TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP-HCM
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
( CPI), SẢN LƯỢNG CÔNG NGHIỆP (IP), GIÁ DẦU LÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GVHD: TS Trần Thị Mộng Tuyết
Sinh viên thực hiện:
Lớp : HP 14C1TCMA50605
TCDN- CHCQ K23- NHÓM 07
Niên khóa 2013- 2015
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
SVTH: LỚP HP 14C1TCMA50605 – CHCQ K23- NHÓM 7
STT HỌ VÀ TÊN
1
3
4
EMAIL
098447 441
0974291481
Page ii
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Tiểu luận, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Cô
giáo Trường Đại học Kinh Tế TP HCM, Viện Đào tạo Sau Đại học, đã tạo điều kiện cho
chúng em được nghiên cứu, học tập môn Thị Trường Tài Chính. Đặc biệt, em xin gửi lời
Cảm ơn đến Cô Giáo hướng dẫn trực tiếp- Cô TS Trần Thị Mộng Tuyết - Người đã chỉ
dận tận tình và đóng góp rất nhiều ý kiến để giúp chúng em hoàn thành Tiểu luận này.
Chúng Em xin cảm ơn bộ phận thư viện đã tạo điều kiện cho em mượn sách và tài liệu.
Chúng Em xin cảm ơn các Khoa, các Bộ phận khác trong trường đã giúp đỡ trực tiếp hay
gián tiếp để em có thể hoàn tất Tiểu luận.
Chúng Em rất chân thành cảm ơn và mong được Thầy đóng góp cho Tiểu luận.
TP.HCM, Ngày 10 Tháng 08 Năm 2014
Sinh viên thực hiện
Lớp HP 14C1TCMA50605-Nhóm 07
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page iii
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………
Tên Bảng/ Hình vẽ
Trang
Bảng 2.3.1.1
Bảng tóm tắt các biến sử dụng trong
20
mô hình
Bảng 2.3.2.1
Thống kê mô tả mẫu chung
21
Bảng 2.3.3.1
Sự tương quan giữa các biến được sử
22
dụng trong bài nghiên cứu.
Hình 2.3.4.1
Kết quả hồi quy Biến IND theo biến
23
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page v
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTCK
: Thị Trường Chứng Khoán
VN
: Việt Nam
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page vi
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
MỤC LỤC
PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CỦA GEORGE FILIS.......................... 1
Tóm Tắt ............................................................................................................................... 1
1.1 Giới thiệu ....................................................................................................................... 1
1.2 Tổng quan những nghiên cứu trước đây........................................................................ 2
1.2.1 Biến vĩ mô và thị trường chứng khoán .................................................................. 2
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page viii
PHẦN 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CỦA GEORGE FILIS
MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, CPI VÀ SẢN LƯỢNG
CÔNG NGHIỆP Ở HY LẠP VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ DẦU LỬA: CÓ BẤT
KỲ SỰ KHÁM PHÁ NÀO MỚI TỪ VIỆC KIỂM TRA CHU TRÌNH TUẦN HOÀN
CỦA NHỮNG NHÂN TỐ NÀY, BẰNG VIỆC SỬ DỤNG DỮ LIỆU GẦN ĐÂY?
Tóm Tắt
Bài nghiên cứu này kiểm nghiệm mối quan hệ của những nhân tố có tính tuần hoàn, giữa
CPI, Sản lượng công nghiệp ( IP), thị trường chứng khoán ở Hy Lạp và ảnh hưởng của
giá dầu lửa lên những nhân tố này. Nghiên cứu dữ liệu trong khoảng từ 1996: 1- 2008-6.
Bằng việc sử dụng Var, kết quả cho thấy rẳng chỉ số CPI của Hy Lạp ảnh hưởng cùng
chiều lên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, giá dầu cũng ảnh hưởng cùng chiều lên chỉ
số CPI và thị trường chứng khoán của Hy Lạp. Những cú sốc của CPI trong 03 năm có
thể tác động đến những biến khác, còn những cú sốc từ thị trường chứng khoán và giá
dầu thì mất từ 2- 3 năm, tuy nhiên, những biến đổi trong sản lượng công nghiệp sẽ chỉ
mất 1-2 năm. Bài nghiên cứu này sẽ là một phát hiện bổ ích và quan trọng cho những nhà
quản lý tài chính, phân tích tài chính và những nhà đầu tư tại Hy Lạp.
1.1
Giới thiệu
Mục tiêu của bài nghiên cứu này gồm hai phần, đó là ước tính mối quan hệ giữa những
nhân tố có tính chu kỳ, gồm CPI, IP và chỉ số chứng khoán ở Hy Lạp. Ngoài ra, tác giả
cũng xem xét tác động của giá dầu lên những biến số vĩ mô của Hy Lạp và thị trường
chứng khoán. Những mối quan hệ này đã được nghiên cứu nhiều trong quá khứ, ở những
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nhân tố như lạm phát, cung tiền, tỷ giá có ảnh
hưởng đến lợi nhuận thu được từ chứng khoán ( Flannery và Protopapadakis, 2002).
Bằng việc sử dụng mô hình Var và phương pháp đồng liên kết, đã cho thấy lãi suất và
làm phát ảnh hưởng ngược chiều đến thị trường chứng khoán. Có nghĩa là lạm phát và lãi
suất thấp thì lợi nhuận thu được từ chứng khoán cao hơn và ngược lại ( Pearce và Roley,
1983, Altay, 2003, Omrana 2003, Gjerde và Seattem, 1999). Kể từ thập niên 70, có nhiều
tác giả đã chứng minh được mối quan hệ ngược chiều giữ lạm phát và lợi nhuận từ chứng
khoán ( Jaffee và Madelker, 1976, Fama và Schwert, 1977; Fama, 1981; Geske và Roll,
1983; Chen et al, 1986; Wahlroos và Berglund, 1986; Cozier và Rahman, 1988; Lee,
1992, Siklos và Kwok, 1999).
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page 2
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Một vài tác giả khác, đã cho thấy sự ảnh hưởng của trị trường chứng khoán lên nền kinh
tế, thông qua mô hình chiết khấu dòng tiền ( như là Gordon Growth Model), giá chứng
khoán phản chiếu mong đợi của những nhà đầu tư, đối với nền kinh tế của một nước
trong tương lai ( Morck và những cộng sự, 1990; Choi et al, 1999).
Cuối cùng, một vài nghiên cứu khác cho thấy thị trường chứng khoán không thể được
giải thích bằng những nhân tố cơ bản. Thay vào đó, sự biến động của thị trường chứng
khoán có thể do những hành vi không hợp lý và sự đầu cơ ( Binswange, 1999; Shiller,
2000). Harvey (2000) và Verma và Ozuma ( 2005) cũng cho thấy chỉ số vĩ mô không có
khả năng giải thích lợi nhuận mong đợi tại thị trường các nước phát triển và mới nổi.
Những nghiên cứu tại Hy Lạp đã tìm được những bằng chứng thực nghiệm cho thấy mối
quan hệ dài hạn giữa những biến số vĩ mô của nền kinh tế và thị trường chứng khoán.
Dritsaki ( 2005) sử dụng đồng liên kết Johansen và Granger để kết luận là chỉ số công
nghiệp sản xuất , lãi suất và lạm phát ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hy Lạp.
Tuy nhiên, cô ấy cũng chỉ ra mối quan hệ giữa chỉ số công nghiệp và lợi nhuận chứng
tiếp ngược chiều có thể được lí giải, đó là do trình độ sản xuất thấp hơn và tỷ lệ lạm phát
cao hơn là kết quả của giá dầu cao hơn. Bằng chứng của Jones và Kaul (1996) cho thấy
tác động của giá dầu đến thị trường chứng khoán, xảy ra do tác động của biến động giá
dầu đến dòng tiền thực. Ngoài ra, họ cũng đã kết luận rằng giá dầu là một yếu tố rủi ro
đối với thị trường chứng khoán, thông qua việc sử dụng mô hình APT.
Một mối quan hệ ngược chiều giữa giá dầu và lợi nhuận chứng khoán cũng đã được
ghi nhận bởi Goswami và Jung (1998), Gjerde và Sættem (1999), Ciner (2001), Nandha
và Faff (2008) và O'Neill et al. (2008). Sadorsky (1999), với cùng một kết luận, cho rằng
ngoài việc thay đổi giá dầu, biến động giá dầu cũng có tác động đến lợi nhuận chứng
khoán.
Agren (2006) sử dụng mô hình VAR-ABEKK bất đối xứng để kiểm tra các biến
động lan toả từ những thay đổi giá dầu đến lợi nhuận chứng khoán tại Nhật Bản, Na Uy,
Thụy Điển, Anh và Mỹ. Kết luận là thị trường chứng khoán có những cú sốc có xu hướng
có tác động đến lợi nhuận thị trường chứng khoán mạnh hơn là từ tác động của các cú sốc
giá dầu. Hơn nữa, Maghyereh (2004) đã sử dụng một mô hình VAR cho giai đoạn 19982004 trên 22 nền kinh tế mới nổi. Bằng chứng về mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page 4
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
thị trường chứng khoán tại các thị trường mới nổi là khá yếu. Điều này là trái ngược so
với các báo cáo tương tự được thực hiện tại các thị trường phát triển.
Một trong những nghiên cứu gần đây nhất về mối quan hệ giữa giá dầu và thị
trường chứng khoán đã được trình bày bởi Miller và Ratti (2009), với các dữ liệu cho giai
đoạn 1971 – 2008. Bằng việc sử dụng phương pháp tiếp cận VECM, họ cho rằng trong
dài hạn, thị trường chứng khoán nhận được tác động ngược chiều từ sự thay đổi giá dầu.
Một phát hiện thú vị là tác động ngược chiều này có xu hướng trở thành gần như bằng
không cho những năm sau năm 1999. Họ lý luận rằng thay đổi mối quan hệ giữa thị
trường chứng khoán và giá dầu có thể được giải thích bởi thực tế là thị trường chứng
sự tương tác linh hoạt giữa sản xuất công nghiệp, lãi suất, tỷ giá, hoạt động của thị trường
chứng khoán nước ngoài, giá dầu, và lợi nhuận chứng khoán Hy Lạp. Họ kết luận rằng
lợi nhuận thị trường chứng khoán không tác động đến hoạt động kinh tế, mà hoạt động
kinh tế và thị trường chứng khoán nước ngoài một phần giải thích diễn biến thị trường
chứng khoán Hy Lạp. Cuối cùng, giá dầu tác động đến giá chứng kkhoán trong khi có
một tác động ngược chiều cùng lúc đến hoạt động kinh tế.
Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu mối quan hệ giữa thành phần chu
kỳ của giá dầu, các chỉ số kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu. Ewing và Thomson (2007) thực
hiện một nghiên cứu của Mỹ cho giai đoạn 1982-2005 và báo cáo rằng sản xuất công
nghiệp và thị trường chứng khoán đã tác động đến giá dầu, trong khi giá dầu tác đoọng
đến giá tiêu dùng.
Mặc dù tác động ngược chiều của giá dầu đến các chỉ số kinh tế vĩ mô và thị trường
chứng khoán đã được nhiều nghiên cứu trước đây thực hiện, nó là giá trị lưu ý rằng mối
quan hệ giữa các chỉ số kinh tế vĩ mô và hiệu suất thị trường chứng khoán là khá khó để
nắm bắt.
Cuối cùng, chưa có nghiên cứu tương tự gần đây nào được thực hiện tại thị trường Hy
Lạp để kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ số kinh tế vĩ mô, thị trường chứng khoán và giá
dầu, trong khi những yếu tố này được đưa vào để xem xét các điều kiện thị trường hiện
tại. Điều này củng cố tầm quan trọng của nghiên cứu này và bổ sung kết quả đạt được
vào các tài liệu hiện có.
1.3
Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page 6
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
chỉ số thị trường chứng khoán. Sản lượng công nghiệp và chỉ số CPI được điều chỉnh
theo mùa với cùng năm cơ sở (năm 2000). Giá dầu (dầu thô - Brent) đại diện cho giá dầu
thực. Tác giả chuyển đổi giá dầu trong giá dầu thực bằng cách xem xét tỷ giá Eurodolla
trong giai đoạn nghiên cứu và chỉ số CPI cho Hy Lạp và Mỹ. Các nguồn dữ liệu được lấy
từ cơ sở dữ liệu Eurostat và Datastream. Tất cả các biến được đưa về dạng logarit, thời
gian là giai đoạn 1996:1 - 2008:6, thể hiện thành 150 quan sát, bao gồm 12 năm.
1.3.3 Các thành phần mang tính chu kỳ
Tác giả sử dụng các thành phần mang tính chu kỳ của các biến để kiểm tra. Để xây dựng
các thành phần mang tính chu kỳ, thực hiện các bước sau đây:
B1: Tính toán xu hướng dài hạn của chuỗi dữ liệu (được trình bày dưới dạng logarit tự
nhiên), theo ước tính của các Hodrick-Prescott (HP) bộ lọc (Ewing và Thomson, 2007;
Hodrick và Prescott, 1997) với tham số làm mịn 14400, là thích hợp cho chuỗi thời gian
kinh tế vĩ mô hàng tháng.
B2: Sau đó, sẽ trừ xu hướng dài hạn của chuỗi dữ liệu thực tế, tức là thành phần mang
tính chu kỳ: dữ liệu thực tế - xu hướng dự kiến. Tác giả biểu thị các thành phần theo chu
kỳ sản xuất công nghiệp, chỉ số CPI, chỉ số Index và giá dầu Marker, kí hiệu tương ứng
là: C_IP, C_CPI, C_IND và C_OIL.
1.4
Kết quả thực nghiệm
1.4.1 Thử nghiệm sơ bộ
Tác giả bắt đầu thử nghiệm sơ bộ cho thấy các thành phần mang tính chu kỳ của chuỗi dữ
liệu (Hình 1).
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page 8
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
Bảng 2: Kiểm tra đồng liên kết với Thống kê
Giả thuyết số
Trị số đặc
phương trình
trưng
Thống kê
k=0
6
04
5% CV
0.23232
K=1
8
K=2
07
30.914
prob
97.528
0.16947
b.
0.0
001
15.494
66
9.2185
0.0
024
3.8414
0.0
Lưu ý: Thống kê cho thấy thứ hạng của Π = 4. VAR là không đổi.
Bảng 3: Kiểm tra đồng liên kết với Thống kê
Giả thuyết số
Trị số đặc
7
62
0
7
21.131
21.6961
0.0
028
14.264
66
9.21851
0.0
056
60
8
0.06038
011
các nguồn gốc nghịch đảo của đặc trưng đa thức. Như chúng ta có thể quan sát
nguồn gốc thực sự bên ngoài vòng tròn đơn vị, cho phép Tác giả kết luận rằng
VAR (1) mô hình đáp ứng các điều kiện ổn định.
Bảng 4: Nguồn gốc của đa thức đặc trưng
Root
Modulus
0.887484 - 0.106000i
0.893792
0.887484 + 0.106000i
0.893792
0.615765
0.615765
0.369470
0.369470
Tất cả các kết quả sơ bộ cho thấy chúng ta có thể tiến hành dự toán của mô hình
VAR (1). Phần tiếp theo sẽ báo cáo các kết quả của mô hình VAR. Tác giả cũng sẽ
báo cáo về các chức năng đáp ứng sự thay đổi và phương sai phân tích để giúp cho
việc giải thích tính kinh tế của kết quả này.
1.4.2 Kết quả phân tích VAR
-0.03659
-0.04647
-0.00025
[11.6755]
[-
[-3.05784]
[-0.06699]
2.49165]
C_IND(-1)
C_OIL(-1)
C_IP(-1)
C
-0.39736
0.82452
0.077023
0.007768
3.00367]
-0.67521
0.335416
-0.06478
0.37115
[-
[
[-0.20350]
[ 4.75267]
0.52914]
1.09035]
0.013333
-0.00312
0.001495
-8.13E-05
ngoại sinh.
Từ cơ chế dẫn truyền đề cập đến phản ứng của C_CPI trước những cú sốc từ
C_IND, C_OIL và C_IP , tác giả nhận thấy rằng có những phản ứng tiêu cực đến
cú sốc thị trường chứng khoán và sản lượng công nghiệp, trong khi có một phản
ứng tích cực với cú sốc dầu mỏ. Liên quan đến phản ứng thị trường chứng khoán,
nó có thể được quan sát thấy rằng có những phản ứng ngược chiều đến chỉ số CPI
và những cú sốc dầu, và phản ứng cùng chiều trước những cú sốc sản lượng công
nghiệp. Đối với sản lượng công nghiệp, có thể thấy nó ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ
số CPI và những cú sốc dầu, ngược lại là ảnh hưởng tích cực cho cú sốc thị trường
chứng khoán (xem hình 2). Các kết quả được nhiều người mong đợi, nhưng đối với
một số các trường hợp, câu trả lời là gần như bằng không. Nghiên cứu trước đây đã
ghi nhận kết quả tương tự vào đó, sử dụng tốc độ tăng trưởng, thay vì các thành
phần mang tính chu kỳ.
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07
Page 14
GVHD. TS. Trần Thị Mộng Tuyết
.
Ta có thể thấy rằng C_CPI có biên độ dao động cao hơn, trong khi C_IP có biên độ
dao động thấp nhất. Điều này là do C_CPI có độ lệch chuẩn cao hơn so với các biến số
khác. Độ lệch tiêu chuẩn cao này cũng có thể được quan sát thấy trong Bảng 1 dưới đây,
báo cáo thống kê mô tả của dữ liệu.
Lưu ý: Hàng đầu tiên cho thấy phản ứng của C_CPI trước những cú sốc từ C_CPI,
C_IND, C_OIL và C_IP. Hàng thứ hai cho thấy phản ứng của C_IND trước những cú sốc
từ C_CPI, C_IND, C_OIL và C_IP. Hàng thứ ba cho thấy phản ứng của C_OIL trước
1.5
Kết luận
Trong nghiên cứu này, George Filis đã xem xét mối quan hệ của các thành phần mang
tính chu kỳ, đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), sản lượng công nghiệp, trong thị trường
chứng khoán Hy Lạp và ảnh hưởng của giá dầu lên các biến đó. Nghiên nghiên cứu tiến
hành từ 1996:1 - 2008:6. Kết quả sơ bộ là sự biến động của những biến mang tính chu kỳ
khác nhau đáng kể, tùy thuộc vào các biến, CPI có sự biến động cao nhất và sản lượng
công nghiệp thấp nhất. Mô hình VAR (1) cho thấy rằng giá dầu và CPI có tác động tiêu
cực lên thị trường chứng khoán.
Sản lượng công nghiệp ảnh hưởng tích cực đến chu kỳ hoạt động của thị trường chứng
khoán, nhưng không đáng kể. Ngoài ra, những thành phần mang tính chu kỳ của thị
trường chứng khoán Hy Lạp cũng tác động lại CPI theo hướng tiêu cực. Thành phần
mang tính chu kỳ của dầu dường như không có bất kỳ ảnh hưởng đến sản lượng công
nghiệp hoặc chỉ số CPI. Dựa trên những phát hiện này, tác giả khẳng định rằng các thành
phần mang tính chu kỳ của giá dầu, tạo ra sự biến động của trường chứng khoán Hy Lạp
và tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa các thành phần mang tính chu kỳ của CPI và thị
trường chứng khoán. Cuối cùng, một Phương sai của sai số tỷ lệ của thị trường chứng
khoán Hy Lạp cao, bắt nguồn từ chỉ số CPI và giá dầu, ngược lại Phương sai của sai số tỷ
lệ cao của chỉ số CPI bắt nguồn từ thị trường chứng khoán Hy Lạp.
Phát hiện tương tự như những điều này đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đó.
Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn đã bổ sung thêm nghiên cứu trước đó, vì nó điều tra các
mối quan hệ của các thành phần mang tính chu kỳ, chứ không phải là tốc độ tăng trưởng
của họ và ngoài ra nó còn kiểm tra dữ liệu gần đây, trong đó có tính đến các giai đoạn
khủng hoảng dầu cuối cùng. Những phát hiện trong bài nghiên cứu này sẽ là một phát
hiện bổ ích và quan trọng cho những nhà quản lý tài chính, phân tích tài chính và những
nhà đầu tư tại Hy Lạp.
SVTH. HP 14C1TCMA50605-CHCQ K23- Nhóm 07