ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
CÔNG TÁC KIỂM KÊ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2015
MỤC LỤC ............................................................................................................ 1
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 2
1. Lý do kiểm kê................................................................................................. 2
2. Đối tượng và phạm vi kiểm kê ....................................................................... 2
a) Đối tượng kiểm kê: ..................................................................................... 2
b) Phạm vi kiểm kê ......................................................................................... 3
3. Phương pháp kiểm kê..................................................................................... 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC KIỂM KÊ DI SẢN VĂN
HÓA PHI VẬT THỂ ........................................................................................... 4
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT TỪNG LOẠI HÌNH DI SẢN VĂN
HÓA PHI VẬT THỂ ........................................................................................... 6
1. Nhận diện từng loại hình di sản văn hóa phi vật thể...................................... 6
a) Ngữ văn dân gian ........................................................................................ 6
b) Nghệ thuật trình diễn dân gian ................................................................... 8
c) Tập quán xã hội......................................................................................... 10
d) Lễ hội truyền thống................................................................................... 27
e) Nghề thủ công truyền thống...................................................................... 30
f) Tri thức dân gian ....................................................................................... 32
2. Một số di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu………………………………34
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG VÀ GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT
một cách hiệu quả hơn. Riêng đối với thành phố Đà Nẵng, vấn đề văn hóa phi
vật thể được đặt ra một cách cấp bách hơn. Là một thành phố có tốc độ phát
triển kinh tế, cũng như đô thị hóa nhanh nhất cả nước, Đà Nẵng đang phải đối
mặt với nhiều mặt trái không mong muốn của sự phát triển là những biến đổi,
tác động lớn đến diện mạo và cấu trúc của các giá trị văn hóa truyền thống.
Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể sẽ gi p các tổ chức, cá nhân
làm công tác uản lý di sản và các chủ thể văn hóa có thể nâng cao nhận thức về
di sản và tầm uan trọng của nó đối với các cá nhân và cộng đồng sở hữu, uản
lý. ên cạnh đó, có kế hoạch bảo vệ khẩn cấp đối với các di sản văn hoá phi vật
thể đang bị mất dần và lựa chọn các di sản tiêu biểu có giá trị để lập hồ sơ đề
nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật
thể cấp quốc gia.
2. Đối tượng và phạm vi kiểm kê
a) Đối tượng kiểm kê:
Đối tượng kiểm kê là những di sản văn hóa phi vật thể đang tồn tại trên
địa bàn quận Sơn Trà, bao gồm các loại hình di sản được uy định tại Thông tư
số
2 1 TT- V TTDL ngày 3 tháng năm 2 1 của ộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch. Cụ thể như sau:
- Ngữ văn dân gian;
- Nghệ thuật trình diễn dân gian;
2
- Tập quán xã hội;
- Lễ hội truyền thống;
- Nghề thủ công truyền thống;
- Tri thức dân gian.
Ưu tiên kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể đang bị mai một cần bảo vệ
khẩn cấp.
vừa có tính bản địa sâu sắc, vừa có sự tiếp thu ảnh hưởng từ bên ngoài. Loại
hình này vốn hình thành, tồn tại thông qua hình thức truyền miệng và trí nhớ của
nhân dân, nay chỉ còn rải rác trong dân gian. Cùng với uá trình đô thị hóa đã và
đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, các câu ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện dân
gian… đã bị mai một. Ngoài ra, dân cư trên từng địa bàn quận không ổn định, có
sự di cư của các bộ phận người lao động từ nơi khác đến, gây ra sự xáo trộn và
mất dần di sản văn hóa phi vật thể. Số phiếu thu được ở loại hình này chỉ có 03
phiếu.
- Về loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian
Nghệ thuật trình diễn dân gian là một trong những thành tố của di sản văn
hóa phi vật thể. Đó là hình thức hoạt động của con người thông qua âm thanh,
ngôn ngữ, diễn xướng… để chuyển tải một thông điệp nào đó đến khán giả.
Trong phạm vi kiểm kê, loại hình này thu được 02 phiếu, đó là: Hát bả trạo của
ngư dân ven biển và hát Bài chòi.
- Về loại hình tập quán xã hội
Đây là loại hình mang tính phổ biến nhất của di sản văn hóa phi vật thể
trên địa bàn quận Sơn Trà nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung, bao gồm
các luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác.
Những phong tục tập quán xã hội này vừa mang những điểm chung vừa có nét
đặc trưng riêng của vùng đất, con người nơi đây.
Trong tập quán xã hội, tập trung chủ yếu vào nghi lễ cúng tế và các phong
tục trong lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt của người dân lao động. Số phiếu
thu được ở loại hình này là 17 phiếu.
- Về loại hình lễ hội truyền thống
4
Trong đời sống tín ngưỡng và tâm linh của người Việt, đã từ lâu lễ hội
truyền thống chiếm một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt làng xã, nó biểu
hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng. Lễ hội được tổ chức định kỳ hàng
ân Thái, uận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng)
Chuyện kể rằng: Ngày xưa, vùng đất nơi đây c n rất hoang vu, dân chài
sống ven biển Sơn Trà gặp rất nhiều khó khăn trong việc đánh bắt cá trên biển.
Nhiều chuyến ra khơi của bà con ngư dân trở về tay trắng. Những con sóng dữ
luôn lật úp từng chiếc thuyền khi ra khơi. Chưa kể, mỗi năm bà con hứng chịu
hàng chục cơn bão biển càn quét vùng quê nghèo. Cuộc sống luôn diễn ra trong
sự nghèo khó, túng thiếu. Trong làng có một gia đình trẻ, chồng làm nghề chài
lưới, vợ ngày ngày lên n i đốn củi, chăm lo vườn tược. Họ sống với nhau rất
hạnh phúc, êm ấm. Thế rồi, vào một ngày cũng như thường lệ, người vợ ra bến
tiễn chồng cùng một số đàn ông trong làng lên tàu đi đánh cá. Chồng đi được vài
hôm, ở nhà, trời bỗng nhiên đổ mưa to, sấm chớp đùng đùng, những cơn gió làm
ngọn sóng tung lên cao trắng xóa. Đoán chuyện chẳng lành xảy ra với chồng,
người vợ đội mưa gió ra bến đợi chồng về. Nhưng nàng đợi ngày này qua ngày
khác mà chồng vẫn không trở lại. Trong nỗi đau khổ tột cùng khi người chồng
không bao giờ trở về, nàng đã tìm đến cái chết. Hiểu được nỗi đau khổ của nàng,
bụt đã hiện lên nói rằng sấm chớp là lẽ vô thường của cõi nhân sinh và khuyên
nàng nên bình tâm trở lại. Sau đêm gặp bụt tại bãi biển, nàng trở về nhà, thu xếp
quần áo rồi tìm đến ngôi chùa gần đó để đi tu. Có một điều lạ là, từ ngày bụt
xuất hiện trên bãi biển và nghe lại câu chuyện của người đàn bà trẻ, dân làng
liên tục được mùa cá, cuộc sống yên ấm, mưa thuận gió hòa. Biết ơn đôi vợ
chồng trẻ, người dân đặt tên bãi biển nơi nàng đứng chờ chồng là Bãi Bụt và
truyền tai nhau câu chuyện tình đẹp và thiêng liêng này.
Xung quanh khu du lịch Bãi Bụt còn có một tích khác kể lại rằng, vào thời
vua Minh Mạng, dân chài nơi đây đã phát hiện một tượng Phật trên bãi cát bèn
lập am thờ tự. Và rồi, Ngài Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn xuất hiện cứu con
người vượt kiếp trầm luân, sóng yên biển lặng, dân chài yên ổn làm ăn. Từ đó,
nơi đây có tên gọi là Bãi Bụt, hay còn gọi là Cõi Phật giữa chốn trần gian. Theo
quan niệm của người dân, “bãi” tức là bãi biển, “ ụt” tức là Phật.
Câu chuyện ẩn chứa giá trị nhân văn cao cả, đó là ngợi ca tình yêu, sự
oàng cho người đến báo rằng nàng phải trở về với Thiên đình, nếu không,
Ngọc Hoàng sẽ không để cho trần gian yên ổn. Tin đã được truyền đi nhưng chờ
mãi vẫn chưa thấy con trở về, Ngọc oàng đã thật sự nổi giận. Ngài cho sấm
chớp, bão giông, làm cho hạ giới đổ nát, điêu tàn. Lo sợ trước cơn thịnh nộ của
vua cha, nàng tâm sự với chồng “Em là tiên, chàng là người trần tục, chúng ta
không thể ở mãi bên nhau được. Em phải trở về tiên giới theo lệnh vua cha, nếu
không chàng và tất cả trần gian sẽ phải chịu nhiều tai ương”. Dù không muốn
chia xa nhưng rồi nàng cũng phải trở về với trời. Chàng đau khổ, nhớ thương vợ
không nguôi, ngày ngày ra ngồi bên tảng đá chờ đợi người vợ của mình trở lại.
Chờ mãi, chờ mãi đến khi sức tàn lực kiệt, chàng hóa thành tảng đá rất đẹp, vẫn
đứng đợi chờ mãi không thôi. Từ đó, trần gian trời yên biển lặng. Để tưởng nhớ
đến mối tình chung thủy của hai người và tạ ơn nàng tiên đã hy sinh hạnh phúc
của mình để mang lại cuộc sống thanh bình, sung t c, người ta đã lập làng, đặt
tên là Vĩnh Yên (sau này đổi thành Mân Quang), xây một am thờ bên tảng đá
gọi là Am Bà.
Chuyện tình Tiên Sa là câu chuyện tình rất đẹp và lãng mạn thể hiện tình
yêu chân thành, mộc mạc của chàng trai chài lưới với tiên nữ trên trời. Tuy rằng,
câu chuyện được sáng tạo theo tâm thức dân gian mang nhiều đường nét hư cấu
huyền ảo, phần nào thỏa mãn trí t m của người dân đối với thiên nhiên xung
uanh mình, song đó cũng chính là khát vọng về hạnh phúc lứa đôi, ước nguyện
về cuộc sống ấm no, bình yên, hạnh phúc của người dân nơi đây.
7
- S t h Miế Ông Chài (Phường
Đà Nẵng)
ân Thái, uận Sơn Trà, thành phố
Hát bả trạo là hình thức diễn xướng dân gian xuất phát từ tín ngưỡng thờ
cá ông (Đại Đức Ngư ông) của ngư dân ven biển. “ ả” là nắm chắc, “trạo” là
mái chèo. át “bả trạo” là hát vững tay chèo theo động tác chèo thuyền. Hát bả
trạo c n được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: hát chèo bả trạo, chèo cầu
ngư, chèo cạn, h rước Ông.
Hình thức diễn xướng này được tổ chức theo tục lệ hàng năm trong lễ hội
Cầu ngư, hoặc trình diễn nhân dịp đưa tang cá Ông. Đây là loại hình nghệ thuật
trình diễn dân gian mang tính nghi lễ của ngư dân ven biển.
8
- Đội hát bả trạo, gồm có:
+ Tổng mũi (tổng thuyền): Đứng trước mũi thuyền, người chỉ đường, hai
tay cầm cặp sanh để gõ chỉ huy đội hát bả trạo từ đầu đến cuối buổi diễn.
+ Tổng khoang (tổng thương): Đứng ở khoang thuyền, khi thuyền neo lại
thì canh gác, tay cầm cần câu và gàu tát nước.
+ Tổng lái (tổng hậu): Đứng cuối đuôi thuyền, hai tay nắm chèo lái để
điều khiển con thuyền đi đ ng hướng.
Trước năm 1975, trang phục của ba ông Tổng rất đơn giản, chỉ là áo dài
đen, uần trắng, chân đi tất. Hiện nay, để buổi biểu diễn trở nên sống động,
trang phục cũng mang nhiều màu sắc hơn. Ông Tổng mũi: trang phục áo dài
màu xanh, cổ tay bóp màu tím, lưng thắt dây màu tím, quần tím, đầu đội mão,
chân quấn xà cạp, đi giày vải. Ông Tổng khoang: mặc áo ngắn màu xanh nước
biển viền cổ trắng xanh, lưng thắt dây màu xanh, quần màu xanh nước biển,
chân quấn xà cạp, đi giày vải, đầu đội nón lá. Ông Tổng lái: đầu đội mão, áo dài
màu tím nhạt, viền áo màu xanh nước biển, lưng thắt dây màu xanh nước biển,
quần dài màu tím, chân quấn xà cạp, mang giày vải. Khuôn mặt của ba ông
Tổng được vẽ như trong hát Tuồng.
+ Con trạo: gồm 12 đến 1 người, tùy theo biên chế của từng địa phương.
Trước năm 1975, con trạo thường là thanh niên còn trẻ, từ 17 đến 20 tuổi, có sức
khơi, đồng thời ca ngợi sự giàu có của biển, sự đoàn kết của bạn chèo vươn tới
cuộc sống ấm no đầy đủ.
át bả trạo gắn liền với lễ Cầu ngư cũng như tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông
của ngư dân ven biển. Đây cũng là một hình thức thể hiện tín ngưỡng của cư dân
vạn chài đối với đức Ngư Ông, có tác động sâu sắc đến yếu tố an dân trong hành
nghề đi biển và niềm tin trong sự an cư lạc nghiệp của cộng đồng vạn chài.
) Tập q án x hội
- Lễ tang ma ở Sơn Trà (Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
ột lễ tang ma có đầy đủ các nghi lễ chính như: Khâm liệm, thần phục, di
uan, hạ huyệt….Các vùng Thọ uang, Nại iên Đông và n ải Tây chỉ khác
nhau về một số hình thức và uan niệm:
Khi gia đình có người mất thì phải cử người đi xem thầy để chọn giờ tốt,
ngày tốt khâm liệm, động uan, thần phục, di quan và hạ huyệt. em được ngày
giờ rồi báo với chính quyền địa phương. Chính uyền sẽ họp toàn dân làng để
phân công trách nhiệm phục vụ việc tang lễ.
Gia đình nhờ (hoặc thuê) một người chuyên liệm xác để liệm cho người
đã mất. Lúc liệm để 7 hạt gạo 7 hạt muối vào miệng (nếu người mất là đàn ông)
hoặc 9 hạt gạo 9 hạt muối (nếu người mất là đàn bà). Có l c người ta bỏ gần
người chết 50 hoặc 100 ngàn tiền thật coi như là lộ phí đi đường cho người đó.
Từ l c người đó mất đến lúc khâm liệm phải che bàn thờ tổ tiên trong nhà lại.
Sau khi triệu tổ xong mới mở và thắp hương trên bàn thờ. Sau đó, những người
đại diện làng đứng ra tổ chức lễ cúng cáo Thành hoàng làng ở đình.
Từ lúc liệm cho đến khi động uan, người ta thắp dĩa dầu dưới 4 chân
giường (dưới uan). Người chết đầu uay vào trong, chân uay ra ngoài (người
chết bất đắc kì tử thì ngược lại) lúc di quan mới uay đầu đi ra trước với quan
niệm là để người chết nhìn lại nhà và người thân. Người chết khi liệm mặc áo
trắng vải thô, cột hai cẳng chân, bụng (có cả 2 tay) lại với nhau. Bên trong quan
tài để trà, bông gòn hoặc đất ở bên trong. Bên ngoài quan, hai phần đầu đuôi
dùng ba vòng lạt dẻo cột lại và có đóng néo.
L c di uan, đập vỡ một hủ sành hoặc một tràng pháo nổ (xưa) hoặc tạt
ngày nào đó gia đình nhà trai sang nói chuyện cưới xin. Đ ng ngày, nhà trai
mang sang 1 chai rượu, 1 dĩa trầu cau bàn bạc chọn ngày, lễ vật như thế nào…
ột số nhà muốn đơn giản hoặc do điều kiện gia đình khó khăn thì có thể gộp
cả đám cưới và đám hỏi vào cùng 1 ngày. Gia đình nhà trai đưa cho cô dâu
tương lai một số tiền nhất định để mua sắm áo uần và nữ trang.
Đến ngày cưới ngoài các công việc phụ như rạp, âm nhạc, mời họ hàng,
bạn bè… thì uan trọng nhất vẫn là lễ xin dâu và rước dâu về nhà chồng. Nhà
trai cử 1 số người đến rước dâu ở nhà gái, số người đi phải chẵn và không uan
niệm 1 cặp phải là 1 nam 1 nữ, mà có thể là 2 nam hoặc 2 nữ. Những người đi
xin dâu là họ hàng thân thiết của ch rể, nhất thiết phải có cha. Nếu cha mất
hoặc bị bệnh tật không đại diện được thì ch hoặc bác hoặc ông nội, ông ngoại
của ch rể thay mặt. Người này dẫn đầu đoàn xin dâu và có trách nhiệm mở lời
xin, đồng thời giới thiệu vị trí những người đi cùng nhà gái rõ. Những người
khác không yêu cầu phải song toàn nhưng nhất thiết không bị tàn tật.
Lễ vật xin dâu gồm 5 khay, trên có phủ vải đỏ, bao gồm: trầu, rượu, bánh,
chả nem, trà. Tất cả phải đủ đôi chứ không được lẻ.
Sau khi giới thiệu 2 bên gia đình, đ ng giờ thì rước dâu. Người dân ở đây
uan niệm cô dâu mang bầu trước khi cưới thì không được đi vào nhà bằng cửa
11
chính mà bằng cửa phụ và không được thắp hương trên bàn thờ tổ tiên. a mẹ
cô dâu sẽ đến nhà trai sau khi đoàn dẫn đã rước dâu về nhà trai.
Sau khi làm lễ c ng bái gia tiên, ch c rượu mọi người, hôn lễ coi như kết
th c. a ngày sau, cô dâu cùng chồng mới cưới về lại mặt ba mẹ, lễ vật mang
theo là trầu, rượu, bánh trái. Trường hợp ở xa thì cô dâu, ch rể được miễn “lại
mặt”.
Đám cưới ngày nay thường diễn ra ở nhà hàng. ọi thứ có sẵn và thủ tục
hết sức đơn giản.. Vì vậy, lớp trẻ ngày nay, ít biết đến các nghi thức cưới hỏi
truyền thống. Đó là do sự phát triển kinh tế kéo theo sự giao lưu văn hóa làm
dân trong làng thể hiện sự đoàn kết, gắn bó, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau phát
huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông ta để lại.
- Nghi thức truyền thống lăng Âm linh Mân Thái (Làng Tân
phường ân Thái, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng).
n,
Lăng Âm linh phường ân Thái được xây dựng năm 19 3 là nơi thờ
những chiến sĩ vô danh đã hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, và những
người chết biển vô danh. Tại đây, hằng năm người dân làng Tân Thái, Cổ Mân
(xưa) và Tân n, Tân Thái, phường ân Thái (ngày nay) đều tổ chức các hoạt
động lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng biển
Sơn Trà như: Lễ cầu an nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an;
đồng thời cũng là dịp để tưởng nhớ đến những công lao của các anh hùng liệt sĩ,
các bậc tiền bối đã có công xây dựng lăng Âm linh.
Hằng năm, vào ngày 15 tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ cúng tại lăng
âm linh. Kinh phí do nhân dân đóng góp. Lễ cúng lớn hay nhỏ tùy vào kinh phí
đóng góp hằng năm.
Phần nghi lễ gồm:
- Lễ Nghinh thần: Sáng sớm ngày 15/3, những người trong ban tế lễ, đi
nghinh rước các vị thần hoàng bổn xứ về tại lăng. Gồm lễ nghinh tại bãi Bắc và
Nghê, nghinh các sở tại địa phương, nghinh à bá.
- Lễ Vọng và lễ tế chiến sỹ.
- Lễ Chánh tế: Có học trò diễn lễ, có chánh tế và bồi tế, đọc văn tế có hô,
xướng đi nhịp nhàng theo đội hình. Nhạc cổ như trống cái, chiêng (chinh), lệnh
(thanh la) của làng đã có sẵn và sẽ do người trong làng đánh. C n các loại nhạc
cụ như kèn, trống nhỏ… phải thuê ở nơi khác đến. Thời gian cúng tế khoảng 1
tiếng rưỡi. Lễ vật dâng cúng tại lăng bao gồm heo, gà, vịt, hương hoa… Lễ vật
Với ước nguyện cầu mong trời đất cho mưa thuận gió hòa, sản xuất phát
triển, hằng năm, vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, tại đình Cổ Mân, dân làng tập
trung tu bổ phần mộ, thắp hương tưởng niệm, tổ chức nghi lễ đón Tết Nguyên
đán, treo cờ, cắm phướn, dựng nêu, chọn người hiền xông đất đầu năm, chuẩn bị
lễ vật, hoa, cây trái, bánh chưng, bánh tét bày cúng trong 3 ngày Tết, tổ chức
văn hóa, vui chơi giải trí, dân làng mến mộ nhất là loại nghệ thuật tuồng, hát bội.
Ngoài ra, đến ngày 16/3 âm lịch làm lễ cầu an, 16/8 làm lễ tế thu, trùng với
lễ c ng cơm mới, đây là những kỳ lệ được tổ chức trang nghiêm tại đình làng,
thể hiện nét đẹp văn hoá truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Những năm có kinh phí, làng còn tổ chức thêm phần hội.
- Nghi thức truyền thống ình làng Mân Q ang (Làng
phường Thọ uang, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
ân
uang,
Đình làng ân uang hiện thuộc tổ 33, phường Thọ Quang, quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng. Tương truyền làng ân uang được khai phá vào nửa
cuối thế kỷ 15, do các cư dân người Việt ở vùng oan, Ái di cư vào, trong đó
những người được coi là có công đầu là các cụ Lê Phước Thọ, Trần Văn ỹ, Võ
Văn Linh, Thái Công ạ, Nguyễn Văn Thành và Đinh Vạn Khang. Cùng với
việc khai phá lập làng thì ngôi đình làng được dựng lên để thờ thần thành hoàng
và nhiều vị thần khác trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. Sau này, nhiều
vị tiền hiền, hậu hiền, những người có công với làng cũng được nhân dân địa
phương thờ tại đình làng.
Hằng năm, tại khu di tích đình làng ân uang diễn ra các hoạt động
cúng tế, lễ hội do nhân dân địa phương tổ chức, gồm:
- Cúng tại miếu Táo uân và lăng Nghề cá (tức lăng Ông) vào các ngày
12 tháng 2 và 12 tháng 7 âm lịch.
à Thân hoặc à Thân). à là một lưu dân từ phía ắc vào lập làng từ thời vua
Lê Thánh Tông lập đạo Thừa tuyên uảng Nam (năm 1 71). Năm 1 30, nhân
dân làng An Hải góp của và trích quỹ ruộng hương hỏa cho xây dựng ngôi đình
mái lợp tại địa điểm như hiện nay. Thời vua Tự Đức thứ 3 (1 77), đình được
trùng tu lần thứ nhất và cách đây hơn
năm (vào năm Giáp Thìn) sửa chữa lần
thứ hai. Đình làng được vua Tự Đức ban tặng 4 chữ lớn tại bức hoành “Thiện
Tục Khả Phong” nghĩa là nếp sống an lành đáng khen.
Tự ngàn xưa, yếu tố tâm linh của người dân Việt Nam không thể tách khỏi
cuộc sống hàng ngày trong mỗi con người. Ngôi đình làng trở thành thiết chế tín
ngưỡng văn hóa ở làng uê. ỗi làng đều dựng một ngôi đình làng để có nơi thờ
c ng, sinh hoạt văn hóa, hội họp. Từ khi xây dựng đình làng, nghi thức lễ cúng
truyền thống đình n ải đã được nhân dân duy trì và gìn giữ đến ngày hôm
nay.
Lễ chính đình n ải được tổ chức vào ngày 10/8 âm lịch, gọi là lễ tế thu
cầu an. àng năm, lễ được tổ chức dưới dạng “trung lễ”, thông lệ 3 năm tổ chức
lễ lớn một lần. Kinh phí chủ yếu do nhân dân đóng góp, chính uyền chỉ hỗ trợ
về mặt an ninh, trật tự.
15
Trước lễ chính 1 ngày, các chư phái tộc trong làng họp lại để thảo luận,
phân công nhiệm vụ. Vào ngày 9/8 âm lịch, nhân dân đã tụ tập tại đình để dọn
dẹp, trang trí chuẩn bị cho lễ chính. Tối ngày 9/8, tổ chức lễ Vọng ngoài sân
đình.
Khoảng 8h ngày 10/8 âm lịch, lễ tế chính thức được diễn ra với các nghi
lễ đ ng theo các nghi thức cổ truyền của dân tộc. Trong lễ chính có nhạc bát âm,
đọc văn tế với nội dung cầu mong mưa thuận gió hòa, nhân dân ấm no, hạnh
phúc. Ban nghi lễ gồm có 1 vị chủ bái, 2 vị bồi bái, 1 vị tư lễ, 1 vị xướng lễ và
12 học trò gia lễ. Trang phục của ban nghi lễ đình làng gồm:
16
Lễ cầu ngư là một tập uán có ý nghĩa. Từ bao đời nay, ngư dân vùng n
Hải Tây vẫn giữ và lưu truyền nó với mục đích truyền tải ước vọng tâm linh.
Nhưng hiện nay, với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, lực lượng ngư dân
làm biển đã giảm đi rất nhiều. Theo thống kê của phường, số lượng tàu cá kể cả
lớn nhỏ chỉ còn lại khoảng 40 thuyền. Đây chính là nguyên nhân chính làm cho
lễ cầu ngư truyền thống không còn sức sống trong cộng đồng.
- Lễ tang cá Ông của ngư dân i biển (Phường Mân Thái, Thọ Quang,
Nại iên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, người dân sinh sống chủ yếu bằng
nghề đánh bắt thủy, hải sản. Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề
biển. Ngoài ra, số còn lại làm các dịch vụ liên uan đến nghề biển như: cung cấp
lưới, làm các công cụ đánh bắt, buôn bán tôm cá…Ngư dân đánh bắt trong
khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch và tấp nập nhất là từ tháng 4
đến tháng 6 âm lịch.
Cộng đồng ngư dân uan niệm cá voi như là thần biển rất linh thiêng và
gọi một cách tôn kính là cá Ông, cá Ông Voi hay Ngài Ngư, Đức Ngư Ông.
Theo quan niệm của họ thì Đức Ngư Ông luôn theo sát người dân đi biển, trong
l c bão gió ngoài khơi để cứu vớt người dân. Và họ tin rằng cá Ông (cá voi)
chính là sự hiển linh của thần biển có mặt ở biển khơi và xuất hiện khi có bão tố
để cứu độ dân chài. Vì thế, dân chài quận Sơn Trà rất tôn sùng cá Ông, coi cá
Ông như là ph c thần của dân chài. Khi đi biển gặp cá voi, họ coi đó là điềm
lành báo hiệu ngày đó đi biển đánh bắt sẽ được nhiều. Đang giăng lưới đánh bắt
ở ngoài khơi, nếu gặp cá voi họ thu lưới tránh đường cho ngài đi, với niềm tin và
nghiệm thấy làm vậy hôm đó đánh bắt được nhiều rõ rệt.
Gặp cá Ông lụy (cá voi chết) ngư dân ở đây coi đó là điềm lành, chẳng
những đối với người nhìn thấy đầu tiên, mà c n đối với cả vạn chài, cả làng, cả
xã, không những năm ấy mà còn nhiều năm sau nữa dân chài trong vùng vẫn
nghe tin nơi nào có cá Ông “lụy” vào, dù xa xôi đến đâu cũng mang hương hoa
đến để cúng tế Ngài.
- Ngày thứ ba: Tổ chức đám tang, hát m a bả trạo bản “Đưa Ngư Ông”.
Nếu Ông lớn thì chôn tại bãi biển, còn Ông nhỏ thì đan rọ bằng tre, dưới rải
vàng bạc, áo giấy, đặt cá Ông vào, phía trên phủ vải điều đỏ đem về chôn tại
lăng Ông (thường là phía sau lăng). Trên đường đi, có đầy đủ cờ xí và chiêng
trống linh đình, bát hương đặt trên bàn thờ cũng được thỉnh về an vị tại lăng
Ông. Huyệt mộ cá Ông được đào rộng hẹp tùy theo kích thức của Ông, có thể
dài tới 20 – 30 mét và rộng chừng 5 mét. Trên mộ đặt một bàn thờ nhỏ bằng gỗ
trên có bày đồ thờ như bát hương, bình hoa, chén…
Sau ba ngày tổ chức đám tang, tiến hành lễ mở cửa mã. Sau đó, ngư dân
tiến hành cúng tuần 7 ngày, 21 ngày, 9 ngày, 1 ngày. Đ ng 1 ngày thì làm
lễ dỡ bỏ tang phục cho vị trưởng nam thân chủ. Đủ ba năm tiến hành lễ cải táng,
ngư dân đào mộ cá Ông lên, rốc thịt lấy xương, dùng nước lạnh, sau đó là rượu
trắng rửa sạch, xếp thứ tự vào và đưa vào để trong khám của lăng. Đến lúc này,
người “được Ông” coi như mãn tang (trong thời gian phục tang, người này
không phải kiêng kị gì cả).
àng năm, vào ngày phát hiện cá Ông lụy, ngư dân đều tổ chức ngày kỵ
Ông.
Nghi thức tang cá Ông vừa bày tỏ lòng biết ơn đối với đức Ngư Ông linh
thiêng, vừa hàm chứa niềm ước vọng của những người làm nghề sông nước,
mong một mùa bội thu tôm, cá. Đây cũng là dịp thể hiện tính gắn kết cộng đồng,
cùng nhau hợp sức chống chọi với thiên nhiên, xây dựng tình làng nghĩa xóm,
gi p đỡ nhau l c khó khăn, hoạn nạn.
- Lễ tống ôn của ngư dân i biển (Phường Mân Thái, Thọ Quang, Nại
iên Đông, uận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
18
Đây là một nghi lễ nằm trong diễn trình lễ tế Âm linh của hầu hết các làng
đến 80cm. Tiếng chiêng lại vang lên, lễ
tống ôn bắt đầu. Trước khi tống tiễn, Long chu được khai khoang điểm nhãn và
tẩy uế. ưa kia, người làm việc này là thầy pháp, c n ngày nay phổ biến ở các
làng là ông chủ tế của làng thực hiện.
Sau đó, bè Long Chu được 04 thanh niên khỏe mạnh khiêng ra biển.
Trong đoàn c n có đuốc lửa, trống chiêng, cờ xí, và đông đảo bà con trong làng
tham dự. Vào thời điểm tống Long Chu, mọi nhà không mở cửa, không chạy ra
đường. Nếu làm trái, ma uỷ sẽ uay trở lại tìm nơi tr ngụ, uậy phá làng vạn.
Đến biển, đám người khiêng Long Chu chạy ào xuống, trên bờ, chiêng đánh liên
hồi kỳ trận. ọ thực sự an tâm, phấn chấn khi thấy Long Chu trôi nhanh ra biển.
ởi sự kiện này đồng nghĩa với những điềm lành trong năm. Năm nào mà Long
19
Chu không trôi nhanh, bị nghiêng ngả, nhất là bị lật úp xuống biển thì báo hiệu
điều xấu, không may sẽ đến với làng. Lễ tống ôn đến đây coi như là hoàn tất.
ục đích lễ tống ôn là để tống tiễn xua đuổi ôn hoàng dịch lệ, đồng thời
để đặt nguyện vọng của cộng đồng dân biển được các thần linh và các vị đã
khuất phù hộ để có cuộc sống bình an.
- Một số nghi lễ liên q an ến công c và phương tiện i biển (Quận
Sơn Trà, Đà Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, nhân dân chủ yếu mưu sinh bằng
nghề đánh bắt hải sản. Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề biển.
Ngoài ra, số còn lại làm các dịch vụ như: cung cấp chài lưới, làm các công cụ
đánh bắt, buôn bán tôm cá... Ngư dân đánh bắt trong khoảng thời gian từ tháng 3
đến tháng 8 âm lịch và tấp nập nhất là từ tháng đến tháng 6 âm lịch.
Do cuộc sống phụ thuộc vào biển cả, vì vậy người dân ven biển Đà Nẵng
luôn có ước nguyện làm cho biển cả trở nên hiền hòa hơn, con thuyền và những
vật dụng đánh bắt khác trở nên mạnh mẽ và hữu hiệu trong uá trình tiến ra
biển.
- Sau một mùa đánh bắt trên ngư trường, các công cụ và phương tiện đi
biển đem về thường được cất ở trên cao, những nơi khô ráo. Trước khi tiến hành
lấy các công cụ để chuẩn bị cho một mùa đánh bắt mới, ngư dân phải làm lễ
cúng tại nhà để cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, sau đó mới được mang các
công cụ, phương tiện đi biển xuống thuyền.
Các nghi lễ liên uan đến công cụ và phương tiện đi biển có ý nghĩa rất
lớn trong đời sống tâm linh của cộng đồng ngư dân, có tác động sâu sắc đến yếu
tố an dân trong hành nghề trên biển và niềm tin sự an cư lạc nghiệp trong cộng
đồng vạn chài.
- Nghi lễ truyền thống ình Nại Hiên (Phường Nại
Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng)
iên Đông, uận
Đình Nại iên được xây dựng bằng mái lá đơn sơ vào năm 1 57. Năm
1945 - 195 , đình là nơi hội tụ của lực lượng vũ trang Khu Đông Đà Nẵng, nơi
giữ hòm thư mật để chuyển tài liệu cách mạng ra các tàu đậu ở vịnh Đà Nẵng.
Năm 19 7, giặc Pháp đốt cháy, phá nát toàn bộ ngôi đình. Năm 195 ngôi đình
được xây dựng lại tranh tre, năm 1957 đình được xây dựng kiên cố bằng gạch
ngói, xi măng. Đến năm 199 , nhân dân đóng góp tiền của, công sức trùng tu lại
đình.
Nghi lễ đình Nại Hiên bắt đầu từ khi có đình làng và vẫn tiếp tục được
nhân dân duy trì và gìn giữ đến ngày hôm nay. Một năm, đình Nại Hiên có 02
ngày cúng chính, gồm có: Lễ cầu an ngày 12/2 ÂL, lễ tế Âm linh ngày 12/7 ÂL.
- Lễ cầu an diễn ra tại đình Nại iên, do điều kiện kinh phí nên chỉ tổ
chức dưới dạng “tiểu lễ”. an tổ chức nghi lễ họp nhân dân trước 2 ngày để
phân công nhiệm vụ, vận động kinh phí. Lễ vật cúng gồm có: gà, trái cây, đặc
biệt có con heo sống chưa ua chế biến (chưa nấu chín), c n được gọi là “uế
mao huyết” (hiện nay chỉ duy nhất nghi lễ truyền thống đình Nại Hiên là còn lễ
vật c ng đặc biệt này). Lễ có đầy đủ các nghi thức truyền thống: dâng rượu,
xây dựng nên làng Mỹ Khê. Các tộc họ có công khai phá đất đai lập làng ỹ
Khê gồm có: tộc Đàm (ông Đàm Văn Độn có công khai phá nên vùng đất Mỹ
Khê), và trở thành tiền hiền của làng, về sau c n các tộc Nguyễn, ồ, uỳnh,
Đinh, Trần Lê, Dương, Ngô... là hậu hiền của làng.
Lễ cầu an, cầu ngư đình ỹ Khê được tổ chức vào ngày 24/01 ÂL, tùy
thuộc vào kinh phí đóng góp của người dân mà tổ chức dưới dạng “tiểu lễ”,
“trung lễ”, “đại lễ”. Nghi thức lễ được diễn ra theo trình tự sau:
- Lễ vọng: Khoảng 5h tại sân đình, ban nghi lễ tổ chức lễ Vọng để mời
các vị tiền hiền, hậu hiền về tham dự lễ cùng với người dân.
- Lễ rước văn: h tổ chức rước văn từ lăng à về đình làng để chuẩn bị
cho lễ chính. Tham gia đoàn rước có ban nghi lễ, kiệu rước làm bằng tre được
04 thanh niên trong làng khiêng, ban nhạc cổ.
- Lễ chánh: Sau khi đón tiếp đại biểu và nhân dân về tham dự, lễ tế chính
được bắt đầu khoảng 8h. Ban thực hiện nghi lễ gồm có: 01 vị chủ bái, 02 vị tả
hữu văn hiến, vị xướng lễ. Nếu tổ chức lễ lớn thì có thêm đội học trò gia lễ. Lễ
vật cúng chủ yếu là gà, thịt heo, cá, trái cây… đều do người dân tự chế biến. Lễ
có đầy đủ các nghi thức truyền thống: dâng trà, dâng rượu, đọc văn tế. Nội dung
văn tế là ca ngợi công đức của các vị tiền, hậu hiền, cầu mong một năm mưa
thuận gió h a, nhân dân làm ăn phát đạt.
Đối với làng Mỹ Khê, ban nghi lễ được bầu 5 năm 1 lần, 01 vị chủ bái
được bầu phải là người có chữ tín trong làng, gia đình song toàn, không có tang.
Ngoài ra, đình c n có các ngày lễ truyền thống khác: lễ kỵ yên ngày 16/6
ÂL, tất niên ngày 25/12 ÂL.
22
Đình là nơi nhân dân tổ chức các hoạt động tín ngưỡng của nhân dân Mỹ
Khê. Trong suốt những năm chiến tranh, do điều kiện kinh tế khó khăn, người
dân chỉ thắp hương vào ngày lễ. Sau chiến tranh, nhân dân đã khôi phục lại lễ
cầu an và duy trì, phát triển đến ngày hôm nay.
làng Mỹ Khê mới tiến vào đình để thực hiện nghi lễ cầu an tại đình.
Ban nghi lễ cầu ngư là những ngư dân c n hành nghề biển, đều là những
người lớn tuổi, có đạo đức, được nhân dân tin tưởng và trọng dụng. Những vị
trong ban nghi lễ sẽ giữ chức vụ đến khi tuổi cao không đảm nhiệm được nữa thì
mới bầu một vị mới lên thay.
- Kiêng kị khi i biển của ngư dân q ận Sơn Trà (Quận Sơn Trà, Đà
Nẵng)
Quận Sơn Trà là địa phương ven biển, người dân sinh sống chủ yếu bằng
nghề đánh bắt thủy, hải sản. Cả quận có hơn % dân số trực tiếp sống về nghề
23