Lời nói đầu
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1996 đã tạo ra một bước ngoặt to lớn trong
nền kinh tế của đất nước. Đó là chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Đảng xác định chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng XHCN nhằm đưa nước ta từ một nước công nghiệp lạc hậu sang
một nước công nghiệp phát triển. Nhờ đó, sức lao động sẽ được giải phóng, năng
suất lao động sẽ được tăng lên. Đời sống của nhân dân được cải thiện, đất nước
ngày càng vững mạnh, phồn vinh, tiến tới trở thành một cường quốc trên thế giới.
Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục xây dựng và phát triển nền kinh tế theo
đường lối đổi mới của Đảng. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường đó, mỗi người kinh doanh và mỗi tổ chức kinh doanh
đều có quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật. Mỗi người kinh
doanh và mỗi tổ chức kinh doanh là một đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập, có
quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh của mình. Để quyền này được thực hiện một cách tự giác, đầy đủ và phát
huy giá trị đích thực của nó đòi hỏi phải có những tiền đề, điều kiện về chính trị,
kinh tế, và pháp luật. Pháp luật đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành và bảo
đảm quyền tự do kinh doanh. Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày
12/06/1999, có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 đã thực sự là bước tiến cho việc thực
hiện quyền tự do kinh doanh ở nước ta.
Với quyền tự do kinh doanh của mình, mỗi cá nhân kinh doanh, tổ chức
kinh doanh với tư cách là chủ thể độc lập của nền kinh tế, dù muốn hay không, họ
đều phải tự mình thiết lập các quan hệ kinh tế với các cá nhân kinh doanh và tổ
chức kinh doanh khác. Các quan hệ này được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận
giữa các bên mà hình thức pháp lý của chúng là hợp đồng. Nền kinh tế thị trường
là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường,
hợp đồng là công cụ không thể thiếu được của nhà kinh doanh để họ thực hiện
trao đổi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể
kinh doanh nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, theo pháp luật Việt Nam
không thể trì hoãn nếu như muốn thực hiện địa vị hợp pháp, tính nhân văn trong
quá trình thực hiện quyền thống trị của mình. Vì vậy, bản thân quyền tự do, trong
đó có quyền tự do kinh doanh của con người tồn tại như một nhu cầu phát triển
của xã hội, là tài sản chung của xã hội loài người. Từ sự khái quát chung nhất về
giá trị quyền tự do kinh doanh của con người, cho phép chúng ta tìm hiểu quyền
tự do kinh doanh-quyền tự do trong lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội.
Theo Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do kinh
doanh theo quy định của pháp luật.". Như vậy, khi bàn về quyền tự do kinh
doanh, trước hết phải thấy rằng đó là một phạm trù pháp lý. Dưới góc độ này,
quyền tự do kinh doanh được xem xét dưới hai khía cạnh :
+Trước hết, quyền tự do kinh doanh là quyền chủ thể, tức là quyền của một
cá nhân (hay pháp nhân) trong việc lựa chọn các lĩnh vực của đời sống kinh tế để
đầu tư tiền vốn, sức lao động, máy móc, thiết bị… tiến hành các hoạt động sản
xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Ở khía cạnh này, các
quyền tự do kinh doanh bao hàm một loạt các hành vi mà các chủ thể được phép
3
tiến hành như : Lựa chọn ngành nghề kinh doanh, lựa chọn hình thức kinh doanh,
quy mô kinh doanh, lựa chọn khách hàng…
+Mặt khác, quyền tự do kinh doanh còn được hiểu là tổng hợp toàn bộ các
quy định và đảm bảo pháp lý mà Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các
cá nhân (hay pháp nhân) thực hiện quyền chủ thể nói trên. Ở góc độ này thì quyền
tự do kinh doanh bao hàm các hành vi mà cá nhân (hay pháp nhân) được phép
thực hiện, những ưu đãi mà họ được hưởng. Xét ở góc độ kia, nó bao hàm các
hành vi của các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước khi thực hiện chức năng
quản lý của mình. Hai khía cạnh này là một thể thống nhất trong quyền tự do kinh
doanh của chủ thể mà không đảm bảo cho nó những điều kiện để thực hiện thì
quyền tự do kinh doanh chỉ mang tính hình thức, chẳng đem lại ý nghĩa thiết thực
thuận tiện của vốn đầu tư;
+Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền;
+Bảo đảm việc giải quyết phá sản, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ kinh doanh một cách nhanh chóng, thuận tiện, việc thi hành các bản án, quyết
định một cách hữu hiệu;
+Bảo đảm những điều kiện, thủ tục thuận lợi trong kinh doanh như : cấp
giấy phép thành lập, đăng ký kinh doanh …;
+Trách nhiệm pháp lý của các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà nước;
+Chính sách thuế, tín dụng, chính sách xuất khẩu, nhập khẩu..
Quyền tự do kinh doanh có nội dung rất rộng, bao hàm hệ thống các quyền
tự do cơ bản sau :
+Quyền tự do sở hữu;
+Quyền tự do lựa chọn ngành nghề, địa điểm, quy mô và hình thức kinh
doanh;
+Quyền tự do thành lập doanh nghiệp;
+Quyền tự do trong lĩnh vực của hoạt động sản xuất, kinh doanh;
+Quyền tự do hợp tác kinh tế;
+Quyền tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh;
+Quyền bình đẳng trong kinh doanh.
Các quyền tự do trên có mối liên hệ hữu cơ thành một thể thống nhất trong
nội dung của quyền tự do kinh doanh.
5
Như vậy, nếu căn cứ vào nội dung cơ bản của quyền tự do kinh doanh, nếu
nhìn vào hệ thống những quy định hiện hành trong pháp luật kinh tế nước ta thì
về cơ bản, những nội dung trên đã được pháp luật ghi nhận tương đối nhất quán.
Do vậy, trọng tâm công tác thể chế hoá quyền tự do kinh doanh trong thời gian
6
bảo cho quyền tự do kinh doanh được thực hiện và phát triển. Trình độ phát triển
kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất mang tính quyết định đối với việc thực
hiện hoá và mở rộng quyền tự do kinh doanh. Cùng với sự phát triển cao của kinh
tế, khoa học kỹ thuật, con người càng có điều kiện để phát triển quyền tự do kinh
doanh toàn diện.
Trình độ phát triển, những điều kiện sinh hoạt vật chất mang tính quyết
định đối với việc thực hiện hoá và mở rộng quyền tự do kinh doanh. Cùng với sự
phát triển cao của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật, con người càng có điều kiện để
phát triển tự do kinh doanh toàn diện.
Trình độ phát triển kinh tế thể hiện ở sự phát triển của lực lượng sản xuất
và theo đó là quan hệ sản xuất phù hợp. Mức sống của nhân dân ngày càng cao,
nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn thì càng kích thích sự phát triển của nền sản xuất
kinh doanh.
Thực tế cho thấy, ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đã
nảy sinh nhu cầu lớn hơn về quyền tự do kinh doanh. Nền kinh tế thị trường là
giai đoạn phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Do tác động của quy luật kinh
tế thị trường như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… mà sự hình thành tự do
kinh doanh là tất yếu. Do vậy, có thể nói khái niệm quyền tự do kinh doanh luôn
gắn liền với nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ, về bản chất, cơ chế thị trường là cơ chế
tự do với những đặc trưng cơ bản như:
-Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với hình thức sở hữu đa dạng;
-Tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh đều được tiền
tệ hoá;
-Các vấn đề liên quan đến việc phân bố, sử dụng các nguồn lực như: vốn,
lao động, tài nguyên… về cơ bản được quyết định một cách khách quan thông
qua hoạt động của các quy luật kinh tế: Cung cầu, giá trị, cạnh tranh;
-Động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là lợi ích, được
II. Những khái niệm cơ bản.
Trước khi tìm hiểu về quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, chúng ta hãy
làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan đến quyền tự do kinh doanh.
1. Khái niệm kinh doanh.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật doanh nghiệp :"Kinh doanh là việc thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi."
Ở đây, đầu tư và thu lợi phải có cùng nội dung là tài sản. Những gì người
đầu tư đầu tư vào kinh doanh phải là tài sản. Và lợi nhuận thu được từ quá trình
đầu tư cũng phải là tài sản.
8
Kinh doanh có 2 đặc trưng đó là: Hoạt động chủ yếu của các đơn vị kinh
doanh và hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế.
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trước đây, Nhà nước tiến hành cả
hai hoạt động này, và hai hoạt động này đã bị lẫn lộn với nhau. Nhà nước lập kế
hoạch ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Nhà nước dùng quyền lực của mình để điều hành
cả những hoạt động chung và những hoạt cụ thể. Do đó, các doanh nghiệp đã ở
vào trạng thái bị động. Nhà nước điều hành nền kinh tế theo cơ chế mệnh lệnh.
Do đó, nền kinh tế cơ sở bị gò bó, giữa lưu thông, sản xuất và tiêu dùng không có
sự gắn bó, liên kết.
Ngày nay, đất nước ta đã đổi mới, hai hoạt động này đã được tách bạch. Cơ
quan Nhà nước chỉ tập trung quản lý ở tầm vĩ mô. Hoạt động quản lý kinh tế của
Nhà nước thuộc về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước như : Chính phủ, Bộ,
Uỷ ban nhân dân…là các chủ thể mang quyền lực Nhà nước.
2. Khái niệm đơn vị kinh doanh .
Đơn vị kinh doanh là những cá nhân, tổ chức được thành lập để trực tiếp và
chủ yếu thực hiện các hoạt động kinh doanh. Họ là những người tham gia vào
Một là: Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau:
-Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập,
đăng ký hoặc công nhận;
-Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
-Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng
tài sản đó;
-Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Để xác định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hay không ta dựa vào một
trong các văn bản sau:
-Giấy phép đăng ký kinh doanh;
-Văn bản pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp đó;
10
-Giấy chứng chỉ thành lập doanh nghiệp đó.
Hai là: Doanh nghiệp có tư cách thể nhân hay còn gọi là doanh nghiệp
không có tư cách pháp nhân : Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh.
Tiêu chí thứ ba: Phân loại theo giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ
tài sản phát sinh trong kinh doanh bằng phần tài sản thuộc sở hữu của doanh
nghiệp.Tài sản này là tài sản do các thành viên góp vốn.
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản phát sinh trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hợp pháp
của người chủ sở hữu doanh nghiệp. Tài sản này bao gồm : tài sản được đưa vào
đăng ký kinh doanh và toàn bộ tài sản không đưa vào kinh doanh của chủ doanh
nghiệp.
III. Quyền tự do kinh doanh trước và sau khi có Luật doanh
hoá, hiện đại hoá và tăng cường quản lý Nhà nước về kinh tế. Luật doanh nghiệp
ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt, một bước phát triển mới trong việc thực hiện
quyền tự do kinh doanh tại Việt Nam. Dưới đây sẽ là một số vấn đề biệu hiện
quyền tự do kinh doanh trong thành lập doanh nghiệp đuợc ghi nhận trong Luật
doanh nghiệp ở Việt Nam .
1.Quyền sở hữu tài sản, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tồn
tại lâu dài của "sự nghiệp" kinh doanh.
Đây thực sự là những vấn đề mấu chốt có tính nền tảng cho sự hình thành
nền tự do kinh doanh. Bởi lẽ tự nhiên rằng không ai có thể bỏ vốn ra đầu tư thành
lập doanh nghiệp nếu quyền sở hữu của họ không được bảo vệ một cách vững
chắc. Chỉ khi quyền sở hữu tài sản được bảo đảm thì người ta mới có thể đưa tài
sản đó vào các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh và không ai có thể mua
bán, góp vốn, liên doanh, liên kết… nếu không sở hữu một số tư liệu sản xuất,
hàng hoá hay các giá trị nhất định. Đồng thời với việc bảo đảm quyền sở hữu,
Nhà nước phải thừa nhận sự tồn tại lâu dài, bền vững và phát triển đối với "sự
nghiệp" kinh doanh cho các nhà đầu tư. Nếu điều kiện này không được bảo đảm
thì chắc chắn không ai dám mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh trong những lĩnh vực
ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Những yếu tố quan trọng này đã được
quy định tại Điều 4 Luật công ty ngày12/12/1990: Nhà nước công nhận sự tồn tại
lâu dài và phát triển của công ty, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của công
ty với các doanh nghiệp khác với tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.
Và tại Điều 3 Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990: Nhà nước công
nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thừa nhận sự bình
đẳng trước pháp luật của doanh nghiệp tư nhân với các doanh nghiệp khác với
tính sinh lợi hợp pháp của việc kinh doanh.
Sau này,các quyền này được thể hiện rõ ràng hơn trong Luật doanh nghiệp
ngày 12/06/1999. Bên cạnh việc công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các
12
pháp định do chính phủ quy định (vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để
thành lập công ty do pháp luật quy định đối với từng ngành, nghề).
13
Phần vốn bằng hiện vật hoặc bản quyền sở hữu công nghiệp của các thành
viên góp vốn phải được đại hội đồng thành lập xem xét, chấp nhận, định giá và
ghi vào điều lệ công ty. Và phần vốn góp này phải được nộp đủ ngay khi công ty
chính thức thành lập.
Theo Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990 quy định thì hình thức
tài sản đưa vào kinh doanh của nhà đầu tư có thể là: tiền Việt Nam, ngoại tệ,
vàng, tài sản bằng hiện vật. Số vốn mà chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra để thành
lập doanh nghiệp gọi là vốn đầu tư ban đầu và do chủ doanh nghiệp tự khai.
Nhưng vốn đầu tư ban đầu phải phù hợp với quy mô ngành, nghề kinh doanh và
không được thấp hơn vốn pháp định do chính phủ quy định.
Nếu vốn đầu tư ban đầu là tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc vàng thì phải gửi ở
ngân hàng nơi chủ doanh nghiệp mở tài khoản và được ngân hàng chứng nhận.
Nếu vốn là tài sản bằng hiện vật thì phải có chứng nhận của cơ quan công chứng.
Vốn đầu tư ban đầu và tài sản khác mà chủ doanh nghiệp tư nhân sử dụng
vào việc kinh doanh phải được ghi chép vào sổ sách kế toán.
Điều 1 Nghị định của Chính phủ số 26/1998/NĐ-CP ngày 07/05/1998 về
việc điều chỉnh mức vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần quy định mức vốn pháp định áp dụng cho việc
thành lập doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn như sau:
Lĩnh vực, ngành
nghề hoạt động
-Nông, Lâm,
800
14
Đối với những cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định
thì phải kinh doanh theo Nghị định 66-HĐBT ngày 02/03/1992 của Hội đồng bộ
trưởng về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định trong
Nghị định số 221-HĐBT ngày 23/07/1991 của Hội đồng bộ trưởng ban hành quy
định về cụ thể hoá một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990.
Song trên thực tế với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các quy định
trên đã trở nên lỗi thời và gây rất nhiều trở ngại cho các nhà đầu tư.Với việc hợp
nhất Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ngày 12/12/1990, Luật doanh
nghiệp ngày 12/06/1999 có những quy định mới thông thoáng hơn trong điều kiện
về tài sản đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư.
Theo Luật doanh nghiệp ngày 12/06/1999 quy định:
Tài sản của doanh nghiệp có thể là tài sản hữu hình hay vô hình. Hình thức
của tài sản tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công
nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ doanh nghiệp. Trừ tiền
mặt (tiền Việt Nam và ngoại tệ tự do chuyển đổi) và vàng, các hình thức tài sản
khác phải được định giá theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nếu như trước đây pháp luật chỉ quan tâm nhiều đến các tài sản hữu hình
và chỉ quy định có quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình được phép coi là
tài sản hợp lệ để đầu tư, thì nay : giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ,
bí quyết kỹ thuật cũng được coi là các tài sản được đầu tư vào kinh doanh. Sự mở
rộng hơn này là do sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Nền kinh tế phát triển
đã đòi hỏi pháp luật phải quy định thêm các hình thức của tài sản để các nhà đầu
tư có quyền tự do hơn trong việc góp vốn vào thành lập doanh nghiệp.
không quy định về việc chuyển quyền sở hữu tài sản thì tại Điều 22 Luật doanh
nghiệp ngày 12/06/1999 đã quy định khá rõ về vấn đề này:
"1. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, người cam kết
góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh
phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây :
a. Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất, thì người góp
vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho
công ty tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
b. Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, Việc góp vốn phải được
thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác định bằng biên bản.
c. Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng các tài sản không phải là tiền Việt
Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền
sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
16
2. Tài sản sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp."
Những quy định trên đã giúp cho việc quản lý tài sản của Nhà nước được
chặt chẽ, Nhà nước bảo đảm cho việc chịu trách nhiệm bằng tài sản của các
doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Và chính điều này đã giúp cho các
doanh nghiệp yên tâm hơn khi thực hiện các hoạt động kinh doanh với các doanh
nghiệp khác.
Đồng thời, việc Luật doanh nghiệp bỏ quy định về vốn pháp định (trừ một
số ngành nghề đặc biệt) đã đem lại những động thái tích cực, tạo ra thủ tục đơn
giản trong việc thành lập doanh nghiệp. Các cá nhân trước đây kinh doanh theo
Nghị định 66-HĐBT ngày 02/03/1992 của Hội đồng bộ trưởng về cá nhân và
nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định quy định trong Nghị định 221HĐBT ngày 23/07/1991 của Hội đồng bộ trưởng ban hành quy định về cụ thể hoá
một số điều trong Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990 đến nay phần lớn
kiện. Còn lại, nhà kinh doanh có toàn quyền tự do lựa chọn những ngành, nghề
kinh doanh mà mình mong muốn. Có thể nói đây là điểm tiến bộ trong kỹ thuật
lập pháp ở nước ta bởi vì chúng ta đang hướng tới "nhà kinh doanh có quyền làm
bất cứ cái gì mà pháp luật không cấm". Nhưng nếu họ lựa chọn kinh doanh vào
những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì họ phải đảm bảo đủ điều những
điều kiện do pháp luật quy định.
Theo Điều 5 Luật doanh nghiệp tư nhân và Điều 11 Luật công ty ngày
12/12/1990 thì:
Ngoài một số ngành, nghề mà pháp luật cấm kinh doanh, việc thành lập
công ty, doanh nghiệp tư nhân trong các ngành, nghề dưới đây phải được Thủ
tướng Chính phủ cho phép :
1.
2.
3.
4.
Sản xuất và lưu thông thuốc nổ, thuốc độc, hoá chất độc;
Khai thác các loại khoáng sản quý;
Sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn;
Sản xuất các phương tiện truyền tin, dịch vụ bưu chính viễn thông,
truyền thanh, truyền hình, xuất bản;
5. Vận tải viễn dương và vận tải hàng không;
6. Chuyên kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, du lịch quốc tế.
Những vấn đề trên còn được cụ thể hoá tại Nghị định 221-HĐBT như:
Công ty, doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề dưới đây phải
tuân thủ đầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành và Uỷ ban nhân dân Tỉnh
quy định :
1. Các ngành, nghề do các Bộ quy định các điều kiện cụ thể :
-
phép như trên phải gửi hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp đến Chủ tịch
UBND tỉnh hoặc thành phố trực thuộc TW. Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, có ý
kiến và gửi hồ sơ lên Bộ quản lý ngành. Bộ quản lý ngành xem xét, có ý kiến,
trình Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định và thông báo cho
Chủ tịch UBND tỉnh. Căn cứ vào quyết định đó, UBND cấp hay không cấp giấy
phép thành lập doanh nghiệp cho đương sự.
Những trường hợp sau đây, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Chủ tịch
uỷ ban nhân dân Tỉnh xem xét, quyết định cấp hoặc không cấp giấy phép thành
lập doanh nghiệp tư nhân, công ty sau khi có ý kiến của Bộ quản lý ngành :
-Một số lĩnh vực thuộc ngành khai khoáng;
-Sản xuất phân hoá học và sản xuất các loại pháo;
-Sản xuất và cung ứng điện;
-Dịch vụ cho truyền thanh, truyền hình trong phạm vi địa phương;
19
-Sau khi cấp giấy phép thành lập cho công ty, doanh nghiệp tư nhân trong
các trường hợp nói trên, Chủ tịch uỷ ban nhân dân Tỉnh phải báo cáo Thủ tướng
Chính Phủ và Bộ quản lý ngành.
Tuy nhiên, những quy định trên chỉ mang tính hình thức,làm mất rất nhiều
thời gian và gây khó khăn cho các nhà đầu tư.Luât doanh nghiệp ngày 12/06/1999
đã khắc phục được những vấn đề này. Luật doanh nghiệp và Nghị định của Chính
phủ số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật doanh nghiệp quy định:
Thứ nhất: Cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại đến quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức,
thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân.
Danh mục các ngành, nghề cấm kinh doanh bao gồm:
-Kinh doanh vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ
thông báo và hướng dẫn cho người thành lập doanh nghiệp về điều kiện kinh
doanh các ngành, nghề đó.
Đối với ngành, nghề kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh, thì doanh
nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đó, kể từ khi được cấp giấy phép
kinh doanh.
Đối với ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện kinh doanh không cần
giấy phép, thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đó từ khi có đủ
các điều kiện kinh doanh theo quy định và cam kết thực hiện đúng các điều kiện
đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.
Thứ ba: Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật,
pháp lệnh hoặc Nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành
nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng
chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc
hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề
nghiệp về một ngành, nghề nhất định. Chứng chỉ hành nghề chỉ cấp cho cá nhân,
các chứng chỉ hành nghề đã cấp cho tổ chức đều hết hiệu lực.
Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề bao gồm:
-Kinh doanh dịnh vụ pháp lý;
-Kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm;
-Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y;
-Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình;
-Kinh doanh dịch vụ kiểm toán;
-Kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề quy định như trên thì
việc đăng ký kinh doanh phải có thêm điều kiện về chứng chỉ hành nghề theo quy
định dưới đây:
21
22
-Phải viết bằng tiếng Việt hoặc có thể viết thêm bằng một hoặc một số
tiếng nước ngoài với khổ chữ nhỏ hơn.
-Ngoài các quy định nói trên, thì còn phải viết rõ loại hình doanh nghiệp.
Với Công ty trách nhiệm hữu hạn thì cụm từ trách nhiệm hữu hạn viết tắt là
TNHH; Công ty cổ phần, từ cổ phần viết tắt là Cp; Công ty hợp danh, từ hợp
danh viết tắt là HD; Doanh nghiệp tư nhân, từ tư nhân viết tắt là TN.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể đăng ký những tên khác như: Tên viết
tắt, tên giao dịnh quốc tế…
Doanh nghiệp có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ.
*Địa chỉ : bắt buộc mỗi doanh nghiệp phải đăng ký một địa chỉ của trụ sở
giao dịch chính. Trụ sở chính của doanh nghiệp phải nằm trong phạm vi lãnh thổ
Việt Nam. Địa chỉ này phải được xác định, gồm: số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc
tên thôn, làng, xã, phường, tỉnh, thành phố trực thuộc TW, số điện thoại và số fax
(nếu có). Trụ sở chính của doanh nghiệp có thể thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, có thể đi muợn hoặc đi thuê. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các địa
chỉ khác như địa chỉ trụ sở giao dịch phụ (văn phòng đại diện), lập chi nhánh của
doanh nghiệp ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc quy định về tên gọi và địa chỉ của doanh nghiệp không chỉ
mang tính hình thức mà nó còn có ý nghĩa pháp lý. Việc xác định tên và địa chỉ
doanh nghiệp giúp cho việc phân biệt doanh nghiệp được rõ ràng, Nhà nước quản
lý các doanh nghiệp dễ dàng, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh.
2.1.4. Điều kiện về tư cách thành lập doanh nghiệp.
Pháp luật quy định mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập doanh
nghiệp và quản lý doanh nghiệp cũng như quyền góp vốn vào thành lập doanh
nghiệp nhằm thu lợi trừ những trường hợp bị cấm.
Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 12/12/1990 quy định:
-Người mất trí, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị
kết án tù mà chưa được xoá án, thì không được phép tham gia thành lập hoặc
quản lý công ty.
Những trường hợp trên đã được quy định chi tiết Tại Điều 3 quy định của
Hội đồng bộ trưởng cụ thể hoá một số điều trong Luật công ty (Ban hành kèm
theo Nghị định số 222-HĐBT ngày 23/07/1991 của Hội đồng bộ trưởng) như sau:
"Những đối tượng sau đây không được thành lập hoặc tham gia quản lý công ty:
-Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước theo Nghị
định của Hội động bộ trưởng về công chức Nhà nước số 169-HĐBT ngày
25/05/1991.
-Những người đang giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp
theo chế độ bầu cử.
24
-Các cán bộ quản lý các liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp quốc doanh.
-Sĩ quan tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân
Việt Nam."
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty chưa phân định rõ
ba hành vi góp vốn, thành lập và quản lý doanh nghiệp, tài sản nào là tài sản của
Nhà nước và công quỹ cũng chưa quy định cụ thể.
Luật doanh nghiệp ngày 12/06/1999 đã khắc phục được những hạn chế
này. Theo quy định của Luật doanh nghiệp và Nghị định của Chính phủ số
03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh
nghiệp thì:
Thứ nhất: Mọi tổ không phân biệt nơi đăng ký địa chỉ trụ sở chính, mọi cá
nhân không phân biệt nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng bị cấm thành lập
doanh nghiệp đều có quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định
của Luât doanh nghiệp.