Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của bốn loài cây thuốc quí thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae) ở Việt Nam nhằm bảo tồn (chưa hoàn chỉnh) - Pdf 26

Mục lục

Trang
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iv

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

v
ii

Danh mục các bảng

ix

Danh mục các hình

x
i

mở đầu


gũ gia bì gai,
Sâm vũ diệp, Tam thất hoang trên thế giới và ở Việt Nam
12

1.3.1. Tình hình nghiên cứu về Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai

12

1.3.1.1. Trên thế giới

12

1.3.1.2. ở Việt Nam

18

1.3.2. Tình hình nghiên cứu về Sâm vũ diệp và Tam thất hoang

22

1.3.2.1. Trên thế giới

22

1.3.2.2. ở Việt Nam

29

2.3.1. Phơng pháp nghiên cứu thực vật

38

2.3.2. Phơng pháp khảo sát sơ bộ thành phần hoá học

38

2.3.3. Phơng pháp nhân giống phục vụ cho mục đích bảo tồn

39

2.3.4. Phơng pháp xử lý số liệu

40

2.3.5. Trang thiết bị và dung môi hóa chất

41

2.4. Địa điểm nghiên cứu41

Chơng 3. kết quả và bàn luận

42

3.1. Nghiên cứu về thực vật học

3.1.2.1. Kết quả tách chiết ADN

49

3.1.2.2. Sử dụng chỉ thị RAPD-PCR để đánh giá sự đa dạng di truyền

53

3.1.2.3. Bớc đầu xác định tập hợp một số chỉ thị RAPD-PCR đặc trng góp
phần phân biệt các loài Ngũ gia bì hơng, Ngũ gia bì gai, Sâm vũ diệp
và Tam thất hoang
66

3.1.3. Phân bố và hiện trạng

69

3.1.3.1. Ngũ gia bì hơng
69

3.1.3.2. Ngũ gia bì gai
71

3.1.3.3. Sâm vũ diệp và Tam thất hoang
76

3.1.4. Đặc điểm sinh thái, sinh trởng - phát triển và tái sinh tự nhiên

94

3.2.2. Phân tích tinh dầu lá các đối tợng nghiên cứu

95

3.2.2.1. Định lợng tinh dầu

96

3.2.2.2. Phân tích thành phần hóa học của tinh dầu các dợc liệu nghiên cứu
bằng phơng pháp sắc ký khí khối phổ (GC/MS) 96

3.2.3. Bớc đầu xây dựng dấu vân tay hóa học bằng sắc ký lỏng cao áp
(SKLCA) của các dợc liệu 100

3.2.3.1. Ngũ gia bì hơng

101

3.2.3.2. Ngũ gia bì gai
102

3.2.3.3. Sâm vũ diệp và Tam thất hoang


3.3.2.2. Sự sinh trởng và phát triển của các loài đợc bảo tồn chuyển chỗ

121

3.3.2.3. Kết quả bớc đầu nghiên cứu bảo tồn chuyển chỗ và trồng thêm

134

3.3.2.4. Triển vọng nhân trồng và phát triển tại chỗ Ngũ gia bì hơng, Ngũ
gia bì gai, Sâm vũ diệp và Tam thất hoang 141

3.3.2.5. Xây dựng dữ liệu phục vụ bảo tồn các loài Ngũ gia bì hơng, Ngũ gia
bì gai, Sâm vũ diệp và Tam thất hoang 146

Kết luận

147

đề nghị

149

Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan

ĐDSH Đa dạng sinh học
FAO Tổ chức lơng thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc (The Food
and Agriculture Orgnization of the United Nations)
G Mẫu Ngũ gia bì gai sử dụng trong phân tích ADN
GC/MS Phơng pháp sắc ký khí khối phổ (Gas Chromatography / Mass
Spectrophotometry)
H Mẫu Ngũ gia bì hơng sử dụng trong phân tích ADN
HN Bảo tàng thực vật (thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,

Viện Khoa học Việt Nam)
HNPM Bảo tàng Dợc liệu (thuộc Khoa Tài nguyên dợc liệu, Viện
Dợc liệu, Bộ Y Tế)
HNU Bảo tàng thực vật (thuộc Khoa Sinh học, Trờng Đại học Khoa
học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội)
HPLC Sắc ký lỏng cao áp (High Perfomance Liquid Chromatography,
còn gọi là Sắc ký lỏng hiệu năng cao)
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (The International Union
for Conservation of Nature and Natural Resouses)
KHKT Khoa học kỹ thuật
NGBG Ngũ gia bì gai
NGBGL Ngũ gia bì gai lông
NGBH Ngũ gia bì hơng
NXB Nhà xuất bản
PCR Phản ứng chuỗi trùng hợp ADN (Polymerase Chain Reaction)
RAPD-PCR

Đa hình các phân đoạn ADN khuếch đại ngẫu nhiên (Random
Amplified Polymorphic DNA)
RFLP Đa hình độ dài các đoạn giới hạn (Restricted Fragment Length
Polymorphism)

Trang
Bảng 3.1.

Danh sách và kí hiệu các mẫu thực vật sử dụng trong nghiên cứu phân
tích ADN (chỉ thị RAPD-PCR) 50

Bảng 3.2.

Kết quả đo quang phổ hấp thụ dịch chiết ADN tổng số các mẫu Ngũ gia
bì hơng (H) và Ngũ gia bì gai (G) 51

Bảng 3.3.

Kết quả đo mật độ quang phổ hấp thụ dịch chiết ADN tổng số các mẫu
Sâm vũ diệp (V), Tam thất hoang (T) và dạng lá xẻ nông (VT) 52

Bảng 3.4.

Số băng RAPD-PCR đa hình của các mẫu thuộc hai loài Ngũ gia bì
hơng và Ngũ gia bì gai phân tích với 16 mồi ngẫu nhiên

66

Bảng 3.9.

Các chỉ thị RAPD-PCR đồng hình và đa hình có thể sử dụng góp phần
phân biệt hai loài Sâm vũ diệp và Tam thất hoang 68

Bảng 3.10.

Các địa phơng ở Việt Nam đã phát hiện thấy Ngũ gia bì gai

74

Bảng 3.11.

Kết quả định tính một số nhóm chất chính trong vỏ rễ Ngũ gia bì hơng
và Ngũ gia bì gai 94

Bảng 3.12.

Kết quả định tính một số nhóm chất chính trong thân rễ Sâm vũ diệp và
Tam thất hoang
99

Bảng 3.17.

Tỷ lệ nảy mầm của hạt Ngũ gia bì gai

112Bảng 3.18.

Mối tơng quan giữa đờng kính hom và khả năng ra chồi và rễ của Ngũ
gia bình hơng và Ngũ gia bì gai

114

Bảng 3.19.

Kết quả nhân giống Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai bằng hom (thân)
trong các năm 2004 - 2006 116

Bảng 3.20.

Tỷ lệ nảy mầm của hạt Sâm vũ diệp và Tam thất hoang


122

Bảng 3.25.

Sự tăng trởng chiều cao của cây chồi Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì
gai trong 12 tháng trồng ở vờn ơm 122

Bảng 3.26.

Sự tăng trởng đờng kính thân của Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai
trong 12 tháng trồng ở vờn ơm 124

Bảng 3.27.

Sự tăng trởng chiều cao và ra chồi mới của Ngũ gia bì hơng và Ngũ
gia bì gai sau giai đoạn vờn ơm 126

Bảng 3.28.

Tỷ lệ ra hoa, kết quả của Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai theo dõi
qua các năm

Tỷ lệ kết quả của Sâm vũ diệp và Tam thất hoang trồng từ thân rễ (củ)
dới vờn mái che và dới tán rừng tự nhiên có trồngThảo quả 132

Bảng 3.33.

Tỷ lệ sống của các cây gieo từ hạt

136

Bảng 3.34.

Tỷ lệ sống của các cây nhân giống từ hom thân và thân rễ

136Danh Mục các hình
Trang
Hình 3.1.
Ngũ gia bì hơng (cành mang nụ hoa)

44

Hình 3.2.
Ngũ gia bì gai lông

46

Hình 3.8.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gai bì hơng (H) và
Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPC9 54

Hình 3.9.
ảnh điện di sản phẩm RAPD-PCR các mẫu Ngũ gia bì hơng (H) và
Ngũ gia bì gai (G) đợc khuếch đại bằng mồi OPA5 55

Hình 3.10.
Sơ đồ hình cây quan hệ di truyền giữa các mẫu nghiên cứu của hai loài
Ngũ gia bì hơng (H) và Ngũ gia bì gai (G) 59

Hình 3.11.
Băng đồng hình của các mẫu Sâm vũ diệp (V) và dạng lá xẻ nông (VT)
tơng ứng với mồi OPC1 61

Hình 3.12.
Băng đồng hình của các mẫu Tam thất hoang (T) tơng ứng với mồi OPA7


Hình 3.17.
Bản đồ điểm phân bố Ngũ gia bì hơng ở Việt Nam

70

Hình 3.18.
Bản đồ điểm phân bố Ngũ gia bì gai ở Việt Nam

71

Hình 3.19.
Bản đồ điểm phân bố Sâm vũ diệp và Tam thất hoang ở Việt Nam

77

Hình 3.20.
Chồi ngắn của Ngũ gia bì hơng

83

Hình 3.21.
Ngũ gia bì hơng rụng lá

83

Hình 3.22.
Hoa Ngũ gia bì hơng mọc từ chồi ngắn

83


Hình 3.29.
Sâm vũ diệp ra hoa

91

Hình 3.30.
Sâm vũ diệp có quả chín

91

Hình 3.31.
Sâm vũ diệp có thân mang lá vàng úa và tàn lụi

91

Hình 3.32.
Chồi thân của Tam thất hoang

92

Hình 3.33.
Tam thất hoang ra hoa

92

Hình 3.34.
Tam thất hoang có quả chín

92
104

Hình 3.40.
Sắc ký đồ SKLCA dịch chiết toàn phần của Tam thất hoang và phổ
UV-VIS của các pic có t
R
tơng ứng là 38,02 phút và 39,70 phút 104

Hình 3.41.
Ngũ gia bì hơng ở điểm bảo tồn tại chỗ (Phó Bảng - Đồng Văn - Hà
Giang) 110

Hình 3.42.
Ngũ gia bì gai ở điểm bảo tồn tại chỗ (Đức Xuân - Thạch An - Cao
Bằng) 110

Hình 3.43.
Tam thất hoang ở điểm bảo tồn tại chỗ (Bản Khoang - Sa Pa - Lào
Cai)

Hom giống Ngũ gia bì gai ra chồi

115

Hình 3.50.
Hạt Sâm vũ diệp

120

Hình 3.51.
Hạt Tam thất hoang

120

Hình 3.52.
Cây con Sâm vũ diệp mọc từ hạt

120

Hình 3.53.
Cây con Tam thất hoang mọc từ hạt

120

Hình 3.54.
Thân rễ (củ) của Sâm vũ diệp và Tam thất hoang

120

Hình 3.55.
131

Hình 3.60.
Tỷ lệ kết quả của Sâm vũ diệp trồng ở vờn mái che (VMC) và dới
tán rừng tự nhiên có trồng Thảo quả (RTQ) 133

Hình 3.61.
Tỷ lệ kết quả của Tam thất hoang trồng ở vờn mái che (VMC) và
dới tán rừng tự nhiên có trồng Thảo quả (RTQ) 133

Hình 3.62.
Vờn bảo tồn Ngũ gia bì hơng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa
Pa (Viện Dợc Liệu) 137

Hình 3.63.
Ngũ gia bì hơng đợc trồng thêm để bảo tồn tại Trung tâm KHKT
giống cây trồng và gia súc Phó Bảng (Hà Giang)

140

Hình 3.69.
Sâm vũ diệp và Tam thất hoang đợc trồng bảo tồn dới tán rừng tự
nhiên có trồng Thảo quả ở xã Bản Khoang - Sa Pa - Lào Cai 140 1

Mở đầu
Từ ngàn xa, cùng với việc phát hiện ra các nguồn thức ăn, con ngời
cũng sớm biết sử dụng các loài cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh và bảo
vệ sức khỏe. Trải qua hàng ngàn năm sàng lọc và tích lũy, kho tàng kiến thức
về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú và hoàn thiện.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, nên
nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Thêm vào đó, cộng đồng các
dân tộc Việt Nam từ lâu đời cũng đã có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loại
cây cỏ làm thuốc. Song, với sự gia tăng dân số nhanh, cùng với việc khai thác
tài nguyên sinh vật quá mức, nguồn cây thuốc thiên nhiên đã dần bị suy giảm
nghiêm trọng. Không ít loài vốn hiếm gặp, lại bị tác động bởi sự khai thác
không kế hoạch nên đang đứng trớc nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Vì vậy, vấn
đề bảo tồn cây thuốc nói chung và nhất là những loài đang bị đe dọa trở thành
mối quan tâm hàng đầu trong chiến lợc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) ở

nhằm bảo tồn và phát triển.
Đề tài đợc thực hiện nhằm mục đích nắm đợc các đặc điểm sinh học
cơ bản (về sự phân bố, đặc điểm sinh thái, tính đa dạng di truyền, khả năng
tái sinh và nhân trồng) cùng với một số dẫn liệu về giá trị sử dụng (thành
phần hóa học của một số nhóm chất sinh học thứ cấp) của bốn loài trên làm
cơ sở cho việc bảo tồn đi đôi với nhân trồng phát triển tại chỗ ở Việt Nam. 3

Chơng 1. Tổng quan tài liệu

1.1. Tình hình nghiên cứu bảo tồn cây thuốc trên thế
giới và một số vấn đề có liên quan
Cây thuốc là nhóm tài nguyên thực vật có giá trị, liên quan trực tiếp
đến việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng. Kinh nghiệm sử dụng các loài cây thuốc
đã đợc ghi nhận từ cách đây hàng nghìn năm [77, 93, 150]. Theo ớc tính
của Quĩ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF), có khoảng từ 35.000 đến
70.000 loài (trong số 250.000 loài cây) đợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh
trên toàn thế giới [49]. Trong đó, riêng Trung Quốc đã công bố tới hơn 10.000
loài [93, 99, 150]; ấn Độ có khoảng 6.000 loài [78, 93]; Vùng nhiệt đới châu
Mỹ có hơn 1900 loài thực vật có hoa đợc sử dụng làm thuốc [93]; ngoài ra ở
các nớc châu Phi, nh Zaire, Botsoana, Kenia, cũng có hàng trăm loài cây
thuốc đợc sử dụng rộng rãi.
Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), có khoảng 80% dân số
ở các nớc đang phát triển (chiếm khoảng 3,5 - 4 tỷ ngời trên thế giới) có
nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền. Trong

mô toàn cầu. Nhiều quốc gia cũng đã biên soạn các bộ Sách đỏ của quốc gia
nh: Liên Xô (cũ), ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi [87, 126, 156].
Hàng năm IUCN vẫn thờng xuyên cập nhật các loài vào trong Danh lục đỏ
(IUCN Red List), nhằm khuyến cáo cho công tác bảo tồn [107].
Năm 1973, Công ớc thơng mại quốc tế về những loài động - thực vật
hoang dã bị nguy hiểm (CITES) đã ra đời [65, 80]. Theo công ớc này, nhiều
loài động vật và thực vật đã đợc đa vào danh sách bị cấm hay hạn chế
thơng mại trên phạm vi toàn cầu. Trong đó, có không ít loài là cây hay con
đợc dùng làm thuốc. Năm 1988, Hội thảo quốc tế về bảo tồn cây thuốc ở
Thái Lan đã ra Tuyên ngôn Chiang Mai, trong đó, đánh giá cao tầm quan
trọng của cây thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe con ngời, cũng nh đánh
5

giá tiềm năng và giá trị kinh tế của cây thuốc. Đồng thời bản tuyên ngôn này
cũng đã kêu gọi Liên Hợp quốc và các quốc gia thành viên, cùng với các tổ
chức quốc tế khác, cần có những hành động thiết thực để bảo tồn tài nguyên
cây thuốc. Điều này cũng chính là sự bảo tồn giá trị của ĐDSH trong các nền
văn hóa của mỗi quốc gia [42, 62]. Theo Akerele (1991), vấn đề bảo tồn cây
thuốc ở các quốc gia chính là sự nhận biết và bảo tồn giá trị sử dụng của
chúng trong y học dân tộc [77]. Đề cập đến bảo tồn những loài cây thuốc đang
bị đe dọa, Hamann (1991) cũng cho rằng không có cách nào khác là phải nắm
vững về phân bố, tình hình hiện trạng của chúng để thiết lập các khu vực bảo
tồn tại chỗ (in situ) và bảo tồn chuyển chỗ (ex situ) [97].
Phơng pháp bảo tồn tại chỗ thờng đợc thực hiện bằng việc xây dựng
các khu rừng cấm nghiêm ngặt hoặc các vờn quốc gia, mà ở đó cây thuốc và
các loài sinh vật khác đợc giữ nguyên vẹn và lâu dài trong các hệ sinh thái tự
nhiên khởi thủy của chúng. Bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn các bộ phận hợp

triển của Di truyền học và Sinh học phân tử vài chục năm trở lại đây cùng với
việc phát triển nhiều kỹ thuật phân tích các chỉ thị ADN đã cung cấp thêm
một công cụ bổ sung cho công tác nghiên cứu phân loại, phân tích ĐDSH, xác
định đặc trng cá thể và khoảng cách di truyền giữa các quần thể nhằm mục
đích định hớng bảo tồn và chọn tạo giống. Những chỉ thị ADN đợc dùng
phổ biến trong công tác phân loại có thể kể đến bao gồm: đa hình độ dài các
đoạn giới hạn RFLP (restricted fragment length polymorphism) và các chỉ thị
dựa trên phơng pháp PCR, nh đa hình các phân đoạn ADN khuếch đại ngẫu
nhiên RAPD-PCR (random amplified polymorphic DNA), RFLP-PCR, đa
hình độ dài các phân đoạn khuếch đại AFLP (amplified fragment length
polymorphism), đa hình các trình tự lập lại đơn giản SSR (simple sequence
repeats), v.v So với chỉ thị hình thái và hóa học, chỉ thị ADN có nhiều lợi thế
rõ rệt vì nó hầu nh không bị ảnh hởng bởi các yếu tố môi trờng, tuổi và
điều kiện sinh thái - nơi xuất xứ của nguồn nguyên liệu. Chính từ việc ứng
dụng những kết quả phân tích đặc trng ADN, Wen, J. (1996, 2000) đã góp
phần khẳng định ở bậc phân loại loài một số taxon thuộc chi Panax ở Trung
7

Quốc và Đông á [143, 145]. Hơn thế nữa, việc ứng dụng các dấu hiệu đặc
trng của ADN còn giúp các nhà sinh học đánh giá đợc chính xác mức độ đa
dạng di truyền của nhiều loài cây cỏ khác nhau, trong đó có các loài thuộc chi
Panax L. [79]. Nh vậy, có thể thấy rõ việc kết hợp cả ba loại chỉ thị hình thái,
hóa học và di truyền (ADN) trong các nghiên cứu về phân loại và bảo tồn các
loài cây thuốc sẽ góp phần mang lại hiệu quả cao và có tính bổ sung cho nhau.
1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt
Nam những năm gần đây
1.2.1. Vài nét về hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc

8

Ngay sau khi hòa bình lập lại, thống nhất đất nớc, công tác điều tra
nghiên cứu cây thuốc đã có nhiều thành tích đáng kể. Điển hình là công trình
"Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi, "Cây cỏ Việt Nam"
của Phạm Hoàng Hộ hay "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của Võ Văn Chi
[17, 18, 37, 45]. Các kết quả điều tra dợc liệu của Viện Dợc liệu từ năm
1961 đến năm 1985, đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc. Đến năm 2000, số loài
cây thuốc đợc phát hiện đã lên tới 3.830 loài, thuộc 296 họ thực vật [16, 75].
Theo tài liệu công bố mới nhất, đến năm 2005, số lợng các loài thực vật và
nấm đợc sử dụng làm thuốc đã tăng lên là 3.948 loài, thuộc 1.572 chi và 307
họ thực vật [63].
Thực tế cho thấy, nhu cầu về thuốc từ thảo dợc ngày càng tăng. Theo
thống kê của ngành Y tế, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ từ 30.000 - 50.000 tấn
các loại dợc liệu khác nhau. Còn khối lợng dợc liệu để xuất khẩu từ 5.000
đến 10.000 tấn / năm (tơng đơng khoảng 15 triệu USD) [24, 62].
Phải nói rằng, mặc dù cha thống kê đầy đủ, song các dẫn liệu kể trên
cũng đã nói lên sự phong phú và tầm quan trọng của tài nguyên cây thuốc Việt
Nam. Tuy nhiên, hiện nay nguồn tài nguyên cây thuốc này không còn nguyên
vẹn nữa. Đó là do việc khai thác ồ ạt và nạn phá rừng làm nơng rẫy đã dẫn
đến tình trạng nguồn cây thuốc ở Việt Nam ngày càng cạn kiệt. Ví dụ cây
Vàng đắng - Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr., từ năm 1980 - 1990
tính trung bình khai thác từ 1.000 đến 2.500 tấn / năm. Đến năm 1991 - 1995
chỉ còn 200 tấn / năm. Và từ 1995 đến nay, về cơ bản ở Việt Nam không còn
Vàng đắng để khai thác nữa. Hay một số cây có nhu cầu sử dụng và kinh tế
cao nh Ba kích - Morinda officinalis How, Đảng sâm - Codonopsis javanica
Blume, các loài Hoàng tinh thuộc chi Disporopsis và Polygonatum vốn

quản lý và bảo tồn nguồn gen động - thực vật và vi sinh vật theo quyết định số
2177/1997/QĐ-BKHCNMT. Theo đó, Viện Dợc Liệu đợc giao nhiệm vụ là
cơ quan đầu mối tổ chức bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và cây tinh dầu ở
Việt Nam [34, 62].
10

Ngay từ năm 1978, Đỗ Huy Bích và một số tác giả đã biên tập sách
"Hớng dẫn khoanh vùng bảo vệ tái sinh và khai thác dợc liệu ". Trong đó
đề cập đến 30 loài và nhóm loài cây thuốc mọc tự nhiên, nh Ba kích, Kim
ngân, Ngũ gia bì gai đã đợc lu ý bảo vệ [10]. Năm 1983, nhóm nghiên cứu
của Phan Kế Lộc và cộng sự đã xây dựng bản đồ "Những loài thực vật hiếm
hoặc đang có nguy cơ bị tiêu diệt ở Việt Nam" trong bộ Atlas quốc gia (xuất
bản năm 1995). Trong số 58 loài và nhóm loài thực vật đợc giới thiệu có 16
loài và dới loài là cây thuốc quí hiếm, đặc hữu hoặc vào thời điểm đó đã bị
giảm sút nhiều, cần đợc quan tâm bảo vệ. Trong số này cũng có tên cây Sâm
vũ diệp - Panax bipinnatifidus Seem. [44]. Năm 1991, cuốn sách "Bảo tồn
nguồn gen cây thuốc" của Trần Khắc Bảo đã giới thiệu những nét cơ bản trong
công tác bảo tồn nguồn gen [4]. Năm 1996, "Sách đỏ Việt Nam" - Phần II -
Về thực vật đợc công bố, đã tổng kết trong số 356 loài thực vật có 106 loài là
cây thuốc [7]. Đánh giá về tình trạng bị đe doạ, các tác giả đã áp dụng khung
phân hạng của IUCN từ đầu những năm 70 của thế kỷ trớc [104, 105]. Trong
số 106 loài cây thuốc đợc đề cập thì 22 loài thuộc loại E (loài bị nguy cấp);
59 loài loại R (loài hiếm); 17 loài loại T (loài bị đe doạ) và 8 loài loại K (loài
thông tin cha đầy đủ).
Bên cạnh đó, phải kể đến những nghiên cứu của Nguyễn Tập nh: "Một
số loài thực vật làm thuốc quí hiếm cần đợc bảo vệ ở Việt Nam" (1984).
Trong đó, lần đầu tiên tác giả đa ra danh sách 34 loài cây thuốc cần bảo tồn;

Hoàng Liên, VQG Vũ Quang, VQG Pù Mát, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
[11, 68] . Bên cạnh đó, nhiều dự án đã đợc triển khai nhằm thực hiện mục
đích này, nh các dự án: "Đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên dợc liệu
Việt Nam" [63]; "Bảo tồn cây thuốc cổ truyền" [68]; "Bảo tồn và sử dụng bền
vững cây thuốc của đồng bào Dao ở Ba Vì" [50]. Nhiều chuyên khảo cũng đã
đi sâu nghiên cứu từng đối tợng cụ thể, bao gồm "Nghiên cứu bảo tồn cây
Hoàng liên ở Sa Pa" [23].; "Nghiên cứu nhân trồng loài Sì to"[ 40], "Nghiên
cứu nhân giống Ba Kích" [19], Nghiên cứu kỹ thuật trồng Sâm Ngọc linh ở
Kon Tum [35] Tất cả đều nhằm mục đích bảo tồn và phát triển các loài cây
thuốc ở Việt Nam.
12

Phải thừa nhận rằng, với những nỗ lực đầu t của Nhà nớc, công tác
bảo tồn cây thuốc Việt Nam gần đây đã đợc khởi sắc. Tuy nhiên, vấn đề cơ
bản hiện nay là từng loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam đều
cần đợc điều tra nghiên cứu một cách cụ thể hơn về bảo tồn tại chỗ (in situ)
kết hợp với bảo tồn chuyển chỗ (ex situ). Trong cả hai hình thức bảo tồn này,
vấn đề mấu chốt là phải nắm đợc các đặc điểm sinh học của chúng. Bên cạnh
đó, cần phải quán triệt phơng châm Bảo tồn phải đi đôi với phát triển trồng
thêm tại chỗ cho sử dụng lâu bền.
ở Việt Nam hiện nay, để triển khai các nghiên cứu nhằm hoàn thiện các
dẫn liệu khoa học phục vụ công tác bảo tồn, các nhà nghiên cứu vẫn sử dụng
các chỉ thị hình thái truyền thống. Gần đây cũng đã có một số nghiên cứu sử
dụng chỉ thị phân tử ADN (kỹ thuật RAPD-PCR) để nghiên cứu phân loại,
đánh giá sự đa dạng di truyền hay chỉ thị hóa học để kiểm nghiệm dợc
liệu Tuy nhiên, các nghiên cứu này không nhiều và hầu nh cha có nghiên
cứu nào ứng dụng cả ba chỉ thị này cho từng đối tợng cụ thể. Đây cũng chính

ở khắp các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiểm Tây, Triết Giang, Hồ Bắc
[158]. Đến nay, Trung Quốc là nớc có nhiều loài thuộc chi này nhất. Trên thế
giới, điển hình là ở Trung Quốc, từ lâu đời ngời dân đã sử dụng một số loài
thuộc chi Acanthopanax (Decne. & Planch.) Miq. để làm thuốc chữa bệnh. ở
Liên Xô cũ các sản phẩm từ loài A. senticosus (Rupr. et Maxim.) Harms
(Eleutherococcus senticosus Maxim., còn gọi là Siberian ginseng) đã thâm
nhập vào thị trờng Mỹ từ những năm 1970. Sản phẩm của loài này đợc sản
xuất ở Liên Xô cũ theo qui mô công nghiệp và xuất khẩu làm thuốc bồi bổ sức
khoẻ, chống mệt mỏi và chống chứng căng thẳng thần kinh [25, 92, 112].
Đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hoá học của một số loài thuộc
chi Acanthopanax (Decne. & Planch.) Miq Điển hình là loài A. senticosus
(Rupr. et Maxim.) Harms (Eleutherococcus senticosus Maxim.) đã đợc
nghiên cứu từ trên 30 năm tại Trung Quốc và Liên Xô cũ [25, 92]. Ngời ta
tìm thấy trong rễ và thân cây của loài này có chứa nhiều heterosid. Trong
14

những heterosid có eleutherosid (hay sitosterol glucosid), eleutherosid B
(hay syringin), eleutherosid B
1
, eleutherosid C, ngoài ra còn có eleutherosid D
và E, cả hai đều là glucosid của syringaresinol hay dilirioresinol B, với vị trí
sắp xếp khác nhau, eleutherosid F và G. Tỷ lệ những heterosid có trong rễ đã
xác định: A, B, C, D, E, F và G tơng ứng là 8: 30: 10: 12: 4: 2: 1. Tác dụng
của những heterosid này so với heterosid trong nhân sâm có những điểm
giống nhau. Trong rễ còn chứa sesamin, ciwujianosid E, ciwujianosid B
1
,

loại thuốc này có độc tính thấp, ít ảnh hởng đến công năng sinh lý của cơ thể.
Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng Thích ngũ gia trong điều kiện nhất
định có tác dụng làm hạ đờng huyết trên chuột cống trắng. Cho chuột cống
trắng uống eleutheroside B
1
có tác dụng làm tăng trọng lợng tuyến tiền liệt và
túi tinh, và có tác dụng phòng ngừa sự thu teo của túi tinh và tuyến tiền liệt
sau khi súc vật bị thiến. Chất eleutheroside E có trong rễ của Thích ngũ gia
cũng có tác dụng nh trên. Chất oxofraxidin có trong rễ và thân Thích ngũ gia
có tác dụng đối với bệnh bạch cầu, lợi mật trên chuột nhắt trắng [137, 161].
b) Tình hình nghiên cứu Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai
* Về thực vật
Ngũ gia bì hơng và Ngũ gia bì gai đã đợc ghi nhận trong thực vật chí
của một số nớc từ rất lâu và ở bậc phân loại loài. Theo một số tài liệu, Ngũ
gia bì hơng phân bố ở Trung Quốc. Còn Ngũ gia bì gai phân bố rộng hơn, từ
Himalaya tới Trung Quốc, Đài Loan và Philippin [134, 158]. Theo Thực vật
chí Trung Quốc (1978) và một số tài liệu khác, Ngũ gia bì hơng có tên khoa
học là Acanthopanax gracilistylus W.W.Smith. Trong đó, loài này có 4 thứ.
Còn Ngũ gia bì gai có tên khoa học là Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr. và
có 2 thứ [158]. Và từ đó đến nay, tên khoa học của hai loài này không có sự
thay đổi.
* Về giá trị sử dụng
Theo y học cổ truyền Trung Quốc, vị thuốc có tên Ngũ gia bì" chính
thức gồm các cây: Tế trụ ngũ gia - A. gracilistylus W.W. Smith, Táo diệp ngũ

Trích đoạn Tam thất hoang Sử dụng chỉ thị RAPD-PCR để đánh giá sự đa dạng di truyền Phân bố và hiện trạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status