ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HÀ
DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA”
CỦA THANH THẢO TỪ THI PHÁP CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HÀ
DẠY HỌC BÀI THƠ “ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA”
CỦA THANH THẢO TỪ THI PHÁP CHỦ NGHĨA TƢỢNG TRƢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS.Trần Khánh Thành
HÀ NỘI – 2015
HS:
Học sinh
SGK:
Sách giáo khoa
THPT:
Trung học phổ thông
ii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................. 3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
6. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ..................................... 5
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 5
1.1.1. Khái lược về chủ nghĩa tượng trưng trong văn học................................ 5
1.1.2. Nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa tượng trưng .................................. 12
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 19
1.2.1. Dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Thanh Thảo ................. 19
iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thanh Thảo có những đóng góp quan trọng trong thành tựu thơ ca hiện
đại Việt Nam. Ông là nhà thơ không ngừng tiếp cận những trào lƣu văn học
mới, nhằm làm cho các sáng tác của mình ngày càng gần với hơi thở đƣơng
đại. Một trong những bài thơ mang dấu ấn thơ tƣợng trƣng là bài thơ “Đàn
ghi ta của Lor- ca”. Bài thơ này đƣợc lựa chọn vào chƣơng trình Ngữ văn lớp
12 tập 1 từ năm 2008 đến nay đã thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu văn học, giáo viên và học sinh. Đây là một bài thơ hay và độc
đáo cả về phƣơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật, là thi phẩm xuất sắc
của Thanh Thảo đồng thời là sáng tác tiêu biểu cho xu hƣớng cách tân thơ
Việt trong giai đoạn văn học sau 1975. Thi phẩm đƣợc viết theo khuynh
hƣớng thơ tƣợng trƣng với cách biểu đạt mới. Nhƣng để cảm nhận đƣợc cái
hay cái mới của bài thơ lại là một thách thức không nhỏ đối với ngƣời dạy và
ngƣời học. Chính vì vậy việc giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh
về bài thơ này không dễ thành công. Đối với học sinh, bài thơ trên khó bởi lối
biểu đạt và cách sử dụng ngôn từ hết sức lạ của Thanh Thảo khiến các em
lúng túng trong cách giải mã ngôn từ, dẫn đến khó liên tƣởng, tƣởng tƣợng
nhiều chi tiết, hình ảnh trong tác phẩm. Đối với giáo viên, bài thơ này khó ở
chỗ: đây là bài thơ có lối sử dụng hình ảnh táo bạo, ngôn ngữ giàu giá trị biểu
trƣng có khả năng mở ra nhiều tầng bậc ý nghĩa và liên tƣởng phong phú.
Nhiều giáo viên đã dạy bài thơ này nhƣ một truyện vì mải mê hƣớng học sinh
tìm hiểu vẻ đẹp của Lor- ca mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo, là
tấc lòng tri ân tiếng nói cảm thông sâu sắc sự đánh giá cao của Thanh Thảo
với Lor- ca….Việc xác định chủ đề, tƣ tƣởng của bài thơ và các tầng ý nghĩa
của các hình thơ không hề đơn giản và không dễ thống nhất nếu không đƣa ra
câu hỏi để tiến hành dạy tác phẩm.
Một số sách, tài liệu hƣớng dẫn dạy học cũng chỉ ra những điều cần thiết
khi dạy học bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo. Trong “Chuyên
đề dạy - học Ngữ văn 12” Lê Thị Hƣờng đã nghiên cứu khá chi tiết về bài thơ
Đàn ghi ta của Lor-ca từ những hiểu biết về tác giả, đến việc chú thích các
2
hình ảnh, cách giảng dạy tác phẩm, hƣớng dẫn học sinh học bài. Trong sách
Hướng dẫn Thực hiện chương trình Sách giáo khoa lớp 12 môn Ngữ vănNXB Giáo dục/2008, Lê Nguyên Cẩn có bài viết “Để hiểu thêm một số hình
tượng thơ trong bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo” với mục đích
giúp giáo viên THPT nắm đƣợc đôi chút về quan niệm mĩ học của chủ nghĩa
siêu thực và tƣợng trƣng để có thể cảm nhận bài thơ của Thanh Thảo dễ dàng
hơn. Đây là một gợi ý mang tính định hƣớng cơ bản trong quá trình soạn
giảng “Đàn ghi ta của Lor- ca” của giáo viên THPT.
Các công trình trên là nguồn tài liệu quý báu đối với chúng tôi, nhƣng
chƣa có công trình nào xây dựng một cách có hệ thống phƣơng pháp dạy học
bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo từ thi pháp chủ nghĩa tƣợng
trƣng.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Bƣớc đầu tìm hiểu quan niệm mĩ học của chủ nghĩa tƣợng trƣng và ảnh
hƣởng tích cực của nó trong văn học Việt Nam.
Chỉ ra những đổi mới đặc trƣng về nghệ thuật của Thanh Thảo trong bài
thơ “ Đàn ghi ta của Lor – ca” của Thanh Thảo.
Đề xuất hƣớng dạy học bài thơ “Đàn ghi ta của Lor- ca” của Thanh Thảo
hiệu quả trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, đề xuất phƣơng pháp dạy học hiệu quả
nhất bài thơ Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo, chúng tôi xác định
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung chính của luận
văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2: Vận dụng thi pháp thơ tƣợng trƣng trong dạy học bài thơ
Đàn ghi ta của Lor- ca của Thanh Thảo.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái lược về chủ nghĩa tượng trưng trong văn học
Khái niệm tƣợng trƣng đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau:
Tƣợng trƣng nhƣ là một kiểu tƣ duy nghệ thuật, tƣợng trƣng với tƣ cách là
một hình thức chuyển nghĩa và tƣợng trƣng nhƣ là một khuynh hƣớng nghệ
thuật.
Tƣợng trƣng nhƣ là một kiểu tƣ duy nghệ thuật đã có từ lâu trong nghệ
thuật nhân loại. Trong cuốn Mĩ học, khi bàn về sự phát triển của lý tƣởng ở
trong những hình thức đặc thù của cái đẹp, Hegel (1770 -1831) đã trình bày
về nội hàm khái niệm tƣợng trƣng nhƣ một kiểu tƣ duy nghệ thuật, nhƣ một
hình thức nghệ thuật trƣớc hình thức nghệ thuật cổ điển và hình thức nghệ
thuật lãng mạn. Dựa trên mối quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức biểu hiện
trong tƣ duy nghệ thuật, ông chỉ ra rằng: “Nói chung, tƣợng trƣng là một sự
vật bên ngoài, một dẫn liệu trực tiếp nói thẳng với trực giác chúng ta: tuy vậy
sự vật này không phải đƣợc lựa chọn và đƣợc chấp nhận nhƣ nó tồn tại trong
thực tế vì bản thân nó. Trái lại, nó đƣợc chấp nhận với một ý nghĩa rộng lớn
và khái quát hơn nhiều. Do đó, phải phân biệt ở trong tƣợng trƣng hai yếu tố:
ý nghĩa và biểu hiện. Ý nghĩa là sự gắn liền với một biểu hiện hay một sự vật
diễn tả những gì mang tính chất trừu tƣợng. Mỹ cảm phát sinh ở chỗ trực giác
đƣợc hình tƣớng, cho nên tác phẩm văn nghệ là sự biểu hiện những ý tƣợng
cụ thể, nó trực tiếp lay động sự cảm xúc của giác quan’’ [38, tr 301].
Trong thế giới nghệ thuật, mọi hình tƣợng đều là tƣợng trƣng ở những
mức độ khác nhau. Bằng hình tƣợng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới
mang tính tƣợng trƣng, ƣớc lệ. Nhờ có tính tƣợng trƣng mà nhiều hình tƣợng
có tính đa nghĩa, gợi nhiều liên tƣởng đa dạng, phong phú, nó có khả năng tái
sinh qua thế giới nghệ thuật khác nhau và trong tái sinh trong quá trình lịch sử
tiếp nhận.
Gần gũi với tƣợng trƣng là biểu tƣợng (symbol). Tƣợng trƣng có quan hệ
thống nhất mà không đồng nhất với biểu tƣợng. Mọi biểu tƣợng đều mang
6
tính tƣợng trƣng, nó là hình ảnh tƣợng trƣng mang tính thông điệp đƣợc sử
dụng trong một ngữ cảnh nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó. Trong Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier cho rằng cần phân biệt rạch ròi hình
ảnh tƣợng trƣng với tất cả những hình ảnh khác mà nó thƣờng hay bị lẫn lộn
nhƣ biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ…Những lối diễn đạt bằng hình ảnh
nhƣ biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ đều là những dấu hiệu và không
vƣợt quá mức độ của sự biểu nghĩa. Qua so sánh với các lối diễn đạt bằng
hình ảnh trên đây, Jean Chevalier khẳng định: “Nhƣ vậy biểu tƣợng phong
phú hơn là một dấu hiệu, ký hiệu đơn thuần: hiệu lực của nó vƣợt ra ngoài ý
nghĩa, nó phụ thuộc vào cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào
một thiên hƣớng nào đó. Nó đầy gợi cảm và năng động. Nó không chỉ vừa
biểu hiện, theo một cách nào đó, vừa che đậy; nó vừa thiết lập, cũng theo một
cách nào đó, vừa tháo dỡ ra” [39, Tr 20]. Bản chất của biểu tƣợng khó xác
định nhƣng cần chỉ ra những đặc tính của biểu tƣợng nhƣ: cách diễn đạt một
cách gián tiếp, bóng gió; nó gợi cảm và năng động, đồng thời gợi lên nhiều ý
nghĩa; nó vừa ổn định vừa biến đổi; nó luôn có sự thâm nhập lẫn nhau và tồn
thế. Điều này càng khẳng định vai trò tƣợng trƣng trong nghệ thuật, từ chất
liệu ngôn từ và chân lý cuộc sống, nghệ thuật tạo nên một thế giới mang tính
tƣợng trƣng, ƣớc lệ. Biểu tƣợng là hình ảnh tƣợng trƣng nó góp phần tạo nên
tính tƣợng trƣng của giao tiếp nghệ thuật. Nhƣng tƣợng trƣng nghiêng về tính
ổn định và nhiều khi trở thành ƣớc lệ. Tƣợng trƣng đƣợc biểu hiện trên nhiều
cấp độ, từ biểu tƣợng đến phƣơng thức chuyển nghĩa, từ phƣơng thức chuyển
nghĩa đến hình tƣợng và từ hình tƣợng đến tƣ duy nghệ thuật. Tƣợng trƣng
nhƣ là một phƣơng diện đặc thù của sáng tạo nghệ thuật, nó là một phƣơng
thức khái quát đời sống một cách cụ thể, là công cụ giao tiếp đầy gợi cảm và
ám thị, nó chứng minh cho bản chất của nghệ thuật là khám phá, biểu hiện
chứ không phải là sao chép đời sống.
Chủ nghĩa tƣợng trƣng là một trào lƣu nghệ thuật xuất hiện ở phƣơng
Tây nửa cuối thế kỷ XIX tồn tại và ảnh hƣởng đến nghệ thuật nhiều nƣớc
trong thế kỷ thứ XX, bao gồm nhiều hiện tƣợng văn học nghệ thuật nhƣ thơ,
kịch, tiểu thuyết, hội họa…
8
Ngày 18/9/1886, trên báo Le Figaro, Jean Moréas cho đăng bản tuyên
ngôn văn chƣơng “Un manifeste litéraire” thể hiện thái độ khƣớc từ chủ
nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự nhiên, công bố sự ra đời trƣờng phái mới –
chủ nghĩa tƣợng trƣng. Nhiều năm trƣớc khi bản tuyên ngôn này ra đời,
khuynh hƣớng tƣợng trƣng đã xuất hiện trong thơ ca nhân loại với nhiều màu
sắc và cung bậc khác nhau. Từ nửa đầu thế kỷ XIX, một số nhà thơ Mỹ tiêu
biểu nhƣ Emerson, Melville Hawthome, đặc biệt là Edgar Allan Poe đã có ý
thức sử dụng yếu tố tƣợng trƣng nhƣ một thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu. Là
một đại diện xuất sắc của trào lƣu văn học lãng mạn Mỹ, Edgar Allan Poe
(1809 -1849) có ảnh hƣởng không nhỏ đến các nhà thơ lãng mạn và tƣợng
trƣng Pháp nhƣ Charles Baudelaire (1821 – 1867), Stéphane Mallarmé (1842
– 1898), Paul Valéry (1871 -1945)… Chính Charles Baudelaire đã say mê
đời sống tinh thần xã hội dội vào đời sống văn chƣơng, tạo nên khát vọng tìm
tòi đổi mới nghệ thuật. Nếu nhƣ trƣớc đây, chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa
hiện thực ra đời đã để lại dấu ấn vô cùng quan trọng trong lịch sử văn học
Pháp thì khi xã hội thay đổi, những trƣờng phái nghệ thuật ấy đã lần lƣợt
nhƣờng chỗ cho chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) và Nhóm Thi sơn (Parnasse)
Chủ nghĩa tự nhiên ra đời và tồn tại những năm 1860 – 1880 với những
đại biểu nhƣ Edmond (1822 – 1896), Goncourt (1830 – 1870), Emile Zola
(1840 -1892)... Họ yêu cầu miêu tả cuộc sống bằng phƣơng pháp của khoa
học tự nhiên, chú trọng tƣ liệu về con ngƣời và hiện tƣợng đời sống, đặc biệt
là đời sống sinh lí và những hoạt động vật chất của con ngƣời. Họ coi trọng
quan sát, săn tìm tƣ liệu hơn là dùng trí tƣởng tƣợng. Vì quá chăm chú miêu
tả bình diện sinh lí, giải thích hoạt động của con ngƣời bằng quy luật di
truyền, các nhà văn tự nhiên chủ nghĩa đã làm nghèo đời sống tinh thần các
nhân vật, làm mờ nhạt các quan hệ xã hội của con ngƣời.
Cũng trong thời kì này, một số nhà thơ trẻ đã tập hợp những vần thơ
mới trong tuyển tập Thi sơn đương đại với 3 tập thơ đƣợc xuất bản lần lƣợt
những năm 1866, 1869, 1876. Nhóm Thi sơn tập hợp một đội ngũ thi sỹ khá
đông đảo trong đó có Thesophile Gautier (1811 -1872), Thesodore Banville
(1823 -1891), Leconte de Lisle (1818 – 1894) …Họ nổi lên nhƣ một sự phản
10
ứng trực tiếp với chủ nghĩa lãng mạn bị coi là lỗi thời. Nhóm Thi sơn không
đồng nhất về quan điểm nhƣng họ có chí hƣớng làm cho thơ hồi sinh bằng
những năng lƣợng mới. Họ chủ trƣơng đƣa thơ tách biệt khỏi công chúng,
chống lại thái độ nhập cuộc và sứ mệnh lịch sử của nhà thơ; đề cao sự vô ngã
chống việc lạm dụng cái tôi; tôn sùng cái đẹp tuyệt đối, chống lối hoa mỹ giả
tạo; đề cao lao động nghề nghiệp, chống sự tự do dễ dãi. Với chủ trƣơng nhƣ
vậy, họ chú trọng đến dáng vẻ, đƣờng nét, âm thanh của thế giới bên ngoài,
họ quan tâm nhiều đến nghệ thuật ngôn từ, quan tâm đến cấu trúc chỉnh thể
vốn có, với tiềm năng thẩm mĩ phong phú, chủ nghĩa tƣợng trƣng phát triển
thành trào lƣu ở Pháp và nhanh chóng trở thành khuynh hƣớng nghệ thuật chủ
đạo ở châu Âu nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX và mở rộng dần ra các
châu lục, đến cả các nền văn học châu Á nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Việt
Nam.
1.1.2. Nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa tượng trưng
Mỗi trào lƣu, trƣờng phái nghệ thuật thƣờng có những tuyên ngôn của
mình. Chủ nghĩa tƣợng trƣng cũng có tuyên ngôn do nhà thơ Jean Moréas viết
công bố trên tờ Le Figaro ra ngày 18/9/1886. Tuy nhiên trƣớc đó đã có những
lời “tuyên ngôn” khá độc đáo của nhà thơ Baudelaire dƣới hình thức một thi
phẩm: Tương hợp (Correspondances) in trong tập thơ Những bông hoa Ác
(Les Fleurs du Mal). Tiếp theo là bài Tựa của Mallarmé viết cho cuốn Luận
về ngôn từ (Traité du verbe) của René Ghil, Nghệ thuật thơ (Art poestique)
của Verlaine …đã thể hiện khá tập trung quan niệm nghệ thuật của các nhà
thơ tƣợng trƣng.
- Trƣớc hết qua Tuyên ngôn thơ tượng trưng, Jean Moréas thể hiện thái độ
khƣớc từ một số nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa lãng mạn và phái Thi sơn:
“Phải chống lại sự dạy đời, sự huênh hoang lớn tiếng, chống lại thương cảm
giả dối, sự miêu tả khách quan”. Các nhà thơ tƣợng trƣng không hài lòng với
lối thơ mô tả sự vật một cách hời hợt bên ngoài, mà cho rằng thế giới xung
quanh chúng ta luôn chứa đựng những điều bí ẩn kì diệu, thơ có khả năng và
quyền lực để chiếm lĩnh và biểu hiện nó. Nhà thơ Baudelaire là ngƣời ý thức
đầy đủ về bản chất khám phá và sáng tạo của thơ, từ đó định hƣớng phát triển
12
cho một thời đại thơ với những sáng tạo mới. Ông cho rằng, chức năng thơ
không phải sự bộc bạch những trạng thái cảm xúc thông thƣờng mà phải
hƣớng đến thể hiện những tri thức huyền nhiệm và chỉ có thơ mới diễn đạt
đƣợc. Thơ là sự cố gắng thể hiện một thế giới mới nằm ẩn dấu sau thế giới
quan, là thế giới đƣợc nhận ra bằng tâm hồn tinh tế, bằng trực cảm tâm linh
huyền diệu của thi nhân. Từ thế giới đƣợc nhận ra sống động, bất ngờ và thú
vị ấy, ngƣời khai sinh của trƣờng phái tƣợng trƣng đề xuất cách nhìn mới về
thế giới trong tính thống nhất tƣơng hợp: thế giới hữu hình và thế giới vô hình
tƣơng thông tƣơng giao trong thể thống nhất. Cũng từ cách nhìn này, quan
niệm về bản chất và chức năng của thơ cũng thay đổi. Thơ không chỉ miêu tả
và bộc lộ cảm xúc về cái quan sát đƣợc mà là khám phá cái mơ hồ, vô hình, bí
ẩn của thế giới, khám phá thế giới vô hình trong thế giới hữu hình. Khám phá
và diễn đạt sự bí ẩn sâu xa của thế giới là mục đích và bản chất của thơ tƣợng
trƣng. Nhƣ vậy viễn cảnh chân trời khám phá của thơ đƣợc mở ra vô tận, bởi
cái vô hình, bí ẩn là vô biên, sự trải nghiệm của cá nhân là quá nhỏ trƣớc bao
la của thế giới. Nhìn chung thơ tƣợng trƣng từ Baudelaire đến Rimbaud,
Mallarmé... phản ánh niềm say mê thám hiểm thế giới mới và những sự tìm
kiếm không mệt mỏi những giá trị nghệ thuật, cách biểu hiện theo hƣớng hiện
đại.
Trong hành trình khám phá thế giới, nhà thơ Baudelaire đã phát hiện ra
sự tương hợp của những phƣơng diện khác nhau: Hƣơng thơm, màu sắc, âm
thanh tƣơng hợp với nhau. Từ sự tƣơng hợp kỳ diệu đó, nhà thơ nhận ra sự
tương thông của các giác quan: nhà thơ nhìn thấy mùi hƣơng của da thịt, nghe
đƣợc sự dịu dàng của tiếng kèn, cảm nhận đƣợc bao hƣơng sắc của thế giới vô
biên bằng những rung cảm tâm hồn và tâm trí. Khi sự hòa âm của đời sống
ngân lên trong tâm hồn thi nhân nó sẽ đòi hỏi hỏi đƣợc viết ra bằng chỉnh thể
nghệ thuật ngôn từ. Các nhà thơ tƣợng trƣng quan niệm, nghệ thuật không
phản ánh thế giới của hiện tƣợng bề ngoài nhìn thấy mà là một thế giới siêu
tƣởng, một thế giới mơ hồ của sự tƣơng hợp giữa ánh sáng, màu sắc, âm
thanh, mùi vị. Chủ thể tiếp nhận thơ tƣợng trƣng cùng một lúc có thể cảm
nhận tổng hòa thế giới bằng tất cả các giác quan trong trạng thái tƣơng ứng,
14
Các nhà thơ tƣợng trƣng đặc biệt đề cao tính nhạc. Với Thi nghệ (Art
poétique), Paul Verlaine bổ sung vào tuyên ngôn thơ tƣợng trƣng từ phƣơng
diện tính nhạc:
Trước hết thơ cần có nhạc,
Nhịp nhàng câu đẹp lẻ chân,
Không nặng nề, không áp đặt,
Mơ hồ tan giữa không gian.
Theo các nhà thơ tƣợng trƣng, thơ không cần mô tả, kể lể mà ám thị,
muốn ám thị thơ cần âm nhạc, làm cho độc giả nghe bài thơ nhƣ ngƣời nghe
âm nhạc. Nhạc điệu đƣa lại cho thơ bƣớc chân nhẹ nhàng, đôi cánh bay bổng,
nhạc điệu gợi lên cái mơ hồ, hƣ thực trong không gian, gợi lên “hƣơng trời
thoảng nhẹ”; thơ sẽ nhờ âm thanh của ngôn từ gợi lên những sắc thái tinh tế
nhất của tâm trạng. Họ muốn biến bài thơ thành một thứ nhạc điệu chiêu hồn,
gợi lên những giấc mơ kì lạ, nhƣ một điệu đàn âm vang từ nơi rừng thẳm xa
xôi. Bài thơ sẽ dẫn con ngƣời đi tới một nơi xa lạ không giống với xã hội thi
sĩ đang sống, đi tới nơi ngự trị của ý niệm nguyên sơ.
Bàn về tính nhạc trong thơ, thực chất là nói đến khả năng tạo nên
những cấu trúc, tổ hợp âm thanh dựa trên đặc tính âm học của lời, của ngôn
ngữ. Thơ là một thể loại văn học gần với âm nhạc, nhạc điệu là năng lƣợng
của câu thơ. Thesodore de Banville (1823 – 1891) đã từng khẳng định: “Thơ
vừa là nhạc, là họa, là tạc tượng, là hùng biện, thơ phải làm vui tai thích chí,
tỏ rõ được âm thanh, bắt chước được màu sắc, khiến cho trông thấy mọi vật
và kích thích ở ta những rung động…”[15, tr 353]. Tổ chức thế giới nghệ
thuật dựa trên đặc tính âm học của ngôn ngữ, lời thơ là một khía cạnh quan
trọng của tƣ duy thơ. Ý tình trong nội giới của thi nhân phát triển đến một
giới hạn nhất định, đẩy chủ thể vào trạng thái bị dồn ép, phấn khích không thể
không giải tỏa. Tuy nhiên, sự ký thác các mã tâm hồn vào hệ thống ký hiệu
nào luôn làm bận lòng tất cả các thi sĩ. Nhạc điệu là đặc trƣng của thơ nhƣng
Khuynh hƣớng đề cao tính nhạc không chỉ thể hiện ở quan niệm nghệ
thuật mà còn thể hiện rõ nét trong thực tiễn sáng tạo thơ của Baudelaire,
Verlaine. Các tập thơ Những bài thơ sao Thổ (1866), Tình ca không lời (1874)
17
của Verlaine tràn đầy nhạc tính, với kĩ thuật tạo nhạc tính tuyệt vời, ông đã đƣa
lại những gia điệu buồn, thấm đọng trong tâm hồn ngƣời.
Ngôn từ thơ tƣợng trƣng là sản phẩm của hành trình kiếm tìm những tri
thức mới, kiểu diễn ngôn mới. Cái mà các nhà thơ tƣợng trƣng muốn khám
phá là thế giới bên trong, cái thế giới vô hình, bí ẩn ấy không dễ nói bằng
ngôn ngữ duy lí thông thƣờng. Vì vậy, họ phải tạo những từ ngữ mới hoặc cấp
cho từ những ý nghĩa mới. Thơ tƣợng trƣng dùng biểu tƣợng nhƣ là một cấu
tạo hình tƣợng đặc biệt để chống lại lối miêu tả và biểu lộ tình cảm trực tiếp
của chủ nghĩa lãng mạn. Nói cách khác, chủ nghĩa tƣợng trƣng tôn trọng điều
bí ẩn của thơ. Họ dùng ngôn từ để ám gợi, dùng biểu tƣợng nhƣ là một
phƣơng tiện biểu hiện cơ bản. Họ triệt để vận dụng mọi biện pháp nghệ thuật
ngôn từ để thức gợi những liên tƣởng độc đáo, hữu hình hóa cái vô hình, tạo
lập quan hệ giữa cái bình thƣờng và cái bí ẩn. Các nhà thơ tƣợng trƣng đã cố
gắng tìm kiếm “một thứ ngôn ngữ đặc biệt, phổ biến, là linh hồn đối với linh
hồn, thu gom đƣợc tất cả mùi hƣơng, âm thanh, màu sắc” [3, tr 396]. Những
nỗ lực của họ đã tìm ra một lối viết hiện đại, là “thiết lập một lời nói đầy
những lỗ hổng và đầy ánh sáng, đầy những trống vắng và những ký hiệu siêu
dinh dƣỡng, không báo trƣớc cũng chẳng liên tục về ý đồ và do đó đối lập với
chức năng xã hội của hành ngôn cho đến nỗi chỉ cần dùng một lời nói đứt
đoạn cũng đủ mở đƣờng cho mọi thứ Siêu nhiên” [25, tr 86]. Với các tác giả
tƣợng trƣng, sự đổi mới tƣ duy nghệ thuật diễn ra trong lòng ngôn ngữ thơ:
những sự “tƣơng hợp” của Baudelaire hay “thuật luyện đan về ngôn từ” của
Rimbaud, triết luận ngôn ngữ của Mallarmé hay “chủ nghĩa ấn tƣợng” về từ
vựng hoặc ngữ pháp ở Verlaine, Mallarmé đều tạo nên tiếng nói mới, một loại
(Thơ chẳng là gì nhưng cũng có thể là tất cả - Thanh Thảo). Với quan điểm
khách quan này, dù không có ý định trở thành một nhà thơ tƣợng trƣng,
Thanh Thảo vẫn tiếp nhận tự nhiên và đầy sáng tạo những thành tựu của chủ
nghĩa tƣợng trƣng trong văn học phƣơng Tây để làm nên một cõi thơ mình rất
riêng, rất lạ…
Quả thực có thể nói, Thanh Thảo là nhà thơ tƣợng trƣng khi anh có
những ám ảnh kỳ lạ, huyền bí, ảo diệu….gây nên sự sùng bái hay khiếp sợ về
19