i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả và
nghiên cứu trong luận văn là trung thực, ñược các ñồng tác giả cho phép sử dụng
và chưa từng ñược công bố trong bất kỳ trong một công trình nào khác
Họ và tên
Trần Lương Hồng Nhung
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn ñề tài 1
2. Mục tiêu ñề tài 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Lược sử vấn ñề nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1. Nghiên cứu về phân loại, phân bố của cá 4
1.1.2. Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học – sinh thái 4
1.1.3. Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh sản 8
1.2. Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam 9
1.2.1. Nghiên cứu về phân loại 9
1.2.2. Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh sản của cá 10
1.2.3. Nghiên cứu thủy sinh ở hồ Lắk 13
1.2.4. Nghiên cứu về cá Bống cát trắng 13
1.3. Đặc ñiểm tự nhiên và xã hội của hồ Lắk 15
1.3.1. Vị trí ñịa lý và diện tích của hồ Lắk 15
1.3.2. Chế ñộ thủy văn 16
1.3.3. Địa hình – khí hậu 17
1.3.4. Đặc ñiểm kinh tế xã hội 19
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 21
2.1. Đối tượng nghiên cứu 21
2.2. Vật liệu nghiên cứu 21
2.3. Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1. Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản của cá Bống cát trắng 21
2.3.2. Bước ñầu nuôi thử nghiệm sinh sản cá Bống cát trắng 21
2.4. Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cá Bống cát trắng 21 v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Chiều dài và chiều rộng của cá Bống cát trắng theo nhóm kích thước 33
Bảng 3.2. Chiều dài và khối lượng của cá Bống cát trắng theo nhóm kích thước 35
Bảng 3.3. Sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng qua các tháng nuôi thử
nghiệm ( từ tháng 1/2011 ñến tháng 8/2011 ) 37
Bảng 3.4. Thành phần thức ăn của loài cá Bống cát trắng (tính theo tần suất xuất
hiện) 38
Bảng 3.5. Tần suất thức ăn của loài cá Bống cát trắng 39
Bảng 3.6. Hệ số thức ăn của cá Bống cát trắng 40
Bảng 3.7. Độ béo theo từng nhóm kích thước của loài cá Bống cát trắng (tính
theo cm) 42
Bảng 3.8. Sức sinh sản tuyệt ñối và tương ñối của cá Bống cát trắng theo nhóm
kích thước 61
Bảng 3.9. Đường kính trứng theo nhóm kích thước của cá Bống cát trắng 62
Bảng 3.10. Kích thước trứng của cá Bống cát trắng theo giai ñoạn 63
Bảng 3.11. Kết quả thuần hóa cá bố mẹ qua các ñợt thu mẫu 67
Bảng 3.12. Số liệu môi trường nuôi qua các tháng nuôi (tháng 1/2011 – tháng
8/2011) 67
Bảng 3.13. Đánh giá sức sinh sản của cá nuôi trong bể 69
Bảng 3.14. Tỷ lệ cá bố mẹ thành thục tại các công thức nuôi vỗ 70
Bảng 3.15. Kết quả cho cá ñẻ nhân tạo tại các công thức nuôi vỗ 70
Bảng 3.16. Kết quả thí nghiệm ấp trứng trong các loại dụng cụ khác nhau tại
nhiệt ñộ nước 25 – 27
0
Đồ thị 3.11. Biến ñộng phần trăm các giai ñoạn thành thục ñực theo thời gian 65 vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Ảnh hồ Lắk từ vệ tinh 15
Hình 3.1. Cá Bống cát trắng 32
Hình 3.2 Trứng và tinh sào của cá Bống cát trắng 44
Hình 3.3. Cá Bống cát trắng cái 44
Hình 3.4. Cá Bống cát trắng ñực 45
Hình 3.5. Cá Bống cát trắng lưỡng tính 45
1. Lý do chọn ñề tài
Đắk Lắk có hệ thống sông suối dày ñặc với hàng trăm hồ chứa, hồ tự nhiên
lớn nhỏ là ñiều kiện thuận lợi ñể phát triển ngành thủy sản nói chung và nghề
khai thác thủy sản nội ñịa nói riêng. So với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên,
khu hệ thuỷ sinh của Đắk Lắk có tính ña dạng sinh học tương ñối cao. Theo kết quả
ñiều tra của trường Đại học Tây Nguyên về thành phần giống loài khu hệ cá nước
ngọt Tây Nguyên, ở Đắk Lắk có 201 loài cá, trong ñó có 22 loài có giá trị kinh tế, 7
loài trong sách ñỏ Việt Nam, 1 loài trong sách ñỏ của IUCN [4].
Hồ Lắk là hồ tự nhiên lớn nhất Đắk Lắk và cả Việt Nam với diện tích
khoảng 658 ha. Hồ ñược bao bọc bởi những cánh rừng nguyên sinh nên có hệ
ñộng thực vật phong phú, ña dạng, ñã ñược xác ñịnh là khu rừng lịch sử văn hóa
môi trường hồ Lắk từ năm 1995. Hồ là nơi trú ngụ của rất nhiều loài thủy sinh
vật, là nguồn lợi cho cư dân ñịa phương sinh sống ở khu vực quanh hồ. Bên bờ
hồ còn có buôn Jun, buôn M’Liêng, những buôn người M’Nông cư trú lâu ñời, là
cái nôi của nền văn hóa M’Nông. Đây không những là ñiểm du lịch ưa thích của
nhiều du khách trong ngoài nước mà còn nổi tiếng từ lâu về ñặc sản cá Thát lát,
cá Lăng, cá Trèn bầu, cá Bống…, là những món ăn ngon ñược nhiều người biết
ñến [2].
Qua thống kê về cá nước ngọt miền Nam Việt Nam của Mai Đình Yên, có
rất nhiều loài cá Bống như: Cá Bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), cá Bống
cát tối (Glossogobius giuris), cá Bống cau (Bustis butis), cá Bống mắt
(Ctenogobius ocellatus), cá Bống cát trắng (Glossogobius sparsipapillus) [32]…
Loài cá Bống cát trắng ở hồ Lắk có giá trị kinh tế cao (giá bán tại chợ thị
trấn Liên Sơn, huyện Lắk dao ñộng từ 80.000
ñ
- 100.000
ñ
/kg), ñược nhiều người
ưa chuộng vì thịt thơm ngon, có thể ăn cả xương, chế biến ñược nhiều món ăn
cho việc ñưa vào xây dựng nuôi sinh sản, nuôi thương phẩm cá Bống cát trắng
Glossogobius sparsipapillus. 3
4. Giới hạn của ñề tài
- Thời gian: Từ tháng 8 năm 2010 ñến tháng 8 năm 2011.
- Địa ñiểm:
+ Phòng thí nghiệm bộ môn sinh học ñại cương trường Đại học Tây Nguyên.
+ Văn phòng Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Trung -
Viện Nghiên cứu NTTS III, 53 Ngô Thì Nhậm, phường Tân An, TP. Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
+ Khu vực nuôi thử nghiệm: Huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk
- Do ñề tài giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chúng tôi tập trung thực
hiện những nội dung sau:
+ Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học cơ bản cá Bống cát trắng Glossogobius
sparsipipallus ở hồ Lắk như ñặc ñiểm dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản.
+ Bước ñầu nghiên cứu nuôi thử nghiệm sinh sản bằng hình thức nuôi
trong bể xi măng.
Những nghiên cứu về tuổi cá ñược tiến hành từ rất sớm. Xuvorov và
Arnold là hai nhà khoa học người Nga (1909 – 1910) công bố công trình nghiên
cứu về tuổi cá ñầu tiên [22]. 5
Năm 1973, Pravidin ñã xây dựng phương pháp xác ñịnh phương pháp xác
ñịnh tuổi cá. Ông khẳng ñịnh: Các xương nắp mang, xương hàm, xương vòm
miệng, xương ñai vai và cả xương phẳng của sọ ñều có vân sinh trưởng nhưng vòng
vân của xương ñá tai và xương nắp mang vẫn rõ hơn các xương khác [22].
Fulton (1902) ñề ra phương pháp xác ñịnh hệ số béo của cá sau này ñã
ñược Clark (1928) kế thừa, sửa ñổi và bổ sung ñưa ra các công thức tính hệ
số béo của cá:
Công thức của Fulton (1902): Q
Fulton
= W x 100/L
3
Công thức của Clark (1928): Q
Fulton
= W
0
x 100/L
3
Trong ñó:
- Q: Hệ số béo của cá
- L: Chiều dài của cá ño từ mút mõm ñến hết tia vây ñuôi dài nhất (cm)
- W: Khối lượng toàn thân của cá (g)
- W
ña số các trường hợp ñều có lớp mỡ mỏng
Bậc 4: Ruột hầu như hoàn toàn bị mỡ bao phủ, chỉ trừ có những chỗ trống
mà qua ñó ta nhìn thấy ruột thôi. Những chỗ trống nhỏ này thường ở mấu thứ hai
và phần thứ ba của ruột. Đôi khi cũng gặp những chỗ trống ấy ở phần thứ hai của
ruột. Những u mỡ ở hai bên mấu ruột rất lớn
Bậc 5: Tất cả ruột ñều bị phủ một lớp mỡ dày, không có chỗ trống nào,
những u mỡ ở hai bên mấu ruột rất lớn.
Pravdin là người có công tổng kết các công trình nghiên cứu khoa học về
ngư loại học. Trong ñó có giới thiệu phương pháp tính ngược sinh trưởng về hàng
năm theo tỷ lệ chiều dài thân và ñường kính vẩy, ñược công bố bởi tác giả Einar
Lea (1910 – 1937). Phương pháp tính này ñược Rosa Lee (1920) sửa ñổi, bổ sung
cho rằng không phải sinh trưởng của chiều dài thân tỉ lệ thuận với bán kính của
vẩy mà chỉ có mức tăng của chúng tỷ lệ thuận với nhau khi ñã có một kích thước
n. Hiện nay, phương pháp của Elea (1910 - 1937) và Rosa Lee (1920) vẫn ñược sử
dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về ngư loại học.
Trong cuốn sách “Hướng dẫn nghiên cứu cá” của tác giả Pravdin ñã tổng
kết công trình nghiên cứu về sinh trưởng của hai tác giả Berverton – Holt (1956).
Hai nhà nghiên cứu này ñã giới thiệu phương trình tương quan giữa chiều dài và 7
khối lượng của cá. Phương trình này ñược các tác giả Võ Văn Phú [16], [18],
Bùi Thanh Loan [12] và nhiều tác giả khác áp dụng.
Dựa vào số ño về chiều dài và khối lượng của cá ñể tính tương quan theo
phương trình của Berverton – Holt (1956): W = a x L
b
Trong ñó: - W: Khối lượng toàn thân của cá (g)
- L: Chiều dài toàn thân cá (cm)
- a, b: Các hệ số tương quan nhất ñịnh [29].
hệ số và chỉ số chín muồi sinh dục và những tài liệu về sự di cư ñẻ trứng của cá ở hồ
Ilmen. Có thể sử dụng tài liệu này như những tài liệu có tính chất hướng dẫn về
phương pháp ñể quan sát sự ñẻ trứng của các cá ở các vực nước khác nhau.
Năm 1941, trong công trình nghiên cứu về cá Vền (Abramis brama) của tác
giả Velikokhatko ñã thiết lập ñược mối quan hệ giữa sức sinh sản với chiều dài
khối lượng và tuổi cá [22].
Ngày nay, ñã có rất nhiều phương pháp nghiên cứu về sinh sản của cá ñược
công bố, song các phương pháp nghiên cứu của Kixelevits (1923) vẫn ñược sử
dụng nhiều nhất. Ông cho rằng sơ ñồ xác ñịnh ñộ chín của tuyến sinh dục gồm:
- Giai ñoạn I: Những cá thể chưa chín muồi sinh dục. Tuyến sinh dục chưa
phát triển, nằm sát vào phía trong của vách cơ thể (theo hai bên hông và dưới
bóng hơi) và là những sợi dây dài, hẹp hoặc là những ñường mà mắt thường
không thể xác ñịnh ñược ñực cái
- Giai ñoạn II: Những cá thể trưởng thành hoặc là những sản phẩm sinh dục
phát triển sau khi ñẻ trứng. Tuyến sinh dục bắt ñầu phát triển và dày thêm ra tạo
thành trứng hoặc tinh sào, hạt trứng nhỏ, mắt thường không nhìn thấy ñược. Có
thể phân biệt ñược buồng trứng hay tinh sào vì buồng trứng có mạch máu tương
ñối lớn, chạy dọc và hướng về phía giữa thân ñập ngay vào mắt. Tuyến sinh dục
còn nhỏ và chiếm một phần xoang cơ thể
- Giai ñoạn III: Tuyến sinh dục chưa chín nhưng tương ñối phát triển.
Buồng trứng ñược tăng lên nhiều về kích thước, chiếm từ 1/3 ñến 1/2 xoang 9
bụng và chứa ñầy ñủ những hạt trứng nhỏ, ñục, hơi xám mà mắt thường trông rõ.
Nếu cắt buồng trứng và nạo nó bằng ñầu kéo ñể lấy ra những hạt trứng riêng, thì
trứng khó tách ra khỏi những vách ngăn bên trong của buồng trứng và luôn luôn
kết thành từng chùm gồm một vài hạt. Tinh sào có phần trước rộng hơn và bị hẹp
lại ở phần sau. Bề mặt của nó màu hồng, ở một số cá màu hơi ñỏ vì có nhiều
mạch máu nhỏ. Khẽ ấn vào tinh sào, không thấy sẹ lỏng chảy ra. Khi cắt ngang
trị kinh tế, 2 loài có tên trong sách ñỏ [9].
Năm 2005, Ngô Sĩ Vân và Phạm Anh Tuấn trong công trình nghiên cứu:
“Bước ñầu nghiên cứu khu hệ cá vùng núi ñá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng tỉnh
Quảng Bình”, kết quả công bố 177 loài trong 95 giống, 36 họ và 11 bộ [31].
Năm 2006, Võ Văn Phú và các cộng sự trong báo cáo: “Đánh giá ña dạng
sinh học về thành phần loài cá ở Thừa Thiên Huế”, kết quả ñã xác ñịnh ñược 79
loài cá thuộc 38 giống, 13 họ, 5 bộ [17].
Năm 2009, Võ Văn Phú và Nguyễn Duy Thuận trong báo cáo: “Cấu trúc
thành phần loài cá ở hệ thống sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế”, ñã xác ñịnh
109 loài, 76 giống với 31 họ thuộc 11 bộ khác nhau, trong ñó bộ cá chép chiếm
ưu thế với 37 loài [20].
1.2.2. Nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh sản của cá
Năm 2002, Nguyễn Tường Anh và Nguyễn Dương Dũng, kích thích cá
chép sinh sản bằng 17α – hydroxy 20β – dihydroproggesteron. Tác giả nhận thấy
ở liều lượng 5mg/kg luôn cho kết quả rụng trứng và sinh sản tốt [1].
Năm 2003, Nguyễn Thanh Phương và các cộng sự tiến hành nghiên cứu ñề
tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học, dinh dưỡng và sinh sản của cá Nâu
Scatophagua argus”, kết quả ñã mô tả ñặc ñiểm hình thái, cơ quan sinh dưỡng, sự
sinh trưởng và các giai ñoạn phát triển phôi, thành thục sinh dục của cá Nâu [21].
Năm 2003 – 2004, Nguyễn Văn Triều và các cộng sự tiến hành nghiên cứu ñề
tài: “Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học của cá Kết Kryptopterus bleeker”, kết quả ñã
mô tả ñặc ñiểm hình thái, ñặc ñiểm dinh dưỡng và sự thành thục của cá Kết [28].
Năm 2004, Lê Thị Nam Thuận, trong nghiên cứu: “Kết quả bước ñầu về
mối liên hệ của một số yếu tố môi trường sinh thái và sự xuất hiện các loài thủy 11
sản vùng Thuận An, hệ ñầm phá Tam Giang dựa và cộng ñồng”, kết quả cho
thấy có sự dao ñộng mạnh về pH và ñộ mặn giữa các tháng, từ ñó ảnh hưởng rất
nhiều ñến sự xuất hiện của các loài thủy sản, một số loài thủy sản chỉ xuất hiện
12
Huế”, ñưa ra các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới khả năng thành thục và sinh sản của
cá Dầy và ñề xuất quy trình nhân nuôi cá Dầy hoàn chỉnh [14].
Năm 2007, Võ Văn Phú và Bùi Minh Thắng, nghiên cứu: “Đặc tính dinh dưỡng
của cá Sỉnh gai onychostoma laticeps (Gunther, 1896) tại hồ Phú Ninh và các vùng
phụ cận, tỉnh Quảng Nam”, kết quả ñưa ra phổ thức ăn của cá Sỉnh gai tương ñối
rộng, tuổi 1
+
cường ñộ bắt mồi cao, hệ số béo tăng dần theo nhóm tuổi [19].
Năm 2008, Lý Văn Khánh và các cộng sự trong nghiên cứu: “Đặc ñiểm
sinh học dinh dưỡng và sinh sản của lươn ñồng Monopterus albus”, kết quả lươn
ñồng là loài ăn ñộng vật, lươn ñồng có chiều dài nhỏ hơn 30cm là cái, chiều dài
lớn 50cm là ñực, chiều dài nằm từ 30 – 50cm là lưỡng tính, sức sinh sản tuyệt
ñối từ 143 – 6813 trứng/cái, sức sinh sản tương ñối 4828 – 65771 trứng/kg,
ñường kính trứng ở giai ñoạn IV là 0,5mm [8].
Năm 2009, Bùi Thanh Loan, trong luận văn cao học với ñề tài: “Bước ñầu tìm
hiểu ñặc ñiểm sinh học và nuôi thử nghiệm bằng hình thức nuôi lồng loài cá Lăng
ñuôi ñỏ Mystus Wyckioides ở thành phố Buôn Ma Thuột”, kết quả ñã ñưa ra phương
trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng là W = 10,7x10
-7
xL
3,3637
, phổ thức ăn
của cá Lăng ñuôi ñỏ nghiêng về ñộng vật hơn thực vật [12].
Năm 2010, Võ Văn Phú Nguyễn Thị Hoàn trong báo cáo: “Đặc ñiểm sinh
trưởng của cá chỉ vàng Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa
Thiên Huế”, tác giả ñưa ra phương trình sinh trưởng về chiều dài và khối lượng
theo Von Bertalanffy có dạng:
Chiều dài : Lt = 228,6 x [1 - e
-0,379( t + 0,947)
sinh học và sinh sản của khu hệ cá ở hồ Lắk [35].
Năm 2000, Nguyễn Thị Thu Hè trong luận án tiến sĩ: “Điều tra khu hệ cá
của sông suối Tây Nguyên”, ñã khảo sát và ñưa ra danh sách 86 loài cá có mặt
tại các hồ ở Tây Nguyên, trong ñó có loài cá Bống cát trắng Glossogobius
sparsipapillus thuộc giống cá Bống cát ở hồ Lắk [5].
1.2.4. Nghiên cứu về cá Bống cát trắng
Cá Bống cát trắng G. sparsipapillus ñược Akihito và Meguro (1976) mô tả
lần ñầu tiên ở miền Nam Việt Nam (Cần Thơ) [36].
Năm 1992, Mai Đình Yên và các cộng sự, trong: “Định loại các loài cá
nước ngọt Nam Bộ” mô tả loài cá Bống cát trắng qua 9 mẫu thu ñược ở Bến
Tre, Tân Châu như sau:
L = 82 – 231 mm Lo = 65 – 179 mm
D = VI; I/9 A = I/8 P = 20 V = I/5
L.1 = 30 – 31 TR = 9 – 10 Pred = 20 – 21
H/Lo = 17,9 T/Lo = 31,5 O/T = 13,7 OO/t = 9,6
Thân thon dài, phía sau dẹp ngang, ñầu dẹp ñứng, mõm dài và nhọn. Mắt gần
như nằm ngang trên ñỉnh ñầu. Hai lỗ mũi tương ñối gần nhau, lỗ mũi trước hình 14
ống. Miệng rộng, xiên, hàm dưới nhô ra, rãnh miệng kéo dài tới bờ trước của ổ
mắt. Trên mỗi hàm có nhiều hàm răng, hàng trong và ngoài cùng nở rộng. Lưỡi
chẻ ñôi, khe mang rộng, trên má có 5 ñường cảm giác chạy song song. Vảy tròn,
trước vây lưng nhỏ kéo dài ñến bờ sau ổ mắt, thân phủ vảy lược to. Vây lưng hai
cái rời nhau, vây bụng hình bầu dục dài, vây ñuôi tù. Thân có màu nâu, có 5
ñường ñốm ñen nhạt dọc theo ñường giữa hông. Bề rộng ñốm ñen nhỏ hơn nửa
chiều cao thân tại chỗ ñó, trên nắp mang có màu nâu ñen, có ñốm ñen nhạt [30].
Năm 1993, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương trong cuốn sách:
“Định loại cá nước ngọt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” cũng mô tả giống cá
Bống cát qua 28 mẫu phân tích cho rằng kích thước 56 – 195 mm với phần mô tả
Đặc ñiểm tự nhiên và xã hội của hồ Lắk
1.3.1. Vị trí ñịa lý và diện tích của hồ Lắk Hình 1.1. Ảnh hồ Lắk từ vệ tinh
Hồ Lắk nằm ở tọa ñộ vị trí ñịa lý: 12
0
24’22’’- 12
0
26’25’’N; 108
0
09’26’’ -
108
0
12’07’’E. Tọa ñộ trung tâm: 12
0
25’31’’ N và 108
0
10’55’’E. Vùng phụ cận
Hồ Lắk về phía xã Yang Tao tiếp giáp với Vườn Quốc gia Chư Yang Sin và Khu
bảo tồn thiên nhiên Nam Ka.
Toàn bộ khu hồ Lắk bao gồm một vùng bãi bồi, ñầm, hồ bằng phẳng có
diện tích 540 ha vào mùa khô, 658 ha về mùa mưa.
Hồ Lắk có 2/3 diện tích thuộc ñịa phận thị trấn Liên Sơn, phần còn lại
thuộc ñịa phận xã Yang Tao. 16
Dưới sự ảnh hưởng của các chuyển ñộng kiến tạo cùng với tác ñộng của khí
sâu, dòng chảy gấp khúc nhiều tại phần hạ lưu. Về mùa mưa, nước trên thượng
nguồn chảy về ồ ạt, phần hạ lưu nước bị ứ ñọng gây lũ lụt hai bên bờ sông, bồi ñắp
lượng phù sa ñáng kể cho những cánh ñồng dọc hai bên bờ. Phân mùa của các dòng
chảy tại sông Krông Ana theo 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 8 – 12 (chậm hơn 1 tháng 17
so với mùa mưa sông Krông Nô, mùa khô từ tháng 1 – 7. Giống như sông Krông
Nô, lưu lượng nước mùa mưa cao hơn nhiều so với mùa khô.
Chế ñộ ngập lụt của hệ thống sông, suối trên ñịa bàn huyện Lắk thường xảy
ra vào khoảng tháng 9 ñến tháng 11, nhưng hiện tượng ngập lụt ở ñây thường rút
nhanh, không gây úng lụt nhiều mà chỉ gây lụt cục bộ ở một số vùng trũng trong
khu vực. Lưu lượng dòng chảy mùa mưa chiếm khoảng 60 - 80% lưu lượng cả
năm. Lưu lượng dòng chảy mùa khô chiếm khoảng 20 - 40 % trong năm. Tuy
nhiên, một số suối tại ñây có nước quanh năm kể cả về mùa khô [4].
1.3.3. Địa hình – khí hậu
1.3.3.1. Đặc ñiểm ñịa hình
Địa hình huyện Lắk ñược phân chia ra hai loại chính:
- Địa hình núi cao ñược hình thành bởi dãy núi cao Chư Yang Sin, ñộ cao
trung bình 800 - 1000m so với mực nước biển. Riêng các dãy núi bao quanh hồ
Lắk có ñộ cao thấp hơn, chủ yếu từ 500-600m.
- Địa hình vùng trũng có ñộ cao trung bình 400 - 500m. Vùng thấp nhất là
hồ Lắk có ñộ cao trung bình 420m so với mực nước biển [4].
1.3.3.2. Đặc ñiểm khí hậu
Khí hậu huyện Lắk vừa mang nét chung của khí hậu vùng nhiệt ñới gió
mùa miền Nam Việt Nam, vừa mang tính chất khí hậu vùng cao nguyên nhiệt
ñới ẩm và ñặc thù của khí hậu thung lũng trên cao nguyên, mỗi năm có hai mùa
rõ rệt. Mùa mưa bắt ñầu từ tháng 5 ñến hết tháng 10, chiếm trên 94% lượng
mưa cả năm, mùa khô bắt ñầu từ tháng 11 ñến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa
không ñáng kể, trong ñó tháng 2 và tháng 3 hầu như không mưa.
từ tháng 11 ñến hết tháng 4 năm sau, lượng mưa không ñáng kể, trong ñó,
tháng 2 và tháng 3 gần như không mưa.
- Lượng mưa trung bình hằng năm thấp hơn khu vực từ 1.800 – 1.900mm
có phần thấp hơn khu vực xung quanh, nguyên nhân do bị che khuất bởi dãy núi
Chư Yang Sin ở phía Đông Nam.
- Tích ôn cả năm khoảng 8.000 – 8.500
0
C, nguồn sáng dồi dào, bình quân
giờ chiếu sáng/ năm 1.700 – 2.400 giờ; nhiệt ñộ trung bình từ 24 – 25
0
C, biên ñộ
dao ñộng ngày ñêm lớn 12 – 14
0
C.
- Chế ñộ gió: Hướng gió chủ yếu vào mùa mưa là Tây Nam, vào mùa khô
là Đông Bắc, tốc ñộ gió bình quân 2,4 – 5,4 m/s.
- Lượng nước bốc hơi bình quân vào mùa khô là 14,9 – 16,2 mm/ngày, vào
các tháng mùa mưa thì lượng bốc hơi thấp trung bình từ 1,5 – 1,7 mm/ngày, các
tháng mùa khô, lượng nước bốc cao, lượng nước trong hồ giảm mạnh, ñộ sâu ở
mức thấp nhất, nước hồ ñục [4].