Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Lời mở đầu
Theo thời gian, cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội đã đa nền
kinh tế toàn cầu sang một hình thái mới. Cơ chế thị trờng ra đời làm cho các
hoạt động tài chính và sở hữu ngày càng đa dạng và phức tạp, chức năng kiểm
tra kiểm soát đòi hỏi ngày càng chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý.
Ơ Việt Nam, công tác kiểm tra kiểm soát luôn đợc quan tâm. Trong cơ
chế kế hoạch hoá tâp trung bao cấp, công tác kiểm tra kiểm soát đợc tổ chức
một cách phù hợp với cơ chế. Nhà nớc với t cách là ngời quản lý vĩ mô đồng
thời là chủ sở hữu nắm toàn bộ trong tay công tac kế toán và kiểm tra nói
chung, kiểm soát nội bộ chủ yếu đợc thực hiện thông qua tự kiểm tra.
Từ đại hội đảng lần thứ VI, Việt Nam đã có những bớc chuyển đổi to
lớn trong cải cách nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Quá trình đổi mới đã đa Việt Nam từng bớc
vơn lên và đạt đợc nhiều thắng lợi trong kinh tế và phát triển xã hội. Nhà nớc
đã và đang cố gắng tạo dựng một môi trờng pháp lý, một hành lang pháp luật
kinh tế rõ ràng và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Song vẫn đề đặt ra là
cơ chế thị trờng cạnh tranh gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực vơn lên
từ chính bản thân mình, phải tự tìm hiểu những thông tin về quản lý và phải tự
chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Do đó các
nhà quản trị phải có những quyết định và phơng pháp quản lý đúng đắn để
đảm bảo cho việc kinh doanh có hiệu quả. Một công cụ để giúp cho các nhà
quản trị có đợc những thông tin chính xác và kịp thời để ra các quyết định
đúng đắn nhằm đảm bảo công tác kiểm tra kiểm soát đợc thờng xuyên và hiệu
quả đó chính là hệ thống kiểm soát nội bộ.
Qua quá trình học tập và tìm hiểu thực tế tại tổng công ty xi măng về hệ
thống kiểm soát nội bộ, em đã nhận thấy những yếu tố tích cực và những mặt
còn hạn chế trong công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Để nâng cao hiệu quả
trong công tác quản lý tại tổng công ty xi măng nói riêng và các doanh nghiệp
nói chung cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Do vậy
Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các thủ tục kiểm
soát do đơn vị thiết lập và duy trì nhằm điều hành toàn bộ các hoạt đông của
đơn vị nhằm đảm bảo các mục tiêu sau:
- Bảo vệ tàI sản của đơn vị.
- Bảo đảm độ tin cậy của thông tin.
2
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý.
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý.
Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát là một hệ
thống chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị,
bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp
lý, và bảo đảm hiệu quả hoạt động.
Theo VSA 400, hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ
tục kiểm soát do đơn vị đợc kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm
cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn
ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót để lập báo cáo tài chính trung thực và
hợp lý nhằm bảo vệ và quản lý, sử dụng có hiệu quả tàI sản của đơn vị.
Nh vậy, kiểm soát nội bộ là một chức năng thờng xuyên của các đơn vị,
tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc
để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thức hiện hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt
ra của đơn vị:
1/ Bảo vệ tài sản của đơn vị.
Tài sản của đơn vị bảo gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình,
chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào những mục đích khác nhau hoặc bị h
hại nếu không đợc bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp. Điều tơng tự
cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác nh sổ sách kế toán, các
tài liệu quan trọng.
Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng
có mâu thuẫn với nhau nh giữa tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo
vệ tài sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Nh vậy hệ thống
kiểm soát nội bộ dù đợc thiết kế hoàn hảo đến đâu cũng không thể ngăn ngừa
hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra, đó là những hạn chế cố hữu của hệ
thống kiểm soát nội bộ. Theo VSA 400, những hạn chế đó gồm:
Ban giám đốc thờng yêu cầu chi phí cho hệ thông kiểm soát nội bộ
không vợt quá lợi ích mà hệ thống đó mang lại.
Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thờng tác động đến những nghiệp
vụ lặp đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thờng.
Sai sót bởi con ngời thiếu chú ý, đãng chí, sai sót về xét đoán hoặc
do không hiểu rõ yêu cầu công việc.
Khả năng vợt tầm kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ do có sự
thông đồng của một ngời trong ban giám đốc hay một nhân viên với những
ngời khác trong hay ngoài đơn vị.
Khả năng những ngời chịu trách nhiệm thực hiện kiểm soát nội bộ
lạm dụng đặc quyền của mình.
Do sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát bị lạc hậu hoặc bị
vị phạm.
I. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng nh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động
các đơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm
4
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
soát nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trờng kiểm soát, hệ thống thông tin (hệ
thống kế toán), các thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ.
1. Môi trờng kiểm soát.
Môi trờng kiểm soát là khái niệm bao gồm toàn bộ các nhân tố bên
với nhau, nhằm thực hiện các chức năng quản lý.
5
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Cơ cấu tổ chức đợc xây dựng hợp lý trong doanh nghiệp sẽ góp phần tạo
ra môi trờng kiểm soát tốt. Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống
xuyên suốt từ trên xuống dới trong việc ban hàn các quyết định, triển khai các
quyết định đó cũng nh kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó
trong toàn bộ doanh nghiệp. Một cơ cấu tổ chức hợp lý còn góp phần ngăn
ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động tài chính kế
toán của doanh nghiệp.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên
toàn bộ hoạt động và các lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không bị chồng
chéo hoặc bỏ trống: thực hiện sự phân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo
đảm sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát
lẫn nhau trong các bớc thực hiện công việc.
Nh vậy, để thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp và có hiệu quả, các
nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
thiết lập đợc sự điều hành và sự kiểm soát trên toàn bộ hoạt động của
doanh nghiệp, không bỏ sót lĩnh vực nào, đông thời không có sự chồng chéo
giữa các bộ phận.
Thực hiện sự phân chia rành mạch ba chức năng: xử lý nghiệp vụ,
ghi chép sổ và bảo quản tài sản.
Đảm bảo sự độc lập tơng đối giữa các bộ phận nhằm đạt đợc hiệu
quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng.
1.3. Chính sách nhân sự.
Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn găn liền với đội ngũ nhân viên
và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trờng kiểm soát cũng nh chủ thể
trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của doanh nghiệp.
vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát. Uỷ ban kiểm
soát thờng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty.
Kiểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ.
Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
Dung hoà những bất đồng (nếu có) giữa ban giám đốc với các kiểm
toán viên bên ngoài.
1.6. Môi trờng bên ngoài.
Môi trờng kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào
các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các
nhà quản lý nhng có ảnh hởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của
các nhà quản lý cũng nh sự thiết kế và vận hành các qui chế và thủ tục kiểm
soát nội bộ. Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm: sự kiểm soát của các cơ
quan chức năng của nhà nớc, ảnh hởng của các chủ nợ, môi trờng pháp lý, đờng lối phát triển của đất nớc
2. Hệ thống kế toán.
Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ
thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ
7
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
thống bảng tổng hợp, cân đối kế toán. Trong đó, quá trình lập và luân chuyển
chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiêm soát nội bộ của doanh
nghiệp.
Hệ thống chúng từ và sổ sách kế toán là những công cụ phản ánh các
nghiệp vụ kinh tế, chúng gồm những khoản mục đa dạng nh hoá đơn bán
hàng, đơn đặt mua hàng, sổ phụ, sổ nhật ký ban hàng cả chứng từ của bút
toán gốc và sổ sách mà trên đó các nghiệp vụ kinh tế đợc phản ánh đều quan
trọng, nhng tính không đầy đủ của chứng từ thờng gây ra những vấn đề lớn về
8
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những
nghiệp vụ không có thực vào sổ sách của đơn vị.
Sự phê chuẩn: bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải đợc phê chuẩn
hợp lý.
Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh.
Sự đánh giá: bảo đảm không có sại phạm trong việc tính toán các
khoản giá phí.
Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ đợc ghi chép đúng theo sơ đồ
tàI khoản và ghi nhân đúng đắn ở các laọi sổ sách kế toán.
Tính đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh đợc thực
hiện kịp thời theo quy định.
Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán đợc ghi
vào sổ phảo đớc tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên
các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
3. Các thủ tục kiểm soát.
Thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do nhà quản lý thiết lập và
thực hiện nhằm đạt đợc các mục tiêu quản lý cụ thể.
Theo VSA 400 thủ tục kiểm soát là các quy chế và thủ tục do ban lãnh
đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện trong đơn vị nhằm đạt đợc mục tiêu
quản lý cụ thể. Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm:
Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến
đơn vị.
Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán.
Kiểm tra chơng trình ứng dụng và môi trờng tin học.
Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết.
chức năng này sẽ có nhiều rủi ro là anh ta bán tài sản để thu lợi cá nhân rồi
điều chỉnh sổ sách để trốn tránh trách nhiêm.
- Cách ly chức năng thực hiện nhiệm vụ và kiểm soát nghiệp vụ, có
nh vậy chức năng kiểm soát mới có tác dụng và việc thực hiện nghiệp vụ mới
nghiêm túc.
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, điều 9 - điều lệ tổ chức kế toán
nhà nớc, đã quy định: cán bộ kế toán ở các đơn vị quốc doanh, công ty hợp
doanh, và các đơn vị có sử dụng kinh phí của nhà nuớc hoặc đoàn thể không
đợc kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quĩ, tiếp liệu và các công tác vật chất khác.
Lãnh đạo đơn vị, kể cả lãnh đạo công tác tài chính, kế toán của đơn vị nêu trên
không đợc bố trí những ngời thân trong gia đình làm công tác tài chính kế
toán, thủ kho, thủ quỹ tại đơn vị mình.
Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn.
10
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dới đợc giao cho quyết
định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định. Quá trình uỷ
quyền đớc tiếp tục mở rộng xuống các cấp thấp hơn tạo nên một hệ thống
phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn không làm mất tính tập trung của
doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ
kinh tế phải đợc phê chuẩn đúng đắn. sự phê chuẩn đợc thực hiện qua hai loại:
phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể.
Sự phê chuẩn chung đợc thực hiện thông qua việc xây dựng các chính
sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dới tuân thủ.
Sự phê chuẩn cụ thể đợc thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng.
Ngoài những nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục kiểm soát còn bao
4.2.1. Chức năng của kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán nội bộ hình thành do nhu cầu quản lý nên chức năng của nó
cũng trảI qua quá trình phát triển từ thấp tới cao cùng với khoa học quản lý
kinh tế, trình độ và kinh nghiệm quản lý của các nhà quản lý doanh nghiệp.
Mặc dù theo kinh nghiệm của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, chức
năng của kiểm toán nội bộ hiện đại là đánh giá độc lập hệ thống kiểm soát nội
bộ, nhng chức năng truyền thống của kiểm toán nội bộ là xem xét, đánh giá
độ tin cậy, thống nhất của các thông tin tài chính, đánh giá việc sử dụng tiết
kiệm, hữu hiệu vốn và tài sản của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc qui định
chức năng của kiểm toán nội bộ cần phải xem xét phù hợp với điều kiện cụ
thể của từng quốc gia, từng khu vực kinh tế, từng ngành và từng đơn vị cụ thể.
4.2.2. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.
Về cơ bản nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ gồm những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu,
số liệu kế toán, việc chấp hành chế độ, thể lệ kế toán tài chính của nhà nớc,
kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, các qui định, các kế hoạch và thủ tục
hiện hành.
Các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra các hệ thống thiết lập xem có
sự bảo đảm, sự tuân thủ với các chính sách, thủ tục, biện pháp và các qui định
mà có thể tác động quan trọng đến mọi hoạt động của tổ chức. Tiếp nối với
chức năng này, trong một số trờng hợp và nếu đợc phép của ban quản trị tối
cao, các kiểm toán viên nội bộ đánh giá tính hợp lý và sự u việt của các chính
sách, qui định, kế hoạch trớc khi đi đến việc xác định mức độ tuân thủ. Họ sẽ
chỉ ra khoản lợi nhuận từ các hoạt động bởi việc tuân thủ thích đáng các chính
sách, các kế hoạch và thủ tục đợc lập ra, các mất mát nếu không có sự tuân
thủ đó. Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ phải kiểm tra tính pháp lý của
các thông tin kế toán với chuẩn mực là các qui định pháp chế của nhà nớc.
Thứ hai: kiểm tra tính trung thức và độ tin cậy của thông tin trong
đó chủ yếu là kiểm tra và xác định mức độ trung thực, hợp lý của các báo cáo
quyết toán do kế toán và các bộ phận khác trong doanh nghiệp lập ra.
đảm bảo an toàn cho các tài sản để tránh mất mát. Đồng thời cần có những
kiến nghị cho nhà quản lý để phòng ngừa các hành vi bất hợp pháp xâm phạm
tài sản của đơn vị.
Thứ năm: đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động
của các nguồn lực.
Kiểm toán viên phải đánh giá chất lợng thực hiện các nhiệm vụ đợc
giao. Việc thực hiện này liên quan đến các nhóm hay các nhân viên của đơn
vị. ở đây kiểm toán viên không chỉ quan tâm tới việc các nhóm hay các nhân
viên thực hiện công việc của họ có mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp
hay không? Do các công việc rất đa dạng trong một tổ chức kinh tế nên để
13
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
hoàn thành đợc nhiệm vụ trên, bộ phận kiểm toán phải tuyển chọn đợc những
ngời có trình độ nghiệp vụ tơng xứng.
Thứ sáu: thẩm tra các thủ tục kiểm soát để xác định tính thích hợp
và u việt của nó. Kiểm tra tính hiệu quả và tính pháp lý của qui chế kiểm soát
nội bộ đồng thời có kiến nghị hoàn thiện các qui chế này.
Thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ đồng thời kiểm toán nội bộ phải
thực hiện việc giám sát thực hiện các qui chế kiểm soát nội bộ đã đề ra, qua
đó phát hiện những điểm cha hợp lý để tham gia hoàn thiện chúng.
Mục đích của việc thẩm tra tính thích hợp của kiểm toán nội bộ để
khẳng định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ vận hành đều đặn và có hiệu quả,
đáp ứng mọi mục tiêu đã định trớc.
Thứ bảy: các nhiệm vụ đặc biệt khác.
Ngoài các nhiệm vụ chính trên, kiểm toán viên nội bộ có thể đợc giao
bất cứ nhiệm vụ gì mà có ích cho ban giám đốc nh: điều tra về cá nhân, đại
diện cho ban giám đốc hoặc giám sát trong các thoả thuận, tham gia vào các
toán nội bộ hay không, quy mô của doanh nghiệp nh thế thì bộ máy kiểm toán
nên có quy mô nh thế nào thì thích hợp
Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ phải tuỳ theo cơ cấu của doanh
nghiệp nh thế nào mà tổ chức sao cho đem lại hiệu quả cao nhất, tốn chi phí ít
nhất. Về tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ phải trực thuộc một cấp cao đủ để
không giới hạn phạm vi hoạt động của nó, đồng thời phải đợc giao một quyền
hạn tơng đối rộng rãi và hoạt đông tơng đối độc lập với phòng kế toán và các
bộ phận hoạt động đợc kiểm tra.
Về nhân sự, bộ phận kiểm toán nội bộ phải tuyển chọn những nhân
viên có năng lực chuyên môn và đạo đực nghề nghiệp phù hợp với các qui
định hiện hành.
4.3.2. Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.
Bộ máy kiểm toán nội bộ là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do
đơn vị tự lập theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nề nếp, kỷ cơng quản
lý.
Để tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ trong bộ máy lãnh
đạo cao nhất của đơn vị cử ra những ngời phụ trách công việc này. Theo yêu
cầu đo, thông thờng một uỷ ban kiểm toán đợc lập ra do một tập thể thờng bao
gồm 3 thành viên hội đồng quản trị phụ trách. Trong trờng hợp cần thiết, hội
đồng quản trị có thể quyết định thuê các chuyên gia kiểm toán tham gia hoặc
t vấn cho uỷ ban.
Uỷ ban kiểm toán, vừa có trách nhiệm trong tổ chức hoạt động kiểm
toán nội bộ, vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểm toán tài
chính từ bên ngoài. Trong trờng hợp không có hội đồng quản trị, chủ đầu t
hoặc ngời đợc uỷ quyền phụ trách sẽ chỉ đạo công tác kiểm toán. Tất nhiên, uỷ
ban kiểm toán hoặc ngời phụ trách chỉ có chức năng tổ chức, chỉ đạo công
việc kiểm toán. Ngời thực hiện kiểm toán nộ bộ là những kiểm toán viên trong
15
Kiểm toán viên nội bộ đợc kiểm toán nhà nớc đào tạo, bổ nghiệm, quản lý và
chỉ đạo hoạt động. Việc xây dựng mô hình nh vậy có u điểm là:
- Thống nhất quản lý nhà nớc đối với hoạt động kiểm toán nội bộ
trong các cơ quan và tổ chức kinh tế nhà nớc.
- Tiêu chuẩn hoá đợc đội ngũ kiểm toán viên.
- Công tác kiểm toán nội bộ sẽ đợc hớng dẫn và chỉ đạo thống nhất.
16
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
- Kiểm toán nội bộ sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho cơ quan
kiểm toán nhà nớc trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra, kiểm soát khi bộ
máy kiểm toán nhà nớc mới hình thành với số lợng kiểm toán viên còn ít ỏi so
với nhu cầu thực tế.
Từ những vai trò của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp thì việc tổ
chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp là cần thiết để nâng cao hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tuỳ theo quy mô của doanh nghiệp
mà tổ chức bộ máy kiểm toán cho phù hợp. Bộ máy kiểm toán nội bộ trong
doanh nghiệp nên đợc tổ chức nh thế nào? vấn đề này có hai loại quan điểm
khác nhau:
Quan điêm thứ nhất: bộ máy kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản
trị mà trực tiếp là chịu sự chỉ đạo của ban kiểm soát.
Mô hình 1: mô hình bộ máy kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản
trị.
Hội
Hội đồng
đồng quản
quản
Cơ
Cơ quan
quan quản
quản
lý
lý cấp
cấp trung
trung
gian
gian
Cán
Cán bộ
bộ quản
quản lý
lý
cấp
cấp doanh
doanh
nghiệp
nghiệp
17
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Mô hình trên đợc coi là mô hình lý tởng, nó bảo đảm điều kiện về tính
độc lập của kiểm toán nội bộ nhng không có tính thực tế. Đó là vì hội đồng
bộ, quản
quản lý
lý
trung
trung gian
gian
Cán
Cán bộ
bộ quản
quản lý
lý cấp
cấp
doanh
doanh nghiệp
nghiệp
Mô hình này dựa trên cơ sở kiểm toán nội bộ là một bộ phận quan trọng
của doanh nghiệp, đặt tại doanh nghiệp, tiếp cận thờng xuyên, liên tục với mọi
hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh
18
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
nghiệp và phát hiện kịp thời những sai sót, sơ hở, những điểm yếu để báo cáo
kịp thời cho lãnh đạo để có các biện pháp khắc phục, hoàn thiện. Cách tổ chức
theo mô hình này phù hợp với điều kiện thực tiễn của các doanh nghiệp nhà nớc trong giai đoạn hiện nay.
4.4. Các loại hình hoạt động của kiểm toán nội bộ.
4.4.1. Phân loại theo đối tợng cụ thể, hoạt động kiểm toán có 3 loại
hình: kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.
xác định mức an toàn của các nghiệp vụ tài chính và chất lợng của hệ thống
kiểm soát nội bộ.
Hai là: hớng vào những thành tích và hiệu quả trong đó cần xem xét
việc thiết lập hệ thống thông tin và quản lý cõng nh việc điều hành hớng tới
tối u hoá việc sử dụng các nguồn lực.
Trong loại hình này kiểm toán viên nội bộ tiến hành cuộc kiểm toán
trong trờng hợp cấp trên yêu cầu.
4.4.2. Dựa vào thời gian tiến hành cuộc kiểm toán có 3 loại hình: kiểm
toán trớc quá trình hoạt động, kiểm toán trong quá trình hoạt động và kiểm
toán sau quá trình hoạt động.
Kiểm toán trớc quá trình hoạt động: chủ yếu là kiểm tra tính khả thi,
tính hiệu quả các dự án, kế hoạch nhằm giúp các cấp ra các quyết định quản lý
có đợc những thông tin và sự đảm bảo chắc chắn về các quyết định của mình.
Kiểm toán trong quá trình hoạt động: Mục đích nhằm giúp các nhà
quản lý điều chỉnh những sai lệch thiếu sót khi thực hiện hoặc điều chỉnh các
hoạt động để đảm bảo tối u về hiệu quả các hoạt động đang và tiếp tục diễn ra.
Kiểm toán sau quá trình hoạt động: nhằm mục đích thẩm định tính
hợp lý, trung thực và độ tin cậy của các thông tin trong các báo cáo tình hình
hoạt động cảu một tổ chức, cá nhân. Trong đó nội dụng chủ yếu là kiểm toán
báo cáo tài chính.
4.4.3. Dựa vào chu kỳ của kiểm toán có: kiểm toán thờng xuyên và
kiểm toán định kỳ.
Kiểm toán thờng xuyên: là thực hiện các việc kiểm tra, xem xét liên
tục hàng tuần, hàng tháng, hàng quý. Hình thức này tỏ ra khá hữu hiệu và có
thể giúp cho việc phát hiện mau chóng, kịp thời các sai sót, gian lận nhờ đó
hạn chế đợc các tác hại. Mặt khác do đợc thực hiện thờng xuyên, các cuộc
kiểm toán này có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa rất hiệu quả.
Kiểm toán định kỳ: trái với kiểm toán thờng xuyên, kiểm toán định
kỳ chỉ nhằm theo dõi tình hình qua các báo cáo tài chính hàng tháng, hàng
quý hoặc cả năm nghiên cứu, đánh giá bảng cân đối kế toán giữa năm hoặc
vực và sản phẩm.
6. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc phản ánh đúng kỳ (tính đúng kỳ).
Việc ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế hoặc trớc hoặc sau khi chúng xảy ra
làm tăng khả năng bỏ quên không ghi sổ nghiệp vụ đó hoặc khả năng ghi sổ
với số tiền không chính xác. Nếu việc ghi sổ trễ xảy ra vào lúc cuối kỳ thì các
báo cáo tài chính sẽ bị sai.
7. Các nghiệp vụ kinh tế phải đợc ghi sổ, chuyển sổ và tổng hợp đúng
đắn.
Trong nhiều trờng hợp, các nghiệp vụ cá lẻ phải đợc tổng hợp và tính
tổng cộng trớc khi chúng đợc ghi vào sổ nhật ký. Sau đó, từ sổ nhật ký đợc
chuyển qua sổ cái tổng hợp, và sổ cái tổng hợp đợc tổng hợp và đợc ding đẻ
lập các báo cáo tài chính. Không cần biết đến phơng pháo nào đợc ding để
nhập các nghiệp vụ vào sổ phụ và để tổng hợp các nghiệp vụ, các quá trình
kiểm soát đầy đủ là cần thiết để đảm bảo quá trình tổng hợp là chính xác.
21
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Phần II: thực trạng về kiểm soát nội bộ tại tổng công ty xi măng việt nam.
I.
Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty.
Xi măng là một trong những cơ sở công nghiệp đợc hình thành và phát
triển sớm nhất ở Việt Nam. Cái nôi đầu tiên của nghành xi măng Việt Nam là
nhà máy xi măng Hải Phòng, đợc khởi công xây dung ngày 25/12/1899. Sau
khi miền bắc dành đợc hoàn toàn độc lập, nhà máy xi măng Hải Phòng đợc
khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu xi măng phục vụ cho các công
trình quốc phòng và phát triển kinh tế miền bắc.
Sau ngày 30/4/1975, ngoàI nhà máy xi măng Hải Phòng và một số cơ sở
xi măng là đứng, nghành xi măng còn tiếp quản nhà máy xi măng Hà Tiên.
Năm 1993, bộ xây dựng đã có quyết định đổi tên LHCXN xi măng
thành tổng công ty xi măng Việt Nam và đến ngày 14/11/1994, thủ tớng chính
phủ đã có quyết định số 670/TTg của chính phủ về việc thành lập tổng công ty
xi măng Việt Nam theo quyết định 91/TTg của chính phủ ngày 07/03/1994.
Tổng công ty xi măng Việt Nam có ban cán sự đảng, có HĐQT và đợc chính
phủ xếp hạng doanh nghiệp đặc biệt.
Kết thúc năm 1995, tổng công ty xi măng Việt Nam đã hoàn thành kế
hoạch sản xuất tiêu thụ 4,8 triệu tấn xi.
Từ năm 1996 2000 tổng công ty xi măng đã đa vào hoạt động nhà
máy xi măng Bút Sơn, góp vốn liên doanh đầu t nhà máy xi măng chin Fon
(Hải Phòng), nhà máy xi măng Sao Mai (Hòn Chông), nhà máy bê tông tới,
nhà máy xi năng Nghi Sơn (Thanh Hoá), một số trạm nghiền với các địa phơng và nâng công suất nhà máy xi măng Bỉm Sơn. Kết thúc kế hoạch 5 năm
1996 2000 tổng công ty xi măng đạt tổng doanh thu 30.935 tỷ đồng, nộp
ngân sách nhà nớc là 3.900 tỷ đồng.
Hiện nay sản lợng xi măng sản xuất tiêu thụ của tổng công ty xi măng
tơng đối ổn định ở mức 18 triệu tấn/năm và đang trong quá trình xây dựng nhà
máy xi măng Tam Điệp.
Một số kết quả hoạt động kinh doanh của tổng công ty xi măng trong
những năm gần đây.
chỉ tiêu
Doanh thu
Năm 2000
7076641
Năm 2001
7628000
Năm 2002
phòng ban trong tổng công ty thực hiện đầy đủ các chế độ ghi chép ban đầu.
Thực hiện chế độ hạch toán và chế độ quản lý tài chính, giúp đỡ cơ quan tổng
giám đốc tổ chức thông tin kinh tế và phân tích các hoạt động kinh tế.
Bộ máy kế toán của tổng công ty xi măng gồm 8 ngời và đợc chia thành
2 phòng gồm: trởng phòng kế toán (kế toán trởng), 2 phó phòng kế toán và 5
nhân viên kế toán đợc tổ chức theo mô hình sau:
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán.
Tr
Trởng
ởng phòng
phòng kế
kế toán
toán
Phó
Phó phòng
phòng kế
kế toán
toán
Kế
Kế toán
toán
viên
viên
Phó
Phó phòng
phòng kế
Ketnooi.com kt ni cụng dõn in t
Trong đó:
- Trởng phòng kế toán: là ngời quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động, kiểm tra
toàn bộ công tác tài chính kế toán của tổng công ty, tham mu giúp tổng giám
đốc về các vấn đề liên quan đến tài chính kế toán, đánh giá các phơng án kinh
doanh. Trởng phòng kế toán duyệt các báo cáo quyết toán của các đơn vị
thành viên.
- Hai phó phòng kế toán: giúp trởng phòng chỉ đạo hoạt động khi trởng phòng
đi công tác, trong đó: phó phòng 1 quản lý việc tổ chức công tác kế toán tại
tổng công ty còn phó phòng 2 quản lý theo dõi việc tổ chức công tác kế toán
tại các đơn vị thành viên.
- 5 nhân viên kế toán: trong đó 2 nhân viên thuộc sự quản lý của phó phòng 1
thực hiên công tác kế toán tại tổng công ty, còn 3 nhân viên thuộc sự quản lý
của phó phòng 2 thực hiện công việc quản lý công tác kế toán tại các đơn vị
thành viên.
III. các yếu tố có tính môi trờng ảnh hởng đến công tác kiểm soát
nội bộ.
1. Tổ chức bộ máy quản lý.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là một bộ phận quan trọng của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Khi xác lập cơ cấu tổ chức của tổng công ty cũng là lúc hình
thành một biện pháp kiểm tra, kiểm soát tự động giữa các bộ phận.
Bộ máy quản lý của tổng công ty xi măng đợc mô tả nh sau:
25