MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giao tiếp là mặt đặc trưng nhất trong hành vi của con người, nó không
những là điều kiện quan trọng bậc nhất của sự hình thành và phát triển tâm lý,
ý thức, nhân cách mà còn đảm bảo cho con người đạt được năng suất, chất
lượng và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động.
Giao tiếp giúp cho con người tiếp thu kinh nghiệm của người khác, áp
dụng cho chính mình, mở mang hiểu biết…Trong quá trình giao tiếp chúng ta
học được cách đánh giá hành vi và thái độ, lĩnh hội những tiêu chuẩn từ cuộc
sống, kiểm tra và vận dụng các tiểu chuẩn đó vào thực tiễn. Qua đó, phát huy
khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, giúp cho mỗi người ngày càng phát triển.
Sự đánh giá của người khác như tấm gương soi sáng phản ánh khuôn mặt bản
thân.
Đối với nghề dạy học, giao tiếp không những có vai trò quan trọng
trong sự hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên mà còn là một bộ
phận cấu thành hoạt động sư phạm, là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng
lực sư phạm của người giáo viên. Giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản
nhất để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục. Do đó, vấn đề đặt ra đối với
nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là mỗi sinh viên phải được chuẩn bị và chủ
động tự chuẩn bị cho mình về năng lực giao tiếp sư phạm, để khi bước vào
nghề họ nhanh chóng thích ứng với công việc, sẵn sàng giải quyết ngay được
những tình huống trong giao tiếp sư phạm. Nhà trường sư phạm là nơi thực
hiện nhiệm vụ này. Muốn đạt kết quả tốt trong việc chuẩn bị năng lực giao
tiếp sư phạm cho sinh viên sau khi ra trường, trước tiên phải có sự đánh giá
về đặc điểm giao tiếp của họ ở góc độ tâm lí học để làm cơ sở cho việc xác
định chương trình, kế hoạch đào tạo một cách phù hợp.
Đại học Tây Nguyên là một trường đào tạo đa ngành nghề, trong đó có
nghề sư phạm. Số lượng sinh viên của trường đông, trong đó có những sinh
viên thuộc các dân tộc ít người, với đặc điểm văn hóa khác nhau, phong cách
kỹ năng giao tiếp ở mức độ chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là do sinh viên
chưa tích cực rèn luyện và nhà trường chưa tổ chức tốt các hoạt động nhằm
rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Khảo sát thực trạng một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên khoa Sư
phạm- trường Đại học Tây Nguyên.
- Trên cơ sở kết quả khảo sát thực trạng đưa ra một số khuyến nghị để
nhà trường tố chức các hoạt động nhằm nâng cao năng lực giao tiếp của sinh
viên sư phạm
Trong 3 nhiệm vụ trên đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu ở nhiệm vụ
1 và nhiệm vụ 2.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Do điều kiện hạn chế, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên
cứu nhu cầu giao tiếp, kỹ năng giao tiếp của sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2,
năm thứ 3 và năm 4 của một số ngành khoa Sư phạm - trường Đại học Tây
Nguyên.
- Thời gian: Học kì II – năm học 2009 - 2010
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra bằng test.
- Phương pháp điều tra viết.
- Phương pháp phóng vấn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thống kê toán học
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU
hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực như sau:
Nghiên cứu lí luận về giao tiếp phải kể đến các tác giả: Đỗ Long, Bùi
Văn Huệ; Ngô Công Hoàn, Nguyễn Văn Lê. Trong đó có nhóm các công
trình nghiên cứu kỹ năng giao tiếp sư phạm có thể kể tới là: Hoàng Anh “Kỹ
năng giao tiếp sư phạm của sinh viên”, Nguyễn Thạc - Hoàng Anh với cuốn
“Luyện giao tiếp sư phạm” - Đại học Sư phạm - 1998, Ngô Công Hoàn Hoàng Anh “Giao tiếp sư phạm”, Trần Duy Hưng đã bàn tới kỹ năng giao
tiếp sư phạm của sinh viên, Ứng xử sư phạm (Trịnh Trúc Lâm).
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp như:
“Đặc điểm giao tiếp của sinh viên trường Cao Đẳng sư phạm Quảng Trị” Nguyễn Thị Diễm; tác giả Nguyễn Thanh Bình trong tạp chí Nghiên cứu giáo
dục 1992 với bài “Nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm”; “Ảnh hưởng của
nhu cầu giao tiếp đến việc thiết lập các mối quan hệ giao tiếp sư phạm sinh
viên trường cao đẳng sư phạm Quảng Trị”; “Khả năng giao tiếp của sinh viên
sư phạm tinh Sơn La” - Lò Thị Mai Thoan; Hoàng Đình Châu “Thực trạng kỹ
năng giao tiếp của học viên Sĩ quan”; Trương Quang Học “một số đặc điểm
giao tiếp của học viên tham gia các lớp đào tào giáo viên khoa học xã hội
nhân văn Quân sự cấp Quân đội”; Nguyễn Thị Thanh Tâm “kỹ năng giao tiếp
trong lãnh đạo, quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể”; Đào Thị Oanh “Nhu
cầu giao tiếp của học sinh cuối bậc tiểu học (khu vực Hà Nội)”; Phạm Thị
Dung “thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng” - Thông báo khoa học 2006.
Nhìn chung đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của sinh
viên và sinh viên sư phạm, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về nhu
cầu và kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Đại học Tây Nguyên.
1.2. Một số vấn đề về giao tiếp
Giao tiếp là vấn đề quan trọng và phức tạp, nó đã được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu ở những góc khác nhau. Nhìn chung khi định nghĩa về
giao tiếp các tác giả xuất phát từ hai hướng tiếp cận sau:
1.2.1. Hướng tiếp cận thứ nhất: xuất phát từ các chuyên ngành tâm lý
Tóm lại qua việc phân tích ở trên cho thấy rằng, khái niệm giao tiếp
đến nay chưa có sự thống nhất rõ ràng, dựa trên những quan điểm của các tác
giả, chúng tôi rút ra khái niệm về giao tiếp làm công cụ cho đề tài mình
nghiên cứu như sau.
1.3. Nhu cầu và nhu cầu giao tiếp
1.3.1. Một số vấn đề về nhu cầu
1.3.1.1. Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã có
rất nhiều định nghĩa. khác nhau về nhu cầu.
Trên cơ sở tìm hiểu, thu thập phân tích các khái niệm khác nhau về nhu
cầu và trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi sử dụng định nghĩa của GS.TS.
Nguyễn Quang Uẩn “Nhu cầu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của cá
nhân với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy được thoả mãn
để tồn tại và phát triển”.
1.3.1.2. Đặc điểm của nhu cầu
- Nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng
- Nhu cầu có tính ổn định
- Phương thức thoả mãn nhu cầu
- Trạng thái ý chí - cảm xúc
1.3.1.3. Các loại nhu cầu
A.Maslow (1908 - 1970) chia nhu cầu thành 5 loại bao gồm: nhu cầu vật
chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu được tôn trọng, nhu
cầu về phát triển cá nhân.
- Dựa vào cách phân chia của tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn “những
thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách” thì chia nhu cầu thành các loại cơ
bản.
+ Nhu cầu vật chất
+ Nhu cầu tinh thần
chúng tôi dựa vào quan niệm nhu cầu giao tiếp của PTS Ngô Công Hoàn như
sau:
Nhu cầu giao tiếp là sự đòi hỏi tất yếu của cơ thể được tiếp xúc với con
người để tồn tại và phát triển theo hướng của con người trong các giai đoạn
lứa tuổi ở những điều kiện phát triển xã hội nhất định.
1.4.2. Đặc điểm của nhu cầu giao tiếp
Nhu cầu giao tiếp được thể hiện qua các đặc điểm sau:
- Tính đối tượng của nhu cầu giao tiếp: các quan hệ người - người được
thể hiện trong sự giao tiếp.
Đối với sinh viên, đối tượng giao lưu chủ yếu là bạn bè nơi ở và các mối
quan hệ xã hội nảy sinh. Qua các mối quan hệ này góp phần nâng cao khả
năng giao tiếp, phục vụ cho nghề nghiệp sau này.
Đối với giảng viên, đối tượng thầy cô hướng tới đó là sinh viên, những
người đồng nghiệp, cán bộ quản lý lãng đạo, người thân trong gia đình và
nhiều mối quan hệ xung quanh. Qua các mối quan hệ nhằm mở rộng sự hiểu
biết, xây dựng mối quan hệ cần thiết cho cuộc sống.
- Nội dung của nhu cầu giao tiếp: Giao tiếp bao giờ cũng được cá nhân
thực hiện với nội dung cụ thể, trong khung cảnh thời gian và không gian nhất
định.
Nội dung giao tiếp thường được các bạn sinh viên quan tâm đó là tri
thức chuyên môn; tri thức chính trị - xã hội, văn hoá, tri thức đời sống; cách
thức thực hiện (như cách ứng xử, cách học). Để thoã mãn những nhu cầu sinh
viên bắt buộc tham gia vào các hoạt động không chỉ là hoạt động học tập mà
còn muốn tham gia các khác như: hoạt động lao động, hoạt động xã hội…
Thông qua các hình thức hoạt động rèn luyện tại trường, tham quan, đi thực
tế, xuống cơ sở thực tập, làm thêm bán thời gian…Những hoạt động này, sinh
viên muốn trực tiếp tiến hành nhằm trao đổi, tiếp thu kinh nghiệm, để nâng
cao kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp và được tự mình trải nghiệm cuộc
Như vậy, nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản không thể thiếu của con
người. Qua giao tiếp, con người biết được các giá trị xã hội của người khác và
của bản thân. Trên cơ sở đó, cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh bản thân theo
các chuẩn mực xã hội, nhân cách cá nhân ngày càng hoàn thiện.
1.4.5. Sự hình thành nhu cầu giao tiếp
Về vấn đề này có sự khác nhau trong quan điểm giữa các nhà tâm lý học
phương Tây và các nhà tâm lý học Mác xít.
Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng nhu cầu sinh vật
sẽ quyết định đến nhu cầu xã hội
A.N.Lêonchiev và các nhà tâm lý học Mác xít khẳng định mối quan hệ
chặt chẽ giữa nhu cầu và hoạt động. “ Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực
của hoạt động, nhưng bản thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát
triển trong hoạt động”.
Vì vậy muốn hình thành nhu cầu giao tiếp thì bản thân đối tượng cần rèn
luyên tích cực thông qua các hoạt động, từ đó phát huy được các mặt của bản
thân, hình thành những đòi hỏi được tiếp xúc với người khác tới mức không
thể thiếu được thì chủ thể đã có nhu cầu giao tiếp với đối tượng.
1.4. Kỹ năng
1.4.1. Khái niệm về kỹ năng và kỹ năng giao tiếp
Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng
Trong tâm lý học tồn tại hai khái niệm khác nhau về kỹ năng
- Quan niệm thứ nhất: coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác hành động
hay hoạt động
- Quan niện thứ hai: coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của
hành động mà nó còn là một biểu hiện là năng lực của con người. Kỹ năng
theo quan niệm này thường có tính ổn định, vừa có mềm dẻo, tính linh hoạt
vừa có tính mục đích.
Trên cơ sở tìm hiểu, thu thập phân tích các khái niệm khác nhau về kỹ
ngắn gọn.
- Kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp: gặp khó khăn khi phải
tiếp thu ý kiến, quan điểm của người khác. Không quá nên giữ khư khu ý kiến
của mình.
- Năng lực thuyết phục đối tượng giao tiếp: trong khi nói chuyện sử
dụng tình cảm để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của người khác. Khả năng
thuyết phục người khác.
- Khả năng chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp: thường chủ động
đề sướng các hoạt động tập thể, nhóm bạn bè. Giữ vai trò tích cực, sôi nổi
trong nhóm nói chuyện.
- Sự nhảy cảm trong giao tiếp:cảm thấy áy náy khi xem câu chuyện
của người khác, nhảy cảm với nỗi đau của ban bè, dễ động lòng với tâm trạng
của bạn.
1.4.3. Con đường hình thành kỹ năng giao tiếp
Khi xem xét giao tiếp dưới dạng hoạt động giao tiếp thì việc hình thành
kỹ năng giao tiếp sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm khí chất
với chức năng của hệ thần kinh não bộ; sự hoạt động tích cực của cá nhân và
môi trường, trong đó môi trường nhà trường có vai trò kích thích sự hứng thú
sinh viên tích cực tham gia các hình thức hoạt động khác nhau nhằm phát huy
và hình thành kỹ năng giao tiếp. Những yếu tố này tác động qua lại đến việc
hình thành kỹ năng giao tiếp tốt hơn.
Để có kỹ năng giao tiếp thì chủ thể phải có những hành động giao tiếp.
Trong quá trình hành động, chủ thể tham gia các quá trình giao tiếp, các mối
quan hệ, thực hiện những hành động nhằm giải quyết các vấn đề của mình.
1.5. Đặc điểm nghề thầy giáo
1.6. Một số đặc điểm tâm lí của sinh viên
Trong quá trình giao tiếp, SV thường trao đổi với nhau về nội dung và
phương pháp học tập, bởi hoạt động chủ yếu của SV là học tập và rèn luyện.
Bên cạnh đó, SV theo học đại học sẽ khác với cách học ở cấp dưới, SV phải
chủ động hơn, phải tự tìm tòi tài liệu, trao đổi thông tin với bạn bè giúp bản
thân họ tiếp thu được nhiều tri thức.
Hoạt động giao tiếp diễn ra trên tất cả các mặt của SV thông qua những
hoạt động khác nhau. Những hoạt động mang tính phức tạp giữa các cá nhân
sinh viên với bạn bè cùng lứa, cùng giới, các tổ chức, các nhóm xã hội...Các
hoạt động này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển nhân cách sinh viên.
Kết luận chương 1
Giao tiếp giữ vai trò là điều kiện tiên quyết trong quá trình hình thành
và phát triển của con người.
Phạm trù giao tiếp được nghiên cứu theo nhiều chiều hướng khác nhau,
mỗi hướng nghiên cứu có những mặt hợp lý riêng, trong đề tài này chúng tôi
nghiên cứu giao tiếp như một dạng hoạt động hay là hoạt động giao tiếp.
Giao tiếp xuất phát từ nhu cầu của cá nhân và cách thức thực hiện giao tiếp
thông qua kỹ năng hành động.
Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu cơ bản không thể thiếu của con người.
Đối với sinh viên, kỹ năng giao tiếp bộc lộ nhằm tạo lập, xây dựng mối
quan hệ giữa bạn bè và những người khác trong xã hội, đồng thời thực hành
những kỹ năng đã học được vào cuộc sống nhằm phục vụ cho nghề nghiệp
tương lai.
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vài nét về khách thể nghiên cứu
2.2. Tiến trình nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nhằm hệ thống lại các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: giao tiếp,
nhu cầu.
thuộc mức độ nào, rồi tính tổng mỗi mức độ.
- Tính điểm trung bình:
Quy ước:
Giỏi: 3 điểm
Khá : 2 điểm
Trung bình :1 điểm
Yếu : 0 điểm
Thang điểm: Giỏi: 2.25 - 3
Khá : 1.5 – 2.25
Trung bình :0.75 – 1. 5
Yếu : 0 – 0.75
Sau khi trả lời và xử lý kết quả cho phép ta đánh giá:
- Đo nhóm kỹ năng giao tiếp nào cao hơn, nhóm nào thấp hơn để đề ra
khuyến nghị phù hợp.
- Ta có thể biết từng kỹ năng trong mỗi nhóm mà sinh viên đã có theo
mức độ nào từ đó có biện pháp rèn luyện phù hợp
2.3.3. Phương pháp quan sát
Để có đủ tin cậy cho kết luận của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã sử
dụng kết hợp với phương pháp quan sát.
2.3.4. Phương pháp phỏng vấn
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp
phỏng vấn nhằm tìm hiểu thông tin biểu hiện về nhu cầu giao tiếp của sinh
viên. Phương pháp gồm hai hình thức:
* Phỏng vấn bằng Anket
* Phỏng vấn trực tiếp
2.3.5. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
bạn SV chưa tích cực tham gia các nhóm sinh hoạt, câu lạc bộ, hoạt động của
tập thể, của liên chi Đoàn. Số lượng SV tham gia không nhiều, kết quả hoạt
động diễn ra không cao. Điều này sẽ làm ảnh hưởng lớn ltới kết quả học tập
và rèn luyện của SV
* Mức độ nhu cầu giao tiếp (xét theo giới tính)
Qua bảng số liệu số 2 cho thấy cả nam và nữ có nhu cầu giao tiếp ở
mức độ trung bình thấp chiếm (40.41%; 37.66%). Mức độ nhu cầu giao tiếp
giữa nam và nữ SV khoa sư phạm có sự chênh lệch nhau ở các mức độ
(P
từng môn và khả năng nhận thức của từng SV
+ Nội dung quan hệ ứng xử hằng ngày tỷ lệ đề cập trong giao tiếp xếp
hạng thứ hai với X =1.57 ở mức độ thường xuyên, đặc điểm này phản ánh
tính chất đặc thù của SV SP là nghề cao quý nhất trong tất cả các nghề.
+ Nội dung rèn luyện tay nghề sư phạm của SV xếp vị trí thứ ba X
=1.47, ở mức độ thường xuyên. Chỉ có 149 SV chiếm 49,67% thường xuyên
rèn luyện. Trong đó chủ yếu thuộc sinh viên năm thứ 3 và thức tư. Đây là nội
dung rất quan trọng và mang tính đặc thù của nghề nghiệp sư phạm lại có số
SV hướng tới trong quá trình rèn luyện chưa nhiều mặc dù hơn 80% số SV
được hỏi cho rằng : Muốn dạy tốt sau khi ra trường sinh viên sư phạm vừa
phải học tốt chuyên môn, vừa phải tích cực rèn luyện tay nghề sư phạm. Kết
quả này một lần nữa chứng minh cho việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt
động để nâng cao tay nghề cho SVSP cần được tăng cường hơn nữa.
+ Nội dung tình bạn, tình yêu mức độ trung bình là 1.29, ở mức độ đôi
khi.
+ Tình hình kinh tế-chính trị, văn hoá -xã hội và hoạt động giải trí đều
được SV đề cập đôi khi.
3.1.3. Kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP-Trường ĐHTN
Để tìm hiểu về kỹ năng giao tiếp (KNGT) của sinh viên khoa SP –
Trường ĐHTN, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 300 mẫu SV và thu
được kết quả như sau:
3.1.3.1. Mức độ kỹ năng giao tiếp của SV khoa SP - Trường Đại học
Tây Nguyên.
* Xét theo tổng thể :
Qua bảng số liệu số 6 cho thấy: Trong tổng số 300 SV được khảo sát,
xếp theo mức độ thì không có SV nào xếp loại giỏi, SV xếp loại trung bình
chiếm phần lớn: 81%, loại khá 7% và yếu là 12%. Điều này cho thấy kỹ năng
giao tiếp của SV chưa cao, tương đồng với mức độ nhu cầu giao tiếp. SV loại
- Ở mức độ trung bình và yếu qua các ngành học không có sự khác
nhau (P>0.05)
3.1.3.2. Mức độ của từng kỹ năng giao tiếp
* Mức độ từng kỹ năng giao tiếp (xử lý theo tổng số)
Theo số liệu thu thập được thì các KNGT chung của SV đạt mức trung
bình, không có KNGT nào đạt loại giỏi, không có ai đạt điểm “lý tưởng”
(16điểm). Chúng tôi tính mức độ của từng cá nhân, sau đó xếp theo mức độ
của mỗi kỹ năng. Trong bảng tóm tắt này, em xin trình bày khái quát về từng
kỹ năng.
- Nhóm kỹ năng có điểm trung bình cao nhất trong 10 nhóm KNGT của
SV là sự nhảy cảm trong giao tiếp với, điểm trung bình X=1.65, đạt mức khá.
Chỉ số này chứng tỏ khả năng nắm bắt trạng thái tâm lý người khác ở SV cao,
SV có khả năng “đọc” trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói để phát hiện chính
xác đầy đủ thái độ, cảm xúc của đối tượng giao tiếp, từ đó đoán đúng nội tâm
của đối tượng.
- Nhóm xếp thứ bậc 2 là nhóm kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, dễ chịu và
năng lực tự kiềm chế, kiểm tra người khác, X =1.4, ở mức trung bình. Theo
đánh giá của SV thì khả năng ngôn ngữ của các bạn đã phù hợp với yêu cầu
của nghề sư phạm. Bên cạnh đó SV nhận thấy bản thân đã biết cách giữ bình
tĩnh trong những tình huống xảy ra.
- Xếp thứ 4 là các kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp, điểm
trung bình X =1.27, đạt mức trung bình.
- Nhóm năng lực thuyết phục đối tượng giao tiếp xếp thứ bậc 5, điểm
trung bình 1.04, đạt mức trung bình
- Nhóm khả năng chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp xếp thứ bậc
6, điểm trung bình 0.92, đạt mức trung bình.
- Xếp thứ bậc 7 là nhóm kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi, điểm trung
bình 0.84, đạt mức trung bình.