TRƯỜNG Đ ẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01-2010
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Diệp Gia Luật
Nhóm thực hiện:
Nhóm 7
Lớp:
Cao học đêm 9
Khoá:
19
DANH SÁCH NHÓM THỰC HIỆN
1. Nguyễn Văn Long Sơn
2. Hồ Vĩnh Sơn
3. Vũ Minh Tân
4. Lâm Quốc Thi
5. Nguyễn Quốc Toản
6. Hoàng Thị Thanh Nhàn
7. Lê Thị Thu Sương
8. Lê Thị Thanh
9. Ngô Thị Thanh Trang
10. Bùi Thị Hồng Vân
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái niệm:
- TTCK là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn , thực hiện cơ chế chuyển vốn
trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị
trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế
- TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại
chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính
khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh, hợp đồng tương lai, quyền
chọn, quyền mua cổ phiếu…
Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch tập trung tại 1 điểm, các lệnh được
chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên
phiên giao dịch. Chỉ có CK đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại đây.
Thị trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market –
OTC), hay còn gọi là TTCK phi tập trung
Đây là 1 thị trường có tổ chức dành cho những CK không niêm yết trên trung tâm
giao dịch chứng khoán .
Thị trường OTC không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào đó các nhà môi
giới ( công ty chứng khoán) kết nối các giao dịch qua mạng máy tính diện rộng
giữa các công ty CK và trung tâm quản lý hệ thống.
1.2.3. Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hóa lưu hành trên TTCK
Thị trường cổ phiếu: Là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ
phiếu bao gồm CP thường, CP ưu đãi.
Page 2 of 38
Thị trường trái phiếu: Là thị trường giao dịch và mua bán các loại trái
phiếu đã được phát hành bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái
phiếu chính phủ.
Thị trường các công cụ phái sinh: Là thị trường phát hành và mua đi
bán lại các chứng từ tài chính khác như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp
đồng quyền chọn….
1.3. Chức năng của TTCK
1.3.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi
của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng
sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương
cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ
tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
1.3.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội
lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính
1.4.1. Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán đều
đuợc thực hiện thông qua các trung gian, hay còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà
môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng. Ngoài
ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư
vấn cho khách hàng trong việc đầu tư
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau
để mua bán chứng khoán. Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt
lệnh. Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh.
1.4.2. Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán đuợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các
lệnh bán. Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào
việc xác định giá này. Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự
động.
Page 4 of 38
Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp
đấu giá.
Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới được nhập vào hệ
thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán. Hệ thống máy chủ này sẽ xác định
mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lượng cao nhất.
1.4.3. Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai.
Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị
trường. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ
hàng năm của công ty, các sự kiện bất thường nhà đầu tư tham gia vào thị trường
chứng khoán.
Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán được hình thành
một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Do đó, ở hầu hết các
nước trên thế giới hiện nay, mỗi nuớc chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán duy
nhất (tuy nhiên, người dân mọi miền đất nước đều có thể tiếp cận thị truờng thông
tư để phát hành chứng chỉ quỹ, qua đó hình thành nên các quỹ đầu tư hoạt động
trên thị trường chứng khoán với chức năng kinh doanh chứng khoán và quản lý
doanh mục đầu tư
c. Các tổ chức có liên quan đến TTCK
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam nhằm bảo vệ lợi ích của
nhà đầu tư và đảm bảo TTCK hoạt động lành mạnh,có hiệu quả và phát triên bền
vững.
Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường
giao dịch tập trung và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao
dịch chứng khoán trên SGDCK phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.
Page 6 of 38
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: là tổ chức của các công ty
chứng khoán và các nhà kinh doanh chứng khoán, được thành lập với mục đích
bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư.
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán :là tổ chức nhận lưu
giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ cho các giao
dịch chứng khoán
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: cung cấp hệ thống máy tính
với các chương trình để thông qua đó có thể thực hiện được các lệnh giao dịch một
cách chính xác nhanh chóng.
Các tổ chức tài trợ chứng khoán : được thành lập với mục đích mở rộng
và tăng trưởng của thị trường chứng khoán
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi của các chủ thể phát hành
chứng khoán
Page 7 of 38
CHƯƠNG 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM
2.1. Sự hình thành TTCK Việt Nam
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào
vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 và
thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Ở thời điểm lúc bấy giờ,
chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ
đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch.
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái gà gật, loại trừ cơn sốt vào
năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưng
chỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đã
mất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001
xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001. Trong 4 tháng “hoảng loạn”
này, trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời nguyền không
bao giờ quay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua
bán và tiếp tục kiếm được lợi nhuận. thì trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất
chỉ có 300 điểm, mức thấp nhất xuống đến130 điểm.
Lý do chính là ít hàng hoá, các doanh nghiệp niêm yết cũng nhỏ, không nổi tiếng,
không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi "room" cũng hết.
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính
thức đi vào hoạt động. Giai đoạn tỉnh ngủ dần xuất hiện từ năm 2005 khi tỷ lệ nắm
giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân
hàng).
Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được sự quan
tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo
ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế
cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân.
Page 9 of 38
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau :
Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổng
giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng
thu nhập quốc nội (GDP). Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện có 4.500 tỷ
đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu
trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm
cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.
Trong khoảng từ giữa đến cuối năm 2006, tình trạng đầu tư vào cổ phiếu ở nước ta
mang tâm lý “đám đông”, cả người có kiến thức và hiểu biết, cả những người mua,
bán theo phong trào, qua đó đẩy TTCK vào tình trạng “nóng”, hiện tượng “bong
bóng” là có thật
Mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng đột biến, tháng 12-
2006 đạt 13,8 tỉ USD (chiếm 22,7% GDP) Đặc biệt, số lượng các nhà đầu tư mới
tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000
tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà
đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm. Với
HASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm. Tính chung, so với đầu năm, chỉ số
VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTC-Index tăng tới 170%. Đây
là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới phải thừa nhận là quá ấn tượng.
Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sự
góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm
Page 11 of 38
yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng. Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán Hà Nội, số lượng chứng khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái
phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng. Xét
riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức Việt
Nam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương
đương với 13,8 tỷ USD.
(Nguồn: TTGDCK Tp. HCM và TTGDCK Hà Nội)
b. Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường
phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế. Tính
công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường.VNIndex đạt đỉnh
1.170,67 điểm. HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm
đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch.
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị trường
trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng. So với tổng giá trị vốn hóa
492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷ trọng
4/5. Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị vốn hóa của thị trường không
phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia tăng mà do yếu tố giá cổ phiếu tăng
mạnh.
Trong giai đoạn này, giá các cổ phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạt các
cổ phiếu từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… tất cả
đều đạt mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu năm, trong
đó có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB (113,57%), REE
(122,66%), ACB (197%),…. Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá đỉnh kể từ khi lên
sàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000 đ/CP), DHG
(394.000đ/CP), REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP), SAM (250.000đ/CP),
KDC (246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP), ACB (292.000đ/CP)…
Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này phải kể
đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giao dịch trung
Page 13 of 38
bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Tại sàn HCM, bình quân mỗi
phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN cũng đạt con số 300 tỷ đồng.
Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007
Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước cũng
như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm soát
thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá nóng
của thị trường. Phản ứng trước điều này, TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt.
Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra trong một khoảng thời gian rất
dài (từ cuối Tháng 3 đến đầu Tháng 9).
Giai đoạn điều chỉnh này ghi nhận sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE và HASTC, tất
cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng. VNIndex chỉ trong vòng 1
tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), giảm tới 22,6% so
ngày 01/10/2007).
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở nhóm các
cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE và nhóm cổ phiếu Sông Đà:
S99, SDA, S91…. tại HASTC. Lượng giao dịch bình quân phiên tại HOSE luôn ở
trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch kỷ lục đạt 19.047.000 CP vào ngày
01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE với trung
bình phiên có 5 triệu CP được chuyển nhượng.
Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh giảm vào 2
tháng cuối năm. Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng có các đợt phục
hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố. Tuy nhiên sự phục hồi này
không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu suy giảm chỉ sau 1 phiên tăng
điểm. Chính điều này đã dẫn tới việc các nhà đầu tư bị đọng vốn,. Trong khi nguồn
cầu có xu hướng cạn kiệt, thì nguồn cung vẫn tiếp tục gia tăng. Tương quan cung
cầu mất cân bằng khiến thị trường ngày càng tuột dốc cả về giá lẫn khối lượng
giao dịch và giá trị giao dịch. VNIndex giảm xuống dưỡi ngưỡng điểm 1.000 và
chỉ xoay quanh mốc 900 điểm, với lượng chứng khoán chuyển nhượng rất hạn chế.
Page 15 of 38
Giai đoạn 2008-2009 : Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt
Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh và có sự tăng nhẹ vào
cuốinăm 2009
Nhìn lại thị trường sau 01 năm giao dịch, những điểm nổi bật của thị trường: Index
giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuống dưới
mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoái vốn của khối ngoại, sự can thiệp của
các cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT.Tính từ đầu năm đến
hết ngày 31/12/2008, TTCKVN trải qua 03 giai đoạn chính.
Trong năm 2008, lượng cung tiếp tục được bổ sung đáng kể thông qua việc Chính
phủ đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, đặc biệt là các DN quy mô lớn, kinh doanh
hiệu quả và việc bán bớt CP Nhà nước trong các DN đã CPH, chưa kể hàng loạt
ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, cổ phiếu để
tăng vốn điều lệ, dẫn đến tình trạng thị trường CK có nguy cơ thừa "hàng".
chứng khoán. Nhằm hỗ trợ thêm cho sức cầu trên thị tr ường, ngăn đà suy giảm
mạnh của các chỉ số chứng khoán, ngày 04/03/2008, Chính phủ đã đưa ra nhóm 19
giải pháp ứng cứu thị trường: Cho phép SCIC mua vào cổ phiếu trên thị
trường,kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp niêm yết mua vào cổ phiếu
quỹ
Sự tăng trưởng nóng trong năm 2007, đặc biệt vào những tháng cuối năm đã đưa
đến những dấu hiệu bất ổn về kinh tế vĩ mô. Chỉ số tiêu dùng băt đầu gia tăng với
mức trung bình 2,07%/tháng trong 02 cuối năm 2007. Tiếp nối xu thế này, trong
quý I/ 2008, chỉ số CPI tiếp tục gia tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng và đạt
đỉnh vào tháng 05/200822 với mức tăng 3,91%.
Trong chu kỳ tăng giá nửa đầu năm 2008, tại đa số thời điểm, lương thực được coi
là yếu tố tác động chủ yếu đến chỉ số giá. Tính đến tháng 06, giá lương thực đã
tăng 57,22% so v ới tháng 12/2007.
Chịu ảnh hưởng trực tiếp của tỷ lệ lạm phát tăng cao trong nước và sự biến động
mạnh của giá cả hàng hóa trên thế giới, thị tr ường hàng hóa và thị trường tiền tệ
Việt Nam tiếp tục có những biến động mạnh.
Page 17 of 38
Trên thị trường hàng hóa, xăng dầu - loại hàng hóa cơ bản thuộc sự kiểm soát của
Chính phủ - đã được điều chỉnh mạnh. Trên thị trường tiền tệ, lãi suất từ NHNN và
NHTM liên tiếp xác định các mặt bằng mới. Chịu tác động sức ép từ lạm phát, l ãi
suất từ các NHTM tăng mạnh trong cuối quý II, dao động từ 16 - 18% đối với huy
động tiền gửi và 20-21% đối với các khoản vay. Đặc biệt các sản phẩm huy động
vốn với kỳ hạn ngắn, lãi suất cao là tiêu điểm của hệ thống NH trong giai đoạn
này. Sự căng thẳng về thanh khoản và sự xáo trộnvề dòng chảy của tiền gửi huy
động là nỗi lo của các NHTM trong giai đoạn này. Thâm hụt thương mại cao nhất
vào trong năm tháng đầu năm với mức trung bình là khoảng 2,6 tỷ USD/tháng.
Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng 3/2008 với
mục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm h ụt thương mại. Các chính sách chủ yếu
được thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi suất cơ bản và thắt
chặt đầu tư công để hạn chế nguồn cung tiền trên thị trường.
Tốc độ giảm mạnh nhất trong giai đoạn này thuộc nhóm cổ phiếu các ngành
nguyên vật liệu, công nghiệp, tài chính và công nghệ. Nguyên nhân của sự suy
giảm trong giai đoạn này được nhận định một phần do sự tác động của xu thế
chung thị trường, ngoài ra, cũng là hệ quả của việc tăng khá chóng mặt của các các
cổ phiếu này trong giai đoạn trước đó. Một trong những đề tài nóng hổi và được
báo giới chú ý trong những tháng cuối năm là phong trào trả cổ tức bằng tiền mặt,
với tỷ lệ khá cao của các công ty niêm yết.
Nguồn vốn FII vào Việt Nam chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư. Tuy nhiên, kể từ
cuối tháng 08/2008 cùng với sự sụt giảm của TTCK thế giới nói chung, TTCK
Việt Nam cũng giảm mạnh. Tính đến tháng 12/2008, những dấu hiệu về khả năng
nhà đ ầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán cũng bắt đầu xuất
hiện, thể hiện qua việc bán ròng của khối ngoại trong những tháng cuối năm.Ngoài
ra, mặc dù lạm phát được kiềm chế nhưng lại có sự lo ngại về giảm phát do chỉ số
CPI tăng trưởng âm trong những thángcuốinăm.
Trong quý cuối năm, CPI đã giảm 0,23% trong tháng 10 và tăng lên thành 0,81%
trong tháng 12 (so từng tháng). Tính cả năm 2008 , tỷ lệ lạm phát là 19,89% (so
với tháng 12/2007) và xấp xỉ 23% (so với bình quân 2007)
Page 19 of 38
Giải pháp tài chính kịp thời trong những tháng cuối năm 2008 được thực hiện
thông qua việc điều chỉnh giảm lãi su ất cơ bản nhằm kíchcầu sản xuất tiêu dùng,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vay vốn một cách dễ dàng hơn, đồng
thời giảm áp lực tín dụng cho các ngân hàng thương mại.
Năm 2009
Suy thoái và tạo đáy ( tháng 1-2)
Nền kinh tế trong nước bị ảnh hưởng mạnh của nền kinh tế toàn cầu, thể hiện rõ
nhất ở tiêu đung suy giảm, sản xuất đình đốn, kim ngạch xuất khẩu bị thu hẹp, vốn
đầu tư nước ngoài bị giảm sút nghiêm trọng. TTCK vì thế tiếp tục đổ dốc theo xu
thế giảm dài hạn của năm trước và tạo thành đáy 235 điểm và cuối tháng 02/2009
Tăng trưởng đợt 1 ( tháng 3-7)
Bước sang tháng 3, Chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện các biện pháp kích
năm 2010. NHNN đồng thời thực hiện tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% bắt đầu
từ ngày 01.12.2009. Những tác động này đã ảnh hưởng trực tiếp đến luồng tiền
vào thị trường chứng khoán cũng như phản ánh tâm lý ở mức thái quá của nhà đầu
tư đã khiến các chỉ số CK rơi vào chu kỳ giảm điểm mạnh từ cuối tháng 10 cho
đến nay.
Những khó khăn trên của TTCK chỉ mang tính chất tạm thời tại thời đỉểm cuối
năm. Trong những phiên gần đây, thị trường bắt đầu có dấu hiệu tích cực trở lại.
Chủ trương thu hẹp chính sách tài khóa và điều hành chính sách tiền tệ chuyển từ
nới lỏng sang thận trọng và linh họat sẽ giúp cho nền kinh tế tránh được nguy cơ
về lạm phát, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững ở
mức hợp lý. Những dự báo đầy triển vọng về kinh tế VN năm 2010 sẽ là cơ sở
vững chắc cho sự tăng trưởng của TTCK trong tương lai.
Page 21 of 38
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Theo số liệu do Bộ Tài chính thống kê và công bố ngày 30/11 vừa qua, hiện đã có
tới 730 nghìn tài khoản đầu tư chứng khoán được mở, 105 công ty chứng khoán,
46 công ty quản lý quỹ, 382 quỹ đầu tư nước ngoài, 8 ngân hàng lưu ký.
Tính đến ngày 11/11/2009, trên 2 sàn giao dịch chứng khoán đã có 415 công ty
niêm yết, trong đó có cổ phiếu của một số tổng công ty, doanh nghiệp lớn có vị trí
quan trọng trong nền kinh tế.
Đáng chú ý là mức vốn hóa toàn thị trường hiện nay theo công bố của Bộ Tài
chính là khoảng 669 nghìn tỷ đồng (39 tỷ USD), tương đương 55% GDP của năm
2008.
Điểm lại thời gian qua, giá cả cổ phiếu trên thị trường chứng khoán luôn biến
động, gây tâm lý dè dặt cho công chúng đầu tư.
Về thị trường trái phiếu, trong năm 2009, áp lực và nhu cầu huy động vốn thông
qua phát hành trái phiếu là rất lớn. Nhu cầu huy động vốn vào khoảng 200.000 tỷ
đồng, trong đó Kho bạc Nhà nước là 126.000 tỷ đồng, Ngân hàng Phát triển Việt
Nam là 40.000 tỷ đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội là 10.000 tỷ đồng. Thế
cung cấp. Song, với nguồn nhân lực còn khan hiếm như hiện nay, thị trường mục
tiêu của các công ty này vẫn chỉ là cung cấp các dịch vụ kiểm toán các công ty
niêm yết hay tư vấn cổ phần hóa, định giá doanh nghiệp.
Vào tháng 12 năm 2007, CIC (Credit Information Center), SBV hợp tác cùng
D&B (Dun and Bradstreet), một công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực cung cấp
thông tin, xuất bản cuốn “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của các công ty được
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” công bố xếp hạng tín dụng doanh
nghiệp của 198 công ty được niêm yết cho đến ngày 24 tháng 8 năm 2007 (trừ các
ngân hàng và các quĩ đầu tư). Hầu hết các công ty đều được xếp hạng B trở lên,
chỉ có 7 công ty xếp hạng C chiếm 3%. Những thông tin này rất quan trọng đối với
ngân hàng và các nhà đầu tư, tuy nhiên, chúng cũng chỉ có ý nghĩa tại thời điểm
xếp hạng, không phải trong cả một giai đoạn. Nếu việc xếp hạng tín dụng doanh
nghiệp được thực hiện định kỳ, ít nhất là hàng tháng hoặc hàng quí, chắc chắn
Page 23 of 38