhất để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục. Do đó, vấn đề đặt ra đối với
nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ
động tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vào
nghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay được
những tình huống trong giao tiếp sư phạm. Nhà trường sư phạm là nơi thực
hiện nhiệm vụ này. Muốn đạt kết quả tốt trong việc chuẩn bị năng lực giao
tiếp sư phạm cho sinh viên sau khi ra trường, trước tiên phải có sự đánh giá
về đặc điểm giao tiếp của họ ở góc độ tâm lí học để làm cơ sở cho việc xác
định chương trình, kế hoạch đào tạo một cách phù hợp.
1
Đại học Tây Nguyên là một trường đào tạo đa ngành nghề, trong đó có
nghề sư phạm. Số lượng sinh viên của trường đông, trong đó có những sinh
viên thuộc các dân tộc ít người, với đặc điểm văn hóa khác nhau, phong cách
sinh hoạt, giao tiếp khác nhau. Để nhà trường có được kế hoạch đào tạo phù
chưa tích cực rèn luyện và nhà trường chưa tổ chức tốt các hoạt động nhằm
rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Khảo sát thực trạng một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa Sư
phạm- trường Đại học Tây Nguyên.
- Trên cơ sở kết quả khảo sát thực trạng đưa ra một số khuyến nghị để
nhà trường tố chức các hoạt động nhằm nâng cao năng lực giao tiếp của sinh
viên sư phạm
Trong 3 nhiệm vụ trên đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu ở nhiệm vụ
1 và nhiệm vụ 2.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Do điều kiện hạn chế, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên
cứu nhu cầu giao tiếp, kỹ năng giao tiếp của sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2,
năm thứ 3 và năm 4 của một số ngành khoa Sư phạm - trường Đại học Tây
Nguyên.
- Thời gian: Học kì II – năm học 2009 - 2010
3
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: để xây dựng hệ thống khái niệm làm
cơ sở lý luận cho đề tàu, chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp phân tích,
tổng hợp, khái quát lý thuyết.
- Phương pháp điều tra bằng test: Để kháo sát một số đặc điểm giao
tiếp của sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên, chúng tôi sử
dụng test trắc nghiệm đo nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp.
- Phương pháp điều tra viết: phương pháp được sử dụng trong việc thu
thập các thông tin liên quan đến nhu cầu giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của
sinh viên khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên.
năng bình luận
Năm 1960 Bavelá (pháp) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc
giao tiếp, đưa ra khái niệm “khoảng cách” được xác định như là một mắt xích
giao tiếp cần thiết để một thông điệp tới người khác bằng con đường ngắn
nhất.
Đầu năm 1970 ở Liên Xô cũ một số bài báo về giao tiếp được giới thiệu
trong hội nghị “tâm lý học về giao tiếp” được tổ chức vào thánh 3/1970; tháng
3/1973; 5/1973. Hội nghị này đề cập đến hàng loạt vấn đề; phương pháp luận
5
và phương pháp nghiên cứu giao tiếp; cơ chế giao tiếp; ảnh hưởng của những
đặc điểm tâm lý cá nhân đối với quá trình giao tiếp; giao tiếp và lãnh đạo;
giao tiếp trong quần chúng; mô hình hoá quá trình giao tiếp; sự chênh lệch và
vi phạm loại hình giao tiếp và nhiều công trình nghiên cứu lí luận khác.
Bên cạnh các công trình công bố trong 3 hội nghị trên còn có hàng loạt
các công trình với các mức độ khác nhau được nghiên cứu ở Liên Xô và các
nước Đông Âu.
1.1.2. Nghiên cứu giao tiếp ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tâm lý học là khoa học còn non trẻ. Vấn đề giao tiếp
được đi sâu nghiên cứu từ năm 1970 - 1980. Việc nghiên cứu giao tiếp phát
triển mạnh mẽ và đi theo xu hướng khác nhau, thể hiện các công trình nghiên
cứu lí luận và thực tiễn. Có thể khái quát một số hướng nghiên cứu về giao
tiếp và hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực như sau:
Nghiên cứu lí luận về giao tiếp: Khái niệm, bản chất, vai trò, quan hệ
giữa giao tiếp và hoạt động. Có thể kể ra một số công trình sau: Đỗ Long:
“Cacmac và phạm trù giao tiếp” (1963); Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao
tiếp” (1981); Ngô Công Hoàn “Giao tiếp sư phạm” (1987) và “Một số vấn đề
về giao tiếp sư phạm”, Nguyễn Văn Lê “Vấn đề giao tiếp” (1992). Trong đó
có nhóm các công trình nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm có thể kể tới là:
Hoàng Anh “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, Nguyễn Thạc -
Hoàng Anh với cuốn “Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại học Sư phạm - 1998,
y học Hầu hết các nhà tâm lý học ứng dụng khi nhìn nhận khái niệm giao
tiếp đều đề cập tới hai vấn đề sau:
- Nhấn mạnh đến vấn đề thông tin, thông báo trong giao tiếp.
- Tính đến hiệu quả mang tính đặc thù trong lĩnh vực riêng biệt đó.
7
Tâm lý học kinh doanh xem giao tiếp là một quá trình, một kích thích
dưới dạng một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây
hậu quả khi đi tới bộ thu. [12]
Tâm lý học ứng dụng coi giao tiếp là một tập hợp quá trình truyền đạt
và tri giác các thái độ, niềm tin và ý định, dựa vào bộ máy sinh học, tâm lý
chung của loài người làm sao cho đôi bên đối thoại hiểu được nhau và đạt
được mục tiêu giao tiếp [11]
Tâm lý học y học: xem xét giao tiếp là quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh
nhân; thầy thuốc và thầy thuốc; bệnh nhân - bệnh nhân trong bệnh viện nhằm
tạo sự tin tưởng ở khả năng chữa trị cho bệnh nhân [29]
1.2.2. Hướng tiếp cận thứ hai: xem xét các xu hướng cơ bản trong tâm
lý học giao tiếp.
Khi tìm hiểu, khám phá bản chất giao tiếp, các nhà tâm lý học thế giới
dẫn đi theo 3 xu hướng rõ rệt
- Hướng thứ nhất: xác định bản chất giao tiếp qua việc xác định nội
hàm của khái niệm (thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao tiếp).
- Hướng thứ hai: xem xét bản chất giao tiếp qua việc xác định vị trí của
giao tiếp trong hệ thống khái niệm phạm trù tâm lý.
- Hướng thứ ba: xác định chính xác hoá khái niệm giao tiếp bằng việc
phân biệt “giao tiếp” với các thuật ngữ, khái niệm liên quan như “thông tin”,
“ứng xử” hoặc “quan hệ xã hội”.
* Hướng thứ nhất: “Thu hẹp hoặc mở rộng nội hàm khái niệm giao
tiếp”.
+ Xu hướng thu hẹp khái niệm giao tiếp: chỉ nhấn mạnh một khía cạnh
nhất định nào đó trong giao tiếp.
Như vậy có thể thấy, xu hướng mở rộng khái niệm giao tiếp đã làm mất
đi bản chất xã hội của giao tiếp.; không thấy được sự khác biệt về bản chất
giữa giao tiếp người và thông báo ở động vật. Về phương tiện giao tiếp ở
người mang tính chất truyền đạt một khối lượng thông tin lớn phức tạp gồm
cả tính chất cụ thể và tính chất trừu tượng, còn động vật chỉ mang tính chất cụ
thể (thông báo về tình huống cụ thể bên ngoài hoặc trạng thái của con vật).
* Hướng thứ hai: nhìn nhận bản chất giao tiếp trong việc xác định vị trí
của nó trong hệ thống các khái niệm phạm trù tâm lí học. Đại diện là hai nhà
tâm lý học A.A.Leeonchiep và B.H.lomop khi bàn về giao tiếp và hoạt động.
A.A.Leeonchiep nghiên cứu trên cơ sở hệ thống hoạt động. Theo ông,
giao tiếp là một dạng đặc biệt của phạm trù hoạt động, nhưng không phải lúc
nào nó cũng là hoạt động hoàn chỉnh ở bậc cao và độc lập. Giao tiếp có thể
tham gia vào một hoạt động không giao tiếp khác, với chức năng như hoạt
động lý thuyết tham gia vào hoạt động thực hành. Và trong trường hợp này
giao tiếp cũng không khác gì so với dạng khác của hoạt động.
Tại sao giao tiếp có thể là một dạng của hoạt động?
Thứ nhất là mối quan hệ giữa chủ thể với môi trường xung quanh do
hoạt động tạo nên đã bao hàm cả giao tiếp. Nghĩa là, mối quan hệ chủ thể -
khách thể hay đúng hơn là chủ thể - hoạt động - đối tượng không phải là mối
quan hệ của một chủ thể cá thể với một đối tượng riêng biệt, mà là mối quan
hệ có tính xã hội trong cả ba thành phần của nó.
Thứ hai là đối tượng có tính xã hội vì nó không phải là một vật thờ ơ,
tồn tại ngoài xã hội loài người, mà là một vật mà những tính khách quan của
nó được phản ánh trong quá trình hoạt động và cấu tạo nên hình ảnh của vật
trong ý thức của con người, có ý thức xã hội nhất định. Như vậy đối tượng
của hoạt động không phải chỉ là những gì tồn tại ở dạng vật chất mà cả ở tinh
thần nữa.
10
Thứ ba là bản chất quá trình hoạt động cũng mang tính xã hội, kể cả khi
nó là hoạt động của cá thể, vì trong trường hợp này có là hoạt động của một
lại gần nhau, vì vậy không thể dùng phương pháp nghiên cứu của hoạt động
để áp dụng vào nghiên cứu giao tiếp
- Thứ ba khó xác định được đối tượng giao tiếp.
Nếu kết quả của hoạt động thực tiễn ở dạng hoạt động vật chất thì kết
quả của giao tiếp là sự thay đổi ý thức, hành vi và tính chất của các thành
viên. Vì vậy giao tiếp gần với hoạt động trí tuệ hơn, nhưng khác với hoạt
động này ở chỗ là giao tiếp không chỉ thay đổi hình ảnh tư tưởng về đối
tượng, mà còn thay đổi chức năng tâm lý và thuộc tính của các thành viên.
+ Lomop cho rằng, không nên tuyệt đối hoá một phạm trù nào đó, dù
phạm trù đó mạnh đến đâu đi nữa thì nó cũng chỉ thể hiện một mặt nhất định
nào đó của cuộc sống con người, hoạt động và giao tiếp - hai mặt của sự tồn
tại xã hội con người của lối sống. Hai mặt này luôn gắn nhiều với nhau trong
một lối sống thống nhất. Hơn nữa giữa chúng luôn tồn tại sự chuyển biến từ
cái này sang cái kia
Tóm lại, B.Ph lomop cho rằng hoạt động và giao tiếp là hai mặt của sự
tồn tại xã hội con người. Hai mặt này gắn liền với nhau trong lối thống nhất.
Giữa chúng luôn có sự chuyển hoá lẫn nhau và nhiều khi giao tiếp để hoạt
động và hoạt động giao tiếp, giao tiếp được thực hiện bằng phương thức của
hoạt động, hoạt động được tiến hành bằng phương thức của giao tiếp, giữa
chúng luôn có chuyển hoá giữa cái này sang cái kia.
Đứng trước hai quan niệm này, đa số các nhà tâm lý học như:
K.K.Ptamop, A.A.Bodaliop, D.B.Econhin, G.M.Andreeva cho rằng: cả hai
nhà tâm lý trên đều có điểm hợp lý và có điểm chưa hợp lý. Như A.Leonchiep
12
thì chưa giải quyết thoã đáng về đối tượng động cơ chủ thể của hoạt động
này, chủ thể của hoạt động này. B.Ph.Lomop quá nhấn mạnh phạm trù giao
tiếp nên khó giải thích khi giao tiếp có cơ chế như là một hoạt động và khi
giao tiếp tham gia vào hoạt động có đối tượng như là điều kiện thiết yếu của
hoạt động. Các nhà tâm lý học đã khẳng định: “Hoạt động là quy luật chung
nhất của tâm lý học”.
Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng ở lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính…
của chủ thể giao tiếp. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện,
mối quan hệ của chủ thể và đối tượng giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của
chủ thể.
- Phương tiện giao tiếp: để thực hiện thông qua hệ thống tín hiệu giao
tiếp ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) và giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt,
giọng nói, cử chỉ, tư thế…).
- Đối tượng giao tiếp sẽ tiếp nhận thông tin qua lăng kính chủ quan riêng
của họ. Để giao tiếp thành công thì phải hiểu rõ đối tượng mà chủ thể muốn
giao tiếp từ trước khi giao tiếp và cả trong quá trình giao tiếp thông qua việc
quan sát đối tượng, nắm bắt sự đáp ứng của họ và điều chỉnh kịp thời cho phù
hợp. Bên cạnh đó kết quả giao tiếp sẽ tốt hơn nếu chủ thể giao tiếp xác định
đúng đôi tượng, đúng nội dung, đúng mức độ, phạm vi thông tin sẽ truyền đạt,
đúng thời điểm, đúng nơi đúng chổ.
Trong đề tài này chúng tôi xem xét giao tiếp theo mặt nhân cách, trong
đó dựa trên quan điểm của Leoochiev.
14
Theo quan điểm của Leoochiev: Vị trí quan trọng nhất khi phân tích
hoạt động thuộc về động cơ và mục đích. Động cơ có liên quan đến nhu cầu,
kích thích hoạt động, mục đích liên quan đến đối tượng mà hoạt động hướng
đến, đối tượng cần phải ở trong quá trình thực hiện hoạt động và bị biến đổi
thành sản phẩm. Động cơ của giao tiếp xuất phát từ nhu cầu tiếp xúc với
người khác. Mỗi con người ai cũng có nhu cầu giao tiếp lẫn nhau để chiếm
lĩnh đối tượng.
Hoạt động thường được thực hiện như là hệ thống các hành động triển
khai liên tục, mỗi hành động giải quyết một phần nhiệm vụ và có thể xem như
là một “bước” hướng đến mục đích. Hành động triển khai trong thực tiễn là
nhờ vào kỹ năng. Việc hình thành kỹ năng hành động là hình thành ở con
người khả năng triển khai thao tác theo đúng logic phù hợp với mục đích
khách quan.
để tồn tại và phát triển”.
1.3.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
- Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng: khi chủ thể gặp đối tượng
được ý thức là có giá trị để thoã mãn nhu cầu của mình và có điều kiện thực
hiện phương thức thoả mãn thì nhu cầu đó trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể
hoạt động nhằm vào đối tượng. Đối tượng của nhu cầu càng được xác định cụ
thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với đời sống cá nhân và đời sống xã hội càng
được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng nhanh chóng được nảy sinh, củng cố
và phát triển. Đối tượng của nhu cầu nằm ngoài chủ thể, đồng thời là cái chứa
đựng khả năng thoả mãn nhu cầu. Bản thân đối tượng đáp ứng nhu cầu luôn
tồn tại một cách khách quan và không tự bộc lộ ra khi chủ thể tiến hành hoạt
16
động. Khi đối tượng của nhu cầu được chủ thể ý thức thì nhu cầu thực sự là
sức mạnh nội tại, sức mạnh tâm lý kích thích và hướng dẫn hoạt động.
Tính đối tượng của nhu cầu được xuất hiện trong hoạt động có đối
tượng của chủ thể. Nhu cầu với tư cách là một năng lực hướng dẫn, điều
chỉnh hoạt động khi được “đối tượng hóa” là điều kiện nảy sinh tâm thế. Với
ý nghĩa đó, nhu cầu thực sự là một cấp độ của phản ánh tâm lý, ở cấp độ này,
nhu cầu được phát triển thông qua sự phát triển nội dung đối tượng của nhu
cầu. Đây chính là đặc điểm đặc trưng của nhu cầu ở con người.
Quá trình phát triển của con người thực chất là quá trình phát triển nội
dung đối tượng của các nhu cầu và ở mức độ cao hơn của thế giới đối tượng,
là sự phát triển của các động cơ hoạt động cụ thể của con người. Như vậy, sự
phát triển của nhu cầu diễn ra theo con đường phát triển các hoạt động tương
ứng với một phạm vi đối tượng ngày càng phong phú và đa dạng.
- Nhu cầu có tính ổn định: Trong xu thế vận động, nhu cầu có thể xuất
hiện lặp đi lặp lại (thông thường ở mức độ cao hơn). Tính ổn định của nhu
cầu thể hiện bởi tần số xuất hiện một cách thường xuyên, liên tục. Nhu cầu
càng phát triển ở mức độ càng cao thì càng ổn định, càng bền vững.
- Phương thức thoả mãn nhu cầu: Nhu cầu được thoả mãn thông qua
được.
+ Nhu cầu về sự an ninh, an toàn. Con người sống trong môi trường an
toàn là môi trường mà ở đó không có mối đe doạ nguy hiểm, rình rập và thực
sự có lợi cho sự phát triển liên tục, lành mạnh cho mỗi cá nhân, điều này liên
quan đến môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, môi trường gia đình tốt đẹp,
thuận lợi cho việc tiếp cận các dịch vụ, y tế, giáo dục, vui chơi giải trí và sự
an toàn trong nghề nghiệp, bảo vệ thân thể.
18
+ Nhu cầu được thừa nhận. Con người, về bản chất luôn mong muốn
tìm kiếm, thiết lập các mối quan hệ xã hội, bạn bè, tình yêu thương và sự thừa
nhận từ người khác. Nếu không cảm thấy được giao tiếp, quan hệ xã hội và sự
thừa nhận từ người khác thì con người sẽ khó tồn tại và phát triển một cách
lành mạnh. Con người sẽ cảm thấy bị cô lập, tự ti, yếu đuối và không thiết
sống nữa, rất dễ có sự lập dị, thu mình hoặc có hành động tiêu cực
Trong nhu cầu này, con người sống trong môi trường xã hội, là thành
viên của xã hội nên có nhu cầu giao lưu với người khác và được người khác
thừa nhận - thể hiện qua nhu cầu giao tiếp với mọi người.
+ Nhu cầu về sự tự trọng. Tự trọng của mỗi người chính là việc người
đó có ý thức về nhân phẩm và danh dự của họ. Như vậy, tự trọng là sự cảm
thấy hài lòng về bản thân, trải nghiệm những ý nghĩa về giá trị của bản thân
và tự hào về các thành quả cá nhân.
+ Nhu cầu về phát triển cá nhân. Bậc cao nhất trong thang bậc hệ thống
nhu cầu là nhu cầu của con người về sự phát triển cá nhân. Đây là bước phát
triển nhất về tâm lý và phức tạp nhất trong tâm lý con người. Mỗi nhu cầu con
người trong “hệ thống thứ bậc” phải được thoả mãn trong mối tương quan với
môi trường để có thể phát triển cao nhất của mình.
- Dựa vào cách phân chia của tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn “những
thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách” thì chia nhu cầu thành các loại cơ
bản.
+ Nhu cầu vật chất: là cơ sở cho sự sống, tồn tại, phát triển của con
kiếm cách thức và các điều kiện để thoả mãn nhu cầu. Ở mức độ này chủ thể
xuất hiện những trạng thái rung cảm khác nhau biểu hiện sự mong muốn.
20
+ Ý định: Là mức độ cao nhất của nhu cầu. Lúc này chủ thể đã ý thức
đầy đủ cả về đối tượng cũng như cách thức điều kiện nhằm thoả mãn nhu cầu,
xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động. Lúc này nhu
cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm
thoả mãn nó. Đồng thời, chủ thể cũng có khả năng hình dung về kết quả của
hoạt động. Ở mức độ cao nhất của nhu cầu, chủ thể không chỉ ý thức rõ về
mục đích động cơ mà còn cả về những phương thức để đạt tới mục đích đó.
- Căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hịên ở 3 mức độ: Lòng ham
muốn, lòng say mê, đam mê.
+ Long ham muốn: Đây là mức độ thấp nhất mức độ này nhu cầu có
cường độ rất yếu ớt, chưa đủ sức mạnh để thúc đẩy con người hoạt động, hoặc
có thì rất mờ nhạt dễ bỏ cuộc nửa chừng.
+ Lòng say mê: Ở mức độ này nhu cầu có cường độ khá mạnh liệt nó
có sức mạnh lớn lao thúc đẩy con người chuyển hoá thành tình cảm khá mãnh
liệt khiến cá nhân yêu thích say sưa với đối tượng của nhu cầu. Ở mức độ này
hoạt động chịu sự chỉ huy sáng suốt của tư duy và lý trí thắng tình cảm.
+ Đam mê: Là nhu cầu ở mức quá cao ngưỡng làm cho con người u
mê, mất đi sự sáng suốt. Lúc này con người hoạt động theo bản năng của thú
tính nên vừa ngu si, vừa độc ác, tàn bạo, thô lỗ. Cần ngăn chặn sự đam mê
ngay từ mức độ say mê vì từ say mê chuyển sang đam mê chỉ trong gang tấc .
- Một số tác giả Việt Nam (Ngô Công Hoàn, Nguyễn Thanh Bình,
Nguyễn Kim quý) chia nhu cầu thành 5 mức độ : Thấp, trung bình thấp, trung
bình, trung bình cao, cao.
21
1.3.2. Nhu cầu giao tiếp
1.3.2.1. Khái niệm nhu cầu giao tiếp
Các quan niệm trong tâm lý học Macxit đều thống nhất coi nhu cầu là
người đồng nghiệp, cán bộ quản lý lãng đạo, người thân trong gia đình và
nhiều mối quan hệ xung quanh. Qua các mối quan hệ nhằm mở rộng sự hiểu
biết, xây dựng mối quan hệ cần thiết cho cuộc sống.
- Nội dung của nhu cầu giao tiếp: Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân
thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung cảnh thời gian và không gian nhất
định. Tuỳ theo đối tượng giao tiếp mà cá nhân trao đổi về các vấn đề khác
nhau. Cá nhân tiếp xúc với người khác trong nhóm tập thể, từ đó có hứng thú
chung với các hoạt động của nhóm đó. Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng ở
lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính…của chủ thể giao tiếp. Ngoài ra còn chịu ảnh
hưởng của hoàn cảnh, điều kiện, mối quan hệ của chủ thể và đối tượng giao
tiếp cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể.
Nên nội dung giao tiếp thường được các bạn sinh viên quan tâm đó là
tri thức chuyên môn; tri thức chính trị - xã hội, văn hoá, tri thức đời sống;
cách thức thực hiện (như cách ứng xử, cách học). Để thoã mãn những nhu cầu
sinh viên bắt buộc tham gia vào các hoạt động không chỉ là hoạt động học tập
mà còn muốn tham gia các khác như: hoạt động lao động, hoạt động xã hội…
Thông qua các hình thức hoạt động rèn luyện tại trường, tham quan, đi thực
tế, xuống cơ sở thực tập, làm thêm bán thời gian…Những hoạt động này, sinh
viên muốn trực tiếp tiến hành nhằm trao đổi, tiếp thu kinh nghiệm, để nâng
cao kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp và được tự mình trải nghiệm cuộc
sống.
23
1.3.2.3. Mức độ của nhu cầu giao tiếp
Theo cách phân loại của tác giả Ngô Công Hoàn nhu cầu giao tiếp gồm
5 mức độ: thấp, trung bình thấp, trung binh, trung bình cao, cao.
+Mức độ thấp: không phải là không có giao tiếp, nhưng chỉ dừng lại ở
những giao tiếp tối thiểu, bắt buộc cần có của cuộc sống.
+ Mức độ trung bình thấp: có sự mở rộng hơn trong quan hệ giao tiếp
nhưng vẫn ở mức độ thấp.
+ Mức độ trung bình : các mối quan hệ đều ở mức vừa phải, không
bản thân.
Khi không được giao tiếp thì cá nhân dễ mắc các chứng bệnh, trí tuệ
chậm phát triển …đó là biểu hiện của hiện tượng “đói giao tiếp”.
Như vậy, nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản không thể thiếu của con
người. Qua giao tiếp, con người biết được các giá trị xã hội của người khác và
của bản thân. Trên cơ sở đó, cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh bản thân theo
các chuẩn mực xã hội, nhân cách cá nhân ngày càng hoàn thiện.
1.3.2.5. Sự hình thành nhu cầu giao tiếp
Về vấn đề này có sự khác nhau trong quan điểm giữa các nhà tâm lý
học phương Tây và các nhà tâm lý học Mác xít.
Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng nhu cầu sinh
vật sẽ quyết định đến nhu cầu xã hội. Nhu cầu sinh vật là cơ bản và có nguồn
gốc bẩm sinh, con người không thể ý thức và can thiệp được bằng ý chí.
A.N.Lêonchiev và các nhà tâm lý học Mác xít khẳng định mối quan hệ
chặt chẽ giữa nhu cầu và hoạt động. “ Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực
của hoạt động, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát
triển trong hoạt động”.
25