KHỐI KIẾN THỨC THỨ II
MÔN: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, NHÀ NƯỚC
PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
Câu 1: Phân tích vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Cho ví dụ làm rõ.
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không thể
không khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật đối với quản lý nhà nước, quản lý
xã hội.
Vai trò của pháp luật được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Vai trò của pháp luật đối với kinh tế:
Đối với kinh tế, pháp luật là phương tiện hàng đầu xác định địa vị pháp lý bình đẳng
đối với các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế; tạo lập các “khung pháp lý” để các chủ
thể quản lý nhà nước dựa vào các chuẩn mực pháp lý để điều khiển hoạt động sản
xuất kinh doanh. Thông qua pháp luật, nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi tin cậy
và chính thức cho các chủ thể tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh thực hiện có
hiệu quả.
Pháp luật là phương tiện làm cho các quan hệ kinh tế trở thành quan hệ pháp luật. Khi
đó pháp luật xác định rõ các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, quyền và nghĩa vụ
cũng như khách thể mà các bên tham gia hoạt động kinh tế.
Pháp luật là phương tiện củng cố và bảo vệ những nguyên tắc vốn có của nền kinh tế
thị trường như: tính quy định của lợi ích, nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản
xuất, bảo đảm tôn trọng sự cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh…
Ví dụ: công ty bột giặc bột giặt Aba được quảng cáo cho thương hiệu sản phẩm mình
trên các phương tiện truyền thông nhằm cạnh tranh với các sản phẩm bột giặt khác
nhưng không được lấy tên sản phẩm bột giặc khác đặt tên cho sản phẩm mình, trong
khi quảng cáo có thể nói bột giặt Aba trắng hơn các loại bột giặt thường, chớ không
được nói sản phẩm này trắng hơn một sản phẩm cụ thể nào…
Pháp luật còn là phương tiện bảo vệ lợi ít kinh tế tốt nhất cho các bên tham gia hoạt
động kinh tế trong trường hợp xảy ra tranh chấp kinh tế, vi phạm hợp đồng kinh tế,…
Ví dụ: công ty A ký hợp đồng đến ngày 9/8/2015 sẽ giao cho công ty B là 10 tấn gạo
5% tấm thơm nhẹ. Nhưng đến ngày quy định mà bên cty A giao cho bên B 10 tấn gạo
5% tấm là gạo thường. Pháp luật sẽ bảo vệ cho bên B và buộc phía cty A bồi thường
và bảo vệ hạnh phúc gia đình, giáo dục thế hệ trẻ, khuyến khích sự giúp đỡ đồng chí
tính lương thiện, thật thà,..thể hiện vai trò của pháp luật.
Ví dụ:
Đối với tư tưởng, có thể nói, pháp luật là phương tiện đăng tải thế giới quan khoa
học, các tư tưởng tiến bộ và các giá trị nhân loại. Vì thế, pháp luật xã hội chủ nghĩa
có vai trò quan trọng trong củng cố và nâng cao nhận thức tư tưởng cho con người
dưới chủ nghĩa xã hội.
-Vai trò của pháp luật đối với quá trình hội nhập quốc tế
Trong thời đại ngày nay, xu thế hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan của mọi quốc
gia. Nhưng hội nhập quốc tế trên cơ sở nào, phương tiện nào là những vấn đề được
các quốc gia quan tâm. Cùng với những tuyên bố chính trị, các quốc gia đang hướng
xây dựng một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho quá trình hội nhập quốc tế.
Hệ thống pháp luật này một mặt, ghi nhận chủ quyền của mọi chủ thể tham gia quan
hệ quốc tế; mặt khác khẳng định mọi chủ thể tham gia quan hệ quốc tế phải tôn trọng
trong các cam kết đã ký, phải gánh chịu trách nhiệm về những hậu quả có thể xảy ra,
…Với ý nghĩa đó, pháp luật là công cụ, phương tiện thực hiện chủ trương, chính sách
đối ngoại của các quốc gia trên trường quốc tế. Đồng thời, pháp luật còn là phương
tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ thể trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ví dụ: quy pháp quốc tế về các cam kết chủ quyền biên giới, biển đảo… của từng
quốc gia là bất khả xâm phạm khi chưa được quốc gia đó cho phép…
2
Câu 2: Trình bày hướng tăng cường pháp chế XHCN nước ta hiện nay. Liên hệ việc
thực hiện các phương hướng trên ở địa phương đơn vị đ/c công tác.
Mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau, do đòi hỏi từ thực tiễn khác nhau nên biện pháp
tăng cường pháp chế được đặt ra ở những mức độ khác nhau; song, đều phải thực
hiện các biện pháp đồng bộ theo 6 phương hướng cơ bản sau:
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa
quan bảo vệ pháp chế như Công an, Viện Kiểm sát, Toà án và thanh tra nhà nước.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Một hệ thống pháp luật ngày càng đầy đủ, đồng bộ là yếu tố quan trọng hàng đầu để
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp luật phải phù hợp với trình độ dân trí,
nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Các văn bản có tính hiệu lực thấp
Tính kịp thời của hệ thống pháp luật thấp.
3
Phát hiện những quy định lỗi thời, chồng chéo, mâu thuẫn để có kế hoạch sửa đổi, bãi
bỏ, bổ sung.
Thường xuyên tổng kết đánh giá hiệu lực, pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật.
Dự báo phát hiện những quan hệ xã hội mới đang hình thành nhất là những quan hệ
về kinh tế thị trường để có kế hoạch làm luật kịp thời và thực hiện kế hoạch làm luật.
Thường xuyên hệ thống hoá pháp luật, rà soát, đánh giá hệ thống pháp luật hiện hành.
Các định hướng hoàn thiện pl trên 6 nội dung sau:
Một là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế
trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Hai là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do,
dân chủ của nhân dân.
Ba là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục – đào tạo, khoa học - công
nghệ, y tế, văn hoá – thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và
chính sách xã hội.
Năm là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội.
Sáu là: xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập kinh tế.
+ đây là phương hướng cần thực hiện thường xuyên và toàn diện nhằm phòng, chống
các vi phạm pháp luật. tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát cũng là để khắc phục
việc tuyên truyền phổ biến luật một chiều, “ phát” mà không “động” hoặc “đầu voi
đuôi chuột”. kiểm tra là hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với cơ quan
nhà nước cấp dưới; của các cơ quan nhà nước dối với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các
cộng đồng dân cư ở phạm vi làng, xóm, thôn, bản, sóc, buôn, tổ dân phố, về tình hình
thực hiện pháp luật. Tăng cường thanh tra việc thực hiện pháp luật là hoạt động của
các cơ quan thanh tra nhà nước, phát hiện các sơ hở của cơ chế, chính sách pháp luật
để kiến nghị sửa đổi bổ sung. Đồng thời thanh tra việc thực hiện pháp luật để có
những kết luận đánh giá sự thực hiện đúng đắn, vạch ra những tổ chức, cá nhân vi
phạm pháp luật để kiến nghị biện pháp xử lý: tăng cường giám sát việc thực hiện
pháp luật là tăng cường các hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt
động hành pháp và hoạt động tư pháp. Tăng cường giám sát các cơ quan ngôn luận tiếng nói của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát trực tiếp của nhân
dân. Hoàn thiện cơ chế giám sát đối với các hoạt động của các cơ quan nhà nước là
vấn đề hết sức cần thiết. Làm sao để không một cơ quan nào không chịu sự giám sát
của nhân dân và giám sát đại diện của nhân dân, tăng cường các bảo đảm của việc
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ở trong các cơ quan nhà nước, ở các tổ chức
chính trị xã hội, các đơn vị kinh tế trước hết là đơn vị kinh tế quốc doanh. Tăng
cường các công tác kiểm toán nhà nước đối với việc quản lý sử dụng tài sản công.
- Tăng cường cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
+ Mục đích nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự là Bộ luật Tố tụng hình sự cũng là mục
đích của pháp chế. Đó là bảo vệ pháp luật khỏi bị vi phạm và loại bỏ các loại tội
phạm ra khỏi đời sống xã hội; bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia, bảo vệ an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích
của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các lĩnh vực trật tự pháp luật
khác. nhiệm vụ phòng chống tội phạm là của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, song
trách nhiệm chủ yếu, lực lượng nòng cốt của các cơ quan tư pháp là các giải pháp cần
thiết cấp bách. Trong đó và trước hết là: cải cách thể chế tư pháp, kiện toàn bộ máy
các cơ quan tư pháp, xây dựng độ ngũ các chức danh tư pháp. Để các cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đủ năng lực, giải quyết các vụ hình sự một
Tiến độ thực hiện kế hoạch đúng theo quy định của ngành.
Chế độ trực, báo cáo của ban giám hiệu kịp thời, chi bộ làm tốt công tác lãnh
đạo chính quyền trên nhiều mặt.
Công tác công khai tài chính csvc, đội ngũ giáo viên, lực lượng cán bộ dự
nguồn được minh bạch thường xuyên theo quy định chi trả kịp thời các chế độ chính
sách, lương, công tác phí kịp thời.
Nhà trường làm tốt công tác giáo dục, bảo vệ môi trường, xây dựng cơ quan
đạt chuẩn văn hóa tiến đến xây dựng nhà trường đạt chuẩn quốc gia theo lộ trình của
Đảng ủy xã Tân Thạnh.
Học sinh thực hiện đúng theo yêu cầu, quy định, nội quy của nhà trường, của
lớp và các đoàn thể trong nhà trường.
Không có học sinh nào tham gia các tệ nạn xã hội và thực hiện tốt an toàn giao
thông thể hiện được phẩm chất đạo đức của người học sinh, người đội viên thiếu niên
tiền phong Hồ Chí Minh.
Mặt tồn tại:
Vai trò lãnh đạo của chi bộ chưa thật sự phát huy hết trách nhiệm của mình.
Một số đồng chí cốt cán, trong quá trình xd kế hoạch, điều hành xử lý công
việc triển khai chỉ đạo thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn còn theo cảm tính,
không kiên quyết dứt khoát dẫn đến bị động trong tổ chức, thực hiện sự chấp hành và
tuân thủ của một số giáo viên chưa triệt để.
Tính dân chủ trong cơ quan thực hiện chưa triệt để vì còn một số ít giáo viên
chưa mạnh dạn phát biểu ý kiến xd nhà trường, đồng nghiệp, còn có tình trạng “ bằng
mặt, không bằng lòng”.
Còn một số bộ phận gv thực hiện chế độ báo cáo chậm; còn thực hiện sửa
điếm sai quy chế trong sổ điểm lớn.
Tình trạng dạy không đảm bảo nội dung, kiến thức thời gian vẫn còn xảy ra
nhất là ở các môn tự chọn, hoạt động GD NGLL; tình trạng gv vi phạm nội quy cơ
6
quá trình công tác của gv, qua đó nắm vững năng lực công tác của từng gv để có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng lâu dài.
Vào đầu năm học, tổ chức triển khai học tập, nghiên cứu, thảo luận và trao đổi,
quán triệt quy chế chuyên môn, luật cán bộ công chức, quy chế của ngành, luật giáo
dục để cb gv kịp thời nắm vững các văn bản nhằm khắc phục tình trạng gv vi phạm
quy chế chuyên môn, vi phạm đạo đức nhà giáo.
Kiên quyết xử lý nghiêm gv sai phạm quy chế chuyên môn, quy chế nội quy,
quy định của cơ quan, của ngành hoặc làm việc không trách nhiệm, thường xuyên
thường xuyên chậm báo cáo.
Tăng cường gd đạo đức nhà giáo, mỗi thầy cô giáo là tấm gương sáng về tự
học và sáng tạo cần khách quan, công bằng trong công việc đánh giá, xếp loại hs.
Kiên quyết xử lý đối với diện hs cố tình vi phạm nội quy, quy chế của nhà
trương; diện hs vi phạm có hệ thống không có chiều hướng tiến bộ.
7
Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong trường học để các thành viên
trong nhà trường có tiếng nói của mình trên tinh thần xây dựng cơ quan, nội bộ phù
hợp với tình hình phát triển hiện nay.
Nhà trường cần làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học về công tác chuyên
môn, csvc- tráng thiết bị dạy học, đặc biệt là công tác tài chính của đơn vị.
Ban thanh tra nhân dân cần thể hiện hết tinh thần trách nhiệm, vai trò là tổ
chức kiểm tra nội bộ hiệu quả. Tổ chức kiểm tra các chuyên đề cấp bách thiết thực,
kịp thời trong trường học.
Nhà trường làm tốt hơn nữa công tác công khai minh bạch các hoạt động, kế
hoạch, chiến lược phát triển của nhà trường, công khai chất lượng giáo dục hs, csvc,
tài chính, các chế độ chính sách của cbgv, công khai thu chi quỹ xã hội hóa giáo dục,
các loại quỹ ngoài ngân sách.
Tuyên truyền, tổ chức các hoạt động ngoại khóa về “ phòng chống tội phạm”, “
chống tệ nạn xh xâm nhập học đường”.
những mục tiêu và phương hướng thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước. Làm
như vậy sẽ hướng các hoạt động kinh tế - xã hội vận hành đạt được những mục tiêu
phát triển mà nhà nước đã đặt ra
- Điều hành xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Trong hoạt động quản lý của Nhà nước đối với xã hội, vai trò tổ chức, điều hành xã
hội thuộc về quền hành pháp do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có vai trò điều hành các quá trình kinh tế xã hội, điều chỉnh, điều hoà các mối quan hệ xã hội nhằm hướng tới sự phát triển ổn
định, hài hoà của xã hội.
Hỗ trợ, duy trì và thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội, các chủ thể có năng lực và
điều kiện cụ thể khác nhau nên hiệu quả hoạt động thu được cúng khác nhau. Thông
qua các chính sách ưu tiên phát triển trong một số lĩnh vực, đối với một số đối tượng,
các cơ quan quản lý hành chính nhà nước hỗ trợ kinh tế - xã hội phát triển hài hoà.
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước còn có vai trò duy trì sự phát triển của xã hội
thông qua việc tạo môi trường phát triển cho các hoạt động kinh tế- xã hội. Môi
trường chính trị ổn định giúp các cá nhân, tổ chức trong xã hội có nhiều cơ hội tham
gia vào các quan hệ kinh tế - xã hội. Môi trường pháp lý thuận lợi sẽ giúp cho các chủ
thể kinh tế - xã hội chủ động lựa chọn công việc hợp pháp theo năng lực, sở trường
của mình. Đồng thời, nó cũng tạo nên sự minh bạch, công khai giữa các chủ thể với
nhau và với nhà nước. Môi trường kinh tế thích ứng không làm biến dạng các quy
luật của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho các chủ thể trong xã hội hoạt động.
môi trường văn hoá lành mạnh sẽ tạo sự đồng thuận cao trong tư duy về những giá trị
chung của xã hội, từ đó giúp họ có hành động đúng để đạt được mục tiêu.
Thông qua hoạt động quản lý hành chính, Nhà nước tạo động lực thúc đẩy hoạt động
kinh tế- xã hội có hiệu quả của các chủ thể. Nhà nước khuyến khích các chủ thể bằng
những lợi ích vật chất và tinh thần thông qua các chính sách kinh tế - xã hội. Các
chính sách kinh tế- xã hội đó có thể là chính sách cho thuê mặt bằng với giá ưu đãi để
khuyến khích phát triển kinh tế làng nghề, biểu dương việc lựa chọn nguyên liệu sạch
để sản xuất sản phẩm, ưu tiên ứng dụng rộng rãi những thành tự khoa học công nghệ
mới vào quá trình chế tạo sảm phẩm để đạt năng suất lao động cao, khuyến khích mở
Các thủ tục tiếp nhận trả hồ sơ ở phòng một cửa đã có phần nhanh, gọn hơn trước.
Định hướng dẫn đắt sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua hệ thống pháp luật và
chính sách của UBND huyện.
Để cho kinh tế - xã hội phát triển đúng mục tiêu ngay từ đầu nhiệm kỳ huyện uỷ đã
đề ra nghị quết, HĐND, UBND cụ thể hoá thành kế hoạch chương trình hành động
cho cả nhiệm kỳ và cụ thể của từng năm. Nhằm đưa kinh tế - xã hội của huyện phát
triển đảm bảo đúng mục tiêu đã đề ra.
Điều hành xã hội, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm cân đối cơ cấu kinh tế
tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp nhằm ổn định và
hoài hoà giữa các ngành. Có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo
điều kiện đăng ký kinh doanh thuận lợi cho các doạnh nghiệp…
Có chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân mua trang thiết bị máy móc để phục vụ sản
xuất nông nghiệp để tăng lợi nhuận cho bà con.
Tổ chức chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt …..
Tạo điều kiện và là cầu nối giữa 3 nhà: nông dân – khoa học – doanh nghiệp…..
Có chính sách cụ thể hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số, hộ có hoàn cảnh
khó khăn…vươn lên thoát nghèo bền vững.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên còn có một số khó khăn:
Một số bà con nông dân trình độ còn hạn chế chưa đồng tình với một số chính sách
của huyện, còn bảo thủ canh tác theo truyền thống…..
Trình độ năng lực của một số cán bộ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền cón nhiều hạn chế về các mô hình sản xuất, đa số bà con nhìn
người này làm người kia làm theo. Sản phẩm làm ra cung vượt cầu dẫn đến rớt giá…
Công tác hướng nghiệp dạy nghề cho lao động nông thôn còn nhiều bắt cập
Sự mất cân đối giữa giàu và nghèo.
Chưa chủ động được nguồn vốn trong tổ chức thực hiện cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất.
10
tiếp công dân
+ Phân công cán bộ tiếp, quyền và nghĩa vụ của cán bộ tiếp dân
+ Tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị
+ Giải quyết khiếu nại tố cáo theo thẩm quyền.
Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại tố cáo:
Người khiếu nại tố cáo có các quyền sau đây:
+ Tự mình khiếu nại
+ Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
+ Tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp đối thoại.
+ Được biết, đọc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu
nại thu thập.
11
+ Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài
liệu liên tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin,..
+ Đưa chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó.
+ Nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết
khiếu nại.
+ Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm.
+ Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án
+ rút khiếu nại.
Nghĩa Vụ của người khiếu nại:
+ Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết.
+ Trình bày trung thực việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn hợp lý của việc kiếu
nại và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày việc cung cấp thông tin,
tài liệu đó.
+ Chấp hành quyết định quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu
nại trong thời gian khiếu nại.
phối hợp tích cực của các ban ngành, bộ phận chuyên môn, đoàn thể. Do vậy, việc
giải quyết đơn thư hàng năm đạt trên 90%. Từ đó đã làm tốt việc đảm bảo quyền lợi
chính đáng của công dân.
Mặt hạn chế:
Hoạt động tiếp công dân mặt dù được quan tâm, đổi mới lẫn qui trình lẫn hình
thức nhưng chất lượng các buổi tiếp công dân chưa đạt được như mong muốn. công
tác xử lý đơn thư hiện nay vẫn chủ yếu là chuyển đơn đến cơ quan chức năng để giải
quyết theo quy định (chiếm hơn 50% số đơn thư đã xử lý).
Lực lượng cán bộ làm công tác xử lý ở xã hiện nay quá mỏng, trong khi đó số
lượng đơn ngày càng nhiều, có cán bộ thiếu chuyên môn sâu trong việc nghiên cứu,
giải quyết các loại đơn thư, nhiều vụ việc thẩm tra xác minh còn sơ sài, qua loa dẫn
đến các quyết định giải quyết thiếu thuyết phục, thiếu chính xác, không tạo được sự
đồng thuận của công dân.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho nhân dân chưa được quan tâm
đúng mức. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo gây khó khăn trong quá trình tiếp công dân.
Trụ sở tiếp công dân ở xã chưa được quan tâm đầu tư, đặc biệt là bố trí nơi tiếp
công dân ở các ấp. Có khi tới giờ làm việc mà phải tiến hành quét dọn, sắp xếp gây
phiền hà cho bà con, mất thời gian ảnh hưởng đến chất lượng buổi tiếp xúc.
Để nâng cao hiệu quả, chất lượng tiếp xúc công dân của chính quyền ở xã thì
trong thời gian tới cần thực hiện một số biện pháp cụ thể như sau:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật trong các tầng
lớp nhân dân, nhất là các chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống nhân
dân như luật đất đai, luật khiếu nại, tố cáo…gắn với đẩy mạnh làm tốt công tác hòa
giải ở các ấp, xã.
Đẩy mạnh làm tốt công tác phối hợp giữa các ban ngành, các bộ phận chuyên
môn, các đoàn thể ở xã trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, coi trọng và phát huy vai
trò của cán bộ, đảng viên và các cá nhân có uy tín trong cộng đồng dân cư cùng phối
hợp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Làm tốt công tác xử lý, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, không để tồn
động các nguồn lực phát triển KT thị trường; đồng thời tạo môi trường cạnh tranh
trong nền KT và đó là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nước. Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của cá tập đoàn kinh tế trong tổng công ty
nhà nước, tập trung vào một số ngành và lĩnh vực then chốt của nền KT. Đổi mới tổ
chức, cơ chế hoạt động của các đơn vị dịch vụ công phù hợp kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
Phát triển KT tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nồng cốt là hợp tác xã. “Tạo
điều kiện phát triển KT các trang trại ở nông thôn và hình thành hợp tác xã của chủ
trang trại”.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh KT tư nhân ở hầu hết các ngành
lĩnh vực KT theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, các trang trại, hộ SX kinh doanh; đặc biệt trong nông nghiệp, nông thôn đáp
ứng yêu cầu phát triển KT thị trường, hội nhập KT quốc tế.
Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài và các ngành Lĩnh vực KT (Nhất là
lĩnh vực công nghệ cao)phù hợp với chiến lược phát triển KT đất nước.
Thứ hai, Đẩy mạnh CNH-HDH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ
tài nguyên môi trường.
CNH, HDH nền KT quốc dân là tạo lập những tiền đề vật chất cho nền KT thị trường
định hướng XHCN phát triển.
14
Chuyển lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, công nghệ gắn với nền
KT tri thức ở các ngành các lĩnh vực trong nền KT quốc dân. Để thực hiện được cần
phát triển mạnh khoa học- công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; có chính
sách khuyến kích và hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu và đổi mới công
nghệ.
Xây dựng cơ cấu KT hợp lý, hiện đại. Cơ cấu KT xây dựng trong quá trình CNH,
HDH trên cơ sở khai thác lợi thế của các vùng miền, các ngành, các lĩnh vực; đồng
Nâng cao năng lực cạnh tranh của các nền KT. Xây dựng và phát triển lợi thế quốc
gia trong KT đối ngoại thích nghi với sự thay đổi xu hướng phát triển của nền KT thế
giới.
Tìm kiếm mở rộng các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác lớn.
15
Câu 2: Trình bày những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển ngành, lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam trong thời gian tới
Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ngành, lĩnh vực kinh tế ở
Việt Nam trong thời gian tới.
- Xây dựng tốt chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực kinh tế là điều kiện tiên quyết để
phát triển ngành, lĩnh vực hiệu quả và bền vững. Xây dựng chiến lược phát triển
ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong các thời kỳ phát triển; định vị được
điểm xuất phát cũng như điểm kết thúc giai đoạn phát triển đến năm 2020.
Đồng thời trong tư duy xây dựng chiến lược phát triển ngành phải đặt tổng thể phát
triển nền kinh tế Việt Nam với mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và bước đi cụ thể nhằm
đẩy mạnh phát triển bền vững nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế. Mỗi ngành,
lĩnh vực kinh tế phải xây dựng được chiến lược phát triển riêng, nhưng trên nền tảng
phối kết hợp giữa chiến lược phát triển ngành công nghiệp, nông nghiệp, và dịch vụ.
Đảm bảo cho những chiến lược phát triển riêng có tác dụng cùng chiều, thúc đẩy thực
hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
-Huy động và sử dụng hiểu quả các nguồn lực thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực
kinh tế. Để đẩy mạnh tăng trưởng, phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế. Để đẩy
mạnh tăng trưởng, phát triển bền vững các ngành, các lĩnh vực kinh tế nói riêng, nền
kinh tế nói chung phải huy động tổng lực và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là
các nguồn lực vật chất( tài nguyên thiên nhiên, khoa học- công nghệ, lao động và vốn
đầu tư) ở trong nước và ngoài nước.
Cần nhận thức rõ nguồn lực luôn là “khan hiếm”. Vì vậy, phải xác định rõ vị trí, vai
thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
Đồng thời thông qua phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại sẽ góp
phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh; nâng cao
năng lực cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển
bền vững nền kinh tế quốc dân.
Trong thời gian tới hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng trong cả nước. Phát triển có
trọng tâm, trọng điểm và đầu tư tập trung dứt điểm, hoàn thành những công trình kết
cấu hạ tầng then chót…
Phát triển nhanh nguồn điện thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Xây dựng các công trình xử lý chất thải rắn, nước, khí thải và công trình bảo vệ môi
trường…
Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách vĩ mô thúc đẩy phát triển bền vững ngành,
lĩnh vực kinh tế. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế theo hướng
phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới, hoàn thiện
chính sách quy hoạch, kế hoạch ; chính sách đất đai, chính sách tài chính – ngân
hàng; chính sách phát triển nguồn nhân lực; chính sách phát triển khoa học – công
nghệ; chính sách phát triển thị trường…đảm bảo cho ngành công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ phát triển năng động, hiệu quả và bền vững…
Đẩy mạnh phát triển thị trường, đảm bảo chủ động hội nhập quốc tế trong phát triển
ngành, lĩnh vực kinh tế. Thị trường chính là nhân tố đầu ra của các ngành, lĩnh vực
kinh tế. Nếu không đẩy mạnh phát triển thị trường hay các ngành công nghiệp, nông
nghiệp dịch vụ không có đầu ra thì cho dù các ngành này có phát triển sản xuất, tạo ra
sản phẩm hàng hoá với số lượng lớn, chất lượng tốt cũng không làm cho bản thân các
ngành cũng như toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng, phát triển.
Chú trọng phát triển vững chắc thị trường nội địa; xâm nhập, mở rộng và phát triển
thị trường mới; chinh phục thị trường phát triển và khó tính, đảm bảo cho các sản
phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Việt Nam có mặt ở nhiều nước, trên khắp
châu lục.
17