Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Nông Học Của Tập Đoàn Giống Chè Tại Phú Hộ Phục Vụ Công Tác Chọn Tạo Giống Bằng Phương Pháp Lai Hữu Tính - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

HÀ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC
CỦA TẬP ĐOÀN GIỐNG CHÈ TẠI PHÚ HỘ
PHỤC VỤ CÔNG TÁC CHỌN TẠO GIỐNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP LAI HỮU TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên - 2012


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

--------------------

HÀ PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG HỌC
CỦA TẬP ĐOÀN GIỐNG CHÈ TẠI PHÚ HỘ
PHỤC VỤ CÔNG TÁC CHỌN TẠO GIỐNG BẰNG
PHƯƠNG PHÁP LAI HỮU TÍNH

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10


chè tại Phú Hộ phục vụ công tác chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu
tính” được thực hiện từ năm 2010 đến 2012. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, công tác tại Bộ môn Nông học,
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; các cán bộ nghiên cứu của Trung tâm
nghiên cứu và phát triển chè, Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi
phía Bắc; các đồng nghiệp nơi tôi công tác.
Để bày tỏ lòng biết ơn, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện khoa kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía
Bắc đã cho tôi cơ hội tham gia khoá đào tạo thạc sĩ khoá k18 trồng trọt của trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Văn Toàn, PGS.TS Nguyễn Hữu
Hồng đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Khoa Nông học,
phòng quản lý đào tạo sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh Đạo Viện khoa kỹ thuật nông lâm
nghiệp miền núi phía Bắc và toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm nghiên cứu
và phát triển chè đã tạo điều kiện về vật chất và thời gian cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, anh em bè bạn và gia
đình đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong thời gian học tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2012
Tác giả luận án

Hà Phương



1.2.1.2. Những kết quả về chọn tạo giống chè trên thế giới
1.2.2. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của cây chè
1.2.2.2. Những kết quả về chọn tạo giống chè ở Việt Nam
1.2.3. Luận giải về sự cần thiết đặt ra các nội dung nghiên cứu
Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
2.2. Phạm vi nghiên cứu
3.3. Nội dung nghiên cứu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 1
2.4.1.1. Nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái
2.4.1.2. Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng
2.4.1.3. Nghiên cứu các chỉ tiêu về năng suất chè
2.4.1.4. Nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu

trang
i
ii
iii
v
v
vi
1
1
2
2
2
3
3

iv

2.4.1.5. Nghiên cứu các chỉ tiêu về mức độ sâu hại
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 2
2.4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hoa của các giống chè trong tập
đoàn
2.4.2.2. Xác định thời gian lai hoa, sức sống phấn hoa, sức sống nhụy hoa
của các giống chè nghiên cứu.
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu nội dung 3
3.4.4. Phương pháp thu thập thông tin
3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh trưởng, năng suất và chất lượng của
các giống chè trong tập đoàn
3.1.1. Đặc điểm hình thái lá của các giống chè nghiên cứu
3.1.2. Đặc điểm hình thái thân cành của các giống chè nghiên cứu
3.1.3. Đặc điểm hình thái búp của các giống chè nghiên cứu
3.1.4. Thời gian sinh trưởng búp của các giống chè nghiên cứu
3.1.5. Đánh giá sơ bộ mức độ sâu hại của các giống chè nghiên cứu
3.1.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống chè nghiên cứu
3.1.7. Thành phần sinh hóa của các giống chè nghiên cứu
3.1.8. Đánh giá bằng phương pháp thử nếm cảm quan chất lượng chè xanh
của các giống chè nghiên cứu
3.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm hoa, tính hữu dục, sức sống của hạt phấn và
sức sống của nhụy hoa của các giống chè nghiên cứu
3.2.1. Đặc điểm nở hoa của các giống chè nghiên cứu
3.2.2. Đặc điểm cấu tạo hoa của một số giống chè nghiên cứu
3.2.3. Nghiên cứu tính hữu dục, bất dục của các giống chè nghiên cứu
3.2.4. Nghiên cứu sức sống của hạt phấn của một số giống chè nghiên cứu
3.3. Kết quả nghiên cứu lựa chọn các tổ hợp lai và khả năng kết hợp của các tổ

61
63
65
68
68
69
70
70
71
72
72
74


v

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT

CT : Công thức
ĐC : Đối chứng
FAO : Tổ chức Nông lương thế giới
HĐND : Hội Đồng Nhân Dân
NLN : Nông lâm nghiệp
TB : Trung bình
Viện KHKT NLN : Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp
UBND : Ủy Ban Nhân Dân
TQLN : Trung Quốc lá nhỏ
TQLT : Trung Quốc lá to
Chất HT : Chất hòa tan
LV 2000 : Long Vân 2000

50

Bảng 3.7: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
chè nghiên cứu

52

Bảng 3.8. Kết quả phân tích thành phần sinh hóa của các giống chè
nghiên cứu

54

Bảng 3.9. Kết quả đánh giá cảm quan chất lượng chè xanh của các
giống chè nghiên cứu

57

Bảng 3.10. Đặc điểm về thời gian nở hoa của các giống chè nghiên cứu

60

Bảng 3.11: Đặc điểm hoa của một số giống chè nghiên cứu

62

Bảng 3.12: Tính hữu dục, bất dục của các giống chè nghiên cứu

64

Bảng 3.13. Sức sống hạt phấn của một số giống chè nghiên cứu

Thế giới coi công tác chọn tạo giống chè là một nhiệm vụ quan trọng
nhất để tạo ra sự đột biến của các sản phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh của sản
phẩm. Mục tiêu của chọn giống chè ngày nay không chỉ đơn thuần là tạo ra
các giống có năng suất cao, mà phải là có chất lượng tốt cho từng loại sản
phẩm.
Trong những năm qua, công tác chọn tạo giống cây trồng bằng phương
pháp lai hữu tính đã và đang trở thành phổ biến trên thế giới.
Để công tác chọn tạo giống chè bằng lai hữu tính có hiệu quả cao, vấn đề
đặc biệt quan trọng đó là phải tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu phong phú, trên
cơ sở chọn các tổ hợp lai thích hợp để từ đó có thể nhanh chóng chọn ra được
các giống chè có đặc tính quí phục vụ cho công tác chọn giống.
Ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm
tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu phong phú phục vụ cho công tác chọn giống
chè như: Phương pháp lai hữu tinh (lai cưỡng bức), phương pháp đột biến
nhân tạo, thu thập giống trong và ngoài nước…


2

Trong các phương pháp trên, cho đến nay phương phap lai hữu tính đang
tỏ ra có hiệu quả hơn, đặc biệt là tạo ra các giống có năng suất chất lượng
vượt trội, ổn định và phù hợp với điều kiện từng vùng.
Ở nước ta, công tác chọn giống chè đã tạo ra một số giống có chất lượng
phù hợp với chế biến chè xanh, chè đen xuất khẩu từ phương pháp lai tạo.
Song những giống này vẫn còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu chế biến chè
xanh chất lượng cao. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu một số đặc điểm nông học của tập đoàn giống chè tại Phú Hộ phục vụ
công tác chọn tạo giống bằng phương pháp lai hữu tính”. Trên cở sở
nghiên cứu, đánh giá nguồn vật liệu khởi đầu từ các giống chè nhập nội từ
Trung Quốc, Nhật Bản và một số giống chè Việt Nam chất lượng cao lựa



4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở di truyền học
1.1.1.1. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây chè
a. Nguồn gốc
Đến nay việc xác định nguồn gốc của cây chè vẫn còn tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau dựa trên cơ sở lịch sử, khảo cổ học hay thực vật học.
Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là:
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam – Trung Quốc.
Theo Daraselia (Grulia)-1989, các nhà khoa học Trung Quốc như Su-ChenPen, Jao-Dinh… đã giải thích sự phân bố của cây chè mẹ như sau: tỉnh Vân
Nam là nơi bắt đầu hàng loạt các con sông lớn đổ về những con sông ở Việt
Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện. Đầu tiên cây chè mọc ở Vân Nam sau
đó hạt chè được di chuyển tới các nước nói trên và từ đó lan dần ra cả vùng
rộng lớn
Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc)[10] cho rằng: Nơi nguyên sản
của cây chè là Vân Nam – Trung Quốc, chúng di thực về phía Đông qua tỉnh
Tứ Xuyên bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành giống chè lá nhỏ, di thực
về phía Nam và Tây Nam là Ấn Độ, Mianma, Việt Nambieens thành giống
chè lá to.
Trang Văn Phương – 1968 kết luận rằng: cây chè ở tỉnh Vân Nam –
Trung Quốc hiện nay là loài chè nguyên thủy, già nhất thế giới. Ngoài ra, các
nhà khoa học Hà Lan khác như J.J.B.Deuss(1993), J.Werkhoven (1974)cũng
cho rằng cây chè có nguồn gốc ở vùng Đông cao nguyên Tây Tạng và vùng
Đông Nam – Trung Quốc
- Quan điểm cho rằng cây chè có nguồn gốc từ Assam- Ấn Độ: Năm
1823, Robert Bruce đã phát hiện được những cây chè dại, lá to, khác hoàn

Dicotyledonea.

Bộ chè

Theales.

Họ chè

Theaceae

Chi chè

Camellia

Loại chè

Sinensis


6

Có nhiều cách phân loại cây chè nhưng cách phân loại của các nhà bác
học Hà Lan CohenStuart- 1916 được nhiều người chấp nhận nhất (theo
Nguyễn Ngọc Kính - 1979).
CohenStuartchia cây chè ra làm 4 thứ (Varietas):
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. marcophyla): Thân gỗ
nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá to trung bình chiều dài
12-15cm, rộng 5-7cm, mầu xanh nhạt, bóng. Răng cưa sâu không đều, đầu lá
nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ. Năng suất cao, phẩm chất tốt, nguyên
sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).

chè nhằm kết hợp nhiều đặc trưng đặc tính của các giống tốt tạo ra tổ hợp
mới, để tái tổ hợp kiểu gen của bố mẹ sau đó lựa chọn, bồi dục thành giống
lai. Lai giống là phương pháp chủ động nhất để tạo ra giống mới. Hiện nay
các giống chè lai được tạo ra phổ biến ở các nước trồng chè tiên tiến trên thế
giới. Các nước và vùng lãnh thổ có các giống chè lai hữu tính chiếm tỷ trọng
lớn như: Ấn Độ, Liên Xô cũ, Đài Loan,… thường có năng suất cao, phẩm
chát tốt, đặc biệt là khả năng chống chịu.
Kỹ thuật lai giống chè tương đối đơn giản vì hoa chè có kích thước
lớn(4-7cm), chỉ nhụy dài (0,4-1,5cm). Đại đa số các giống có có vòi nhụy cao
hơn chỉ nhụy, đầu vòi nhụy có xẻ rãnh mở ra ngoài, những đặc điểm này đều
rất thuận lợi cho thao tác lai cưỡng bức bằng tay. Mỗi cây chè thường có
khoảng 300-350 hoa. Ở Việt Nam các giống chè thường ra hoa vào tháng 1112, vì thế đa số các cặp lai đều có thể tiến hành mà không cần phải bảo quản
hạt phấn. Trường hợp trong cặp bố mẹ chúng ta đã lựa chọn không có cùng
thời gian nở hoa thì hạt phấn cần đưa vào bảo quản ở nhiệt độ bình thường
của không khí với ẩm độ 25-30% (Trong điều kiện như vậy ở Phú Hộ giữ
được sức nảy mầm của hạt phấn trong vòng 40 ngày).


8

Nhìn chung các cách lai hữu tính của cây trồng có thể áp dụng cho lai
chè, nhưng để phù hợp với cây chè, người ta thường sử dụng các biện pháp
sau đây:
- Lai đơn giản: (A x B) (giống viết trước được quy định là mẹ).
- Lai thuận nghịch: (A x B), (B x A)
- Lai Dialen (luân giao): Đem các dòng định thử lai luân phiên trực tiếp
với nhau: (A x B) (C x B) (D x B ).
- Lai chu kỳ: (A x A) (A x B) ( A x C).
Khi chọn cây bố mẹ, cần lưu ý các yếu tố sau đây:
- Thường chọn cây bố mẹ khác biến chủng, thường khác nhau về yếu tố

lai với bố hoặc mẹ.
1.1.2. Cơ sở sinh lý học
1.1.2.1 Đặc điểm sinh vật học của cây chè
Thân cây chè: Cây chè có dạng thân thẳng và tròn, phân nhánh liên tục
tạo thành hệ thống cành các cấp, tùy theo độ cao của cây, kích thước của tán
và độ cao phân cành đầu tiên mà chia thành các dạng thân gỗ, thân bịu bán
gỗ.
Mầm chè: trên cây chè có 2 loại mầm chính là mầm sinh dưỡng và mầm
sinh thực, mỗi loại mầm phân bố ở 1 vị trí khác nhau, có khả năng sinh
trưởng và có ý nghĩa với sản xuất chè khác nhau.
Sơ đồ đợt sinh trưởng búp


10

Trong mầm sinh dưỡng chia làm 3 loại mầm ở các vị trí khác nhau trên
thân và cành chè là: Mầm đỉnh, nằm ở đầu tận cùng của các cành chè. Mầm
nách, nằm ở các nách lá trên cành chè, khi còn mầm đỉnh mầm nách bị ức chế
không hoạt động. Mầm ngủ, nằm ở các phần cành có màu nâu hay trên thân
chính. Mầm ngủ chỉ phát triển tạo ra cành lá mới khi tiến hành các kỹ thuật
đốn hay khi cây chè có biểu hiện của thay tán cũ.
Ngoài mầm dinh dưỡng còn có các mầm sinh thực có nhiệm vụ phân hóa
thành hoa, quả và hạt chè.
Búp chè: Là phần cành và lá non trên cây chè. Cấu tạo của búp gồm có
tôm chè và các lá non, với các búp chè không có phần tôm chè được gọi là
búp mù. Búp chè do các mầm sinh dưỡng hoạt động tạo ra theo 1 chu kỳ khép
kín như sau:
Mầm ngủ → mầm được phát động → lá vẩy ốc mở → lá cá → các lá thật
→ mầm ngừng hoạt động → mầm ngủ → mầm được phát động,…
Lá chè: Là cơ quan quang hợp làm nhiệm vụ tổng hợp các chất hữu cơ

phình to; ra lá vẩy ốc(tròn, nhỏ, nhẵn như vẩy ốc); mọc lá cá(lá bé, ít hoặc
không có răng cưa); ra lá thật (5-7 lá đầy đủ đặc trưng); xuất hiện búp mù
xòe.
Sinh trưởng cành: Cành chè được mọc ra từ mầm nách, cành mọc ra từ
thân chính gọi là cành cấp 1. Cành mọc ra từ cành cấp 1 gọi là cành cấp 2, cứ
nhu vậy mỗi năm có 8 - 9 cấp cành. Hái búp tạo ra cành từng tháng.
Sinh trưởng rễ: Sinh trưởng rễ lúc nhanh lúc chậm xen kẽ với sự sinh
trưởng bộ phận trên mặt đất. Mùa đông thân lá ngừng mọc thì rễ phát triển
mạnh, đầu vụ búp chè xuân hình thành thì rễ ngừng sau đó cành ngừng thì rễ
lại mọc nhanh, chè chính vụ rễ mọc chậm lại, búp mọc nhanh. Trong năm có
3- 4 đợt như vậy.
Ra hoa, kết quả: Cây chè thân gỗ, 2-3 tuổi ra hoa kết quả, từ khi hoa nở
đến khi hạt chín mất khoảng 15 tháng, bắt đầu tháng 6 hàng năm. Hoa chè
lưỡng tính nhưng thụ phấn chéo, nhị đực và nhụy cái thời điểm chín khác
nhau trên 1 hoa. Vì vậy chè chỉ đậu quả 2-4%số hoa nhờ côn trùng.


12

1.1.2.3. Yêu cầu sinh thái của cây chè
Cây chè tồn tại phát triển trong hệ sinh thái nông nghiệp có giới hạn
xác định, ngày nay con người hiểu được muốn phát triển chè một cách bền
vững cần kết hợp sản xuất chè với bảo vệ thiên nhiên và liên quan đến các
yếu tố kinh tế xã hội. Trong đó, yếu tố tự nhiên như khí hậu, đất đai, thời
tiết, địa hình là vô cùng quan trọng.
Yêu cầu nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát
triển là 22-280C, búp chè sinh trưởng chậm ở nhiệt độ 15-180C. Nhiệt độ
giới hạn cho sinh trưởng của cây chè là 100C, dưới 100C cây sinh trưởng
rất chậm hay tạm ngừng sinh trưởng. Nhiệt độ trên 300C sinh trưởn của búp
chè chậm, búp héo, mau già. Nhiệt độ 40C các búp chè bị cháy xém. Tổng

lượng và vi lượng. Yêu cầu hàm lượng các nguyên tố đa lượng của đất
trồng chè như sau: Đạm tổng số >0,2%, kali trao đổi từ 10-15mg /100g đất,
lân dễ tiêu 30-32mg /100g đất.
Yêu cầu về địa hình: Địa hình có ảnh hưởng đến tiểu khí hậu của vùng
chè, xói mòn đất và áp dụng các kỹ thuật canh tác, thu hoạch trên nương
chè. Đất trồng chè hích hợp có độ dốc từ 5-100, tối đa không quá 250, đất
có độ dốc >250 khả năng giữ nước kém, dễ bị xói mòn. Độ cao so với mặt
biển có ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng cây chè. Độ cao so với
mặt biển càng lớn cây chè sinh trưởng càng chậm, song có chất lượng búp
cao. Ngoài yếu tố địa hình và độ cao so với mặt biển, vĩ độ địa lý cũng có
ảnh hưởng đến sinh trưởng và sinh sản chè. Cây chè trồng ở các vĩ độ càng
xa xích đạo sinh trưởng kém, năng suất và chất lượng búp thấp hơn so với
cây chè ở vùng gần xích đạo.
1.2. Các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2.1.Các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.1.1. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của cây chè
Đặc điểm hình thái (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời
gian sinh trưởng(bắt đầu, kết thúc sinh trưởng), số đợt sinh trưởng búp/năm
có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng nguyên liệu


14

chè. Do vậy, nghiên cứu đặc tính sinh vật học của cây chè nhằm tuyển chọn
những gống chè tốt để mở rộng diện tích những giống chè đã chọn lọc luôn
được quan tâm.
a. Nghiên cứu lá chè
Bakhơtadze, Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất đã đề ra các
chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: Màu sắc, kích thước lá, cấu tạo
giải phẫu lá.

kiện để giống hay không đốn các mầm chè được phân hóa trong vụ thu, vụ
đông và hình thành búp trong vụ xuân. Ở những nương chè có đốn sự phân
hóa mầm chè chủ yếu diễn ra ở vụ xuân.
c. Nghiên cứu về sự phát triển của rễ chè
Nghiên cứu về sự khác nhau của bộ rễ ở các giống chè, Tabagari đã cho
rằng: Các giống chè khác nhau có bộ rễ sinh trưởng phát triển khác nhau
trong đó các giống chọn lọc thường có bộ rễ sinh trưởng mạnh hơn các giống
chè địa phương.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế hệ lá và bộ rễ với khả
năng chống chịu của các giống chè, Hadfiel.W [20] chỉ ra rằng: Những giống
chè Trung Quốc lá nhỏ, phiến lá đứng có bộ rễ phân bố sâu dưới mặt đất nên
khả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác.
1.2.1.2. Những kết quả về chọn tạo giống chè trên thế giới
Qua 100 năm, ngành chè thế giới đã tổng kết công tác chọn giống chè
mới được đẩy mạnh, cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới
đưa ra sản xuất cần thời gian dài. Việc nghiên cứu thành công kỹ thuật nhân
giống giâm cành chè đã thúc đẩy mạnh mẽ công tác chọn giống tốt. Theo
thống kê đến năm 1990 của 11 nước và khu vực trồng chè trên thế giới có số
lượng giống chè mới tạo ra là 446 giống, trong đó 387 giống vô tính chiếm
77%, giống lưỡng hệ, đa hệ vô tính 22 giống chiếm tỷ trọng 4,93%, giống
lưỡng hữu tính chọn lọc 37 giống chiếm tỷ trọng 8,3%.
Tại Nhật Bản, các giống chè tốt chiếm 65% trong tổng diện tích vườn
chè của cả nước. Để chọn lọc các giống chè mới, các nước cũng áp dụng


16

nhiều biện pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai
hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến… Trong đó phương pháp chọn lọc cây
đầu dòng được chú ý. Đứng về lịch sử phat triển giống chè trên thế giới thì

cây chè coi là tương quan tuyến tính. Trọng lượng búp, số lượng búp đều có
tính tương quan thuận với sản lượng (Thân Đỗ Kiệt 1979)
- Giám định chất lượng chè: người Nhật từ lâu đã dựa và môi, họng nếm
chè tươi để giám định chất lượng chè. Người Trung Quốc coi trọng lông tuyết
của búp (tôm) chè. Sanderson (1963) cho thấy, năng lực lên men và hoạt tính
oxy hóa của men trong lá chè có quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết quả này cho
phép dùng chất Clorofooc định lượng men trong chè. Theo Dương Á Quân
(1990), hàm lượng polyphenol trong búp chè có thể là chỉ tiêu dùng để tuyển
chọn sơ bộ các giống chè thích hợp làm chè đen và hàm lượng axit amin là
chỉ tiêu thích hợp dùng để tuyển chọn giống chè thích hợp làm chè xanh.
- Giám định giống chống chịu sâu bệnh nói chung phải kết hợp giám
định trên đồng ruộng và giám định nhân tạo. Một số tác giả còn đi sâu nghiên
cứu các phương pháp giải phẫu tế bào và phân tích thành phần hóa học, ví dụ
như Simusal 1939 đã chỉ ra số lông tơ trên phiến lá nhiều, hàm lượng
polyphenol cao, thậm chí giá tri pH cao của thịt lá là những chỉ tiêu chống
chịu bệnh mạnh.
1.2.2. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của cây chè
Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của các giống chè ở Việt Nam
cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm.
a. Nghiên cứu sinh trưởng của búp chè
Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn hái và
điều kiện tự nhiên Lê Tất Khương [5] cho rằng tùy điều kiện tự nhiên mà các
giống chè sinh trưởng khác nhau nhưng giữa các giống ít có sự sai khác về số
đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3.4 –
3.6 đợt/năm. Tuy nhiên trong điều kiện có đốn, hái của các giống sẽ có sựu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status