VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM MINH SƠN
PHÁP LUẬT VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành:
Luật kinh tế
Mã số:
62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Nguyễn Thị Thương Huyền
Hà Nôi - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
- NHTMCP
7. Ngân hàng thương mại cổ phần
Nhà Hà Nội
- HBB
8. Ngân hàng thương mại cổ phần
- SHB
Sài Gòn - Hà Nội
9. Ngân hàng thương mại cổ phần
Xây dựng Việt Nam
- VNCB
10. Ngân hàng thương mại TNHH MTV
Xây dựng Việt Nam
- CBBank
11. Ngân hàng Trung ương
- NHTW
12. Nhà xuất bản
- NXB
_
____ !_ • A f
. Tính cap thiết của đê tài nghiên cứu
Hoạt động mua lại, sáp nhập (M&A) đã được thực hiện từ lâu trên thế giới và
trở thành xu thế phổ biến ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động M&A tuy mới
được thực hiện từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước nhưng đã phát triển
nhanh chóng cả về số lượng và giá trị giao dịch, là kênh đầu tư hấp dẫn ở trong và
ngoài nước. Các hoạt động M&A đã trở thành một làn sóng những năm 2003 đến
2008 trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, viễn thông. Khuynh
hướng M&A có suy giảm dần sau đó nhưng từ năm 2013 đến nay, nhất là năm 2015
thì xu hướng M&A đối với ngân hàng ở nước ta đã diễn ra mạnh mẽ.
Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt với
những khó khăn chung của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều bất ổn của
kinh tế vĩ mô trong nước như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, thâm hụt ngân
sách lớn và tỷ lệ lạm phát tăng cao. Điều đó đã làm cho nền kinh tế nói chung và hệ
thống ngân hàng nói riêng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Hệ thống ngân hàng
thương mại (NHTM) tuy đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tăng trưởng nhanh về
số lượng, nâng cao chất lượng, mở rộng mạng lưới hoạt động, đáp ứng tốt hơn các
nhu cầu của nền kinh tế nhưng cũng đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như tính
cạnh tranh và tính thanh khoản thấp, nhiều ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn về
tài chính, tỷ lệ nợ xấu tăng, trình độ quản trị yếu, xuất hiện những nguy cơ hiện hữu
gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để giải quyết những vấn đề bất ổn này, M&A cùng
với một số cơ chế khác là những giải pháp cần thiết giúp hệ thống NHTM tránh khỏi
tình trạng đổ vỡ, giữ an toàn hệ thống, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao
năng lực cạnh tranh, đồng thời giúp các NHTM nhỏ gia tăng thị phần, qua đó hình
thành các ngân hàng lớn có sức cạnh tranh hơn trên thị trường trong nước và khu
vực.
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và đối với NHTM ở
Việt Nam đã được hình thành trong thời gian gần đây, góp phần hoàn thiện hệ thống
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luân án: Với mục đích nghiên cứu như trên, luận án
có các nhiệm vụ sau:
+ Đánh giá được tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến
đề tài luận án, từ đó xác định được những nội dung còn bỏ ngỏ, còn tranh luận để đặt
ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong đề tài luận án.
+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ và sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản
về mua lại, sáp nhập NHTM và pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; xây dựng
khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM.
+ Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật về mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực NHTM; thực tiễn thực hiện pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam góp phần tạo luận cứ khoa học cho việc
hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra phương hướng và các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về mua
6
lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là pháp luật về mua
lại, sáp nhập NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM dưới góc độ pháp
lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Điều chỉnh pháp lý về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
nói chung và NHTM nói riêng bao gồm nhiều nội dung. Khi thực hiện mua
lại, sáp nhập NHTM, ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật c huyên
ngành trong quá trình mua lại, sáp nhập, các bên trong quan hệ mua lại, sáp
nhập còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về dân sự, doanh nghiệp,
đầu tư, tài chính, chứng khoán, cạnh tranh..., bên cạnh đó là các vấn đề như
thương hiệu, giải quyết lao động, nghĩa vụ thuế, đăng ký kinh doanh, đăng ký
quyền sở hữu tài sản, chuyển đổi hình thức pháp lý sau mua lại, sáp nhập.
Trên cơ sở những đặc thù riêng của NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập
quyết những vấn đề phát sinh khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM. Hoạt động
ngân hàng có những đặc thù mà các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường
không có, đó là được nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua
tài khoản liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng cho khách hàng. Việc thành lập,
hoạt động, tổ chức lại NHTM được kiểm soát nghiêm ngặt trong một khung pháp lý
rất chặt chẽ. Các chủ thể hoạt động NHTM phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt
như vốn, an toàn vốn, cơ sở vật chất, hệ thống thông tin, bảo mật, chuyên môn
nghiệp vụ mới được cơ quan quản lý ngân hàng cho phép hoạt động. Hoạt động kinh
doanh của NHTM tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao hơn so với các loại hình kinh doanh
khác. Trong quá trình hoạt động ngân hàng phải liên tục, ổn định cao nhất so với các
loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời các NHTM chịu sự ảnh hưởng dây chuyền
với nhau.
Thứ hai, hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM có những đặc trưng cơ bản, chi
phối đến pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM. Những đặc trưng cơ bản của hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM được xác định là: NHTM thực hiện mua lại, sáp nhập
với tư cách là bên mua lại hoặc nhận sáp nhập với NHTM khác; các doanh nghiệp
khác trừ ngân hàng không được mua lại, nhận sáp nhập với chủ thể bên kia là ngân
hàng. Trong tất cả các giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập
NHTM đều phải đáp ứng hoạt động ngân hàng liên tục, ổn định, không ảnh hưởng
đến quyền lợi người gửi tiền và quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan. So với các
loại hình doanh nghiệp khác, trình tự, thủ tục khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM
phức tạp hơn. Khi thực hiện mua lại, sáp nhập MHTM trước tiên phải bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, sau đó mới tính đến quyền lợi của bên
thứ ba và quyền lợi của nhà nước. Thời điểm chuyển giao quyền, nghĩa vụ và lợi ích
hợp pháp giữa các bên khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM có ý nghĩa quan trọng.
Thứ ba, bản chất pháp lý của mua lại, sáp nhập NHTM là việc giành quyền
kiểm soát doanh nghiệp thông qua các hoạt động đầu tư, tổ chức lại doanh nghiệp;
việc chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp giữa các bên, đồng thời
xác định tư cách pháp lý của các bên sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập.
8
quyết các vấn đề liên quan đến việc mua lại, sáp nhập NHTM. Vì vậy để hoàn thiện
pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với việc thành lập,
hoạt động và tổ chức lại NHTM nói chung và việc mua lại, sáp nhập NHTM nói
riêng cần phải hoàn thiện đồng bộ các đạo luật này chứ không chỉ hoàn thiện riêng
Luật các TCTD.
Thứ hai, luận án chỉ rõ pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam
hiện nay còn có những tồn tại, hạn chế, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến mua lại,
9
sáp nhập NHTM, nhất là trong trường hợp thực hiện bắt buộc còn chưa có quy định
cụ thể hoặc còn thiếu như tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình tự, thủ tục
mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh chấp khi
mua lại, sáp nhập. Ngoài ra còn thiếu hay cần bổ sung, sửa đổi những quy định như
quyền, nghĩa vụ của các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng
(người gửi tiền); quyền lợi của người lao động; thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất,
phí cấp tín dụng; hợp đồng mua lại, sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín
dụng hợp vốn. Thực tế đã phát sinh những vấn đề pháp lý liên quan đến sự can thiệp
của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào ngân hàng yếu kém như việc chuyển sở hữu
tư nhân thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; cổ đông không đồng ý
có sự can thiệp của NHNN vào cơ cấu sở hữu khi thực hiện mua lại, sáp nhập
NHTM cần phải được giải quyết.
Thứ ba, thông qua việc phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về
mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay, luận án khẳng định việc NHNN mua
lại bắt buộc một số NHTM yếu kém trong thời gian qua là để giải quyết tình thế
nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng,
bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô,
bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đồng thời có tác dụng hữu hiệu trong việc ngăn
chặn tình trạng bất tuân thủ các yêu cầu, điều kiện bảo đảm an toàn đối với hoạt động
ngân hàng. Trong quá trình thực hiện, còn có nhiều vấn đề liên quan đến cơ chế pháp
1
•
* Về một số giải pháp sửa đổi, bổ sung pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân
hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, luận án đã đề xuất một số giải pháp mới như
sau:
Thứ nhất, luận án kiến nghị thống nhất hình thức pháp lý về tổ chức lại doanh
nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật. Bổ sung mua lại là một trong
những hình thức pháp lý tổ chức lại doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp để phù
hợp với quy định của Luật cạnh tranh. Luật các TCTD quy định cụ thể việc mua lại,
sáp nhập đối với NHTM, thay vì quy định chung là tổ chức lại TCTD dưới hình thức
1
0
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức pháp lý. Luật các TCTD và các
văn bản pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành cần bổ sung các quy định khi
thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM về: tiêu chuẩn, điều kiện mua lại, sáp nhập; trình
tự, thủ tục mua lại, sáp nhập; hệ quả pháp lý khi mua lại, sáp nhập và giải quyết tranh
chấp khi mua lại, sáp nhập.
Thứ hai, luận án kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung các quy
định về mua lại, sáp nhập NHTM, cụ thể là: định giá ngân hàng; hợp đồng mua lại,
sáp nhập; thực hiện tiếp tục hợp đồng cấp tín dụng hợp vốn; chuyển sở hữu tư nhân
thành sở hữu nhà nước ở một số ngân hàng yếu kém; quyền và nghĩa vụ của các ngân
hàng bị mua lại, sáp nhập; quyền lợi của khách hàng (người gửi tiền); quyền lợi của
người lao động tại các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập; thủ tục xử lý các giao dịch
với người gửi tiền và người vay trước khi giao dịch mua lại, sáp nhập được xác lập;
thực hiện lãi suất tiền gửi, lãi suất, phí cấp tín dụng; lộ trình thực hiện quy định về tỷ
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế khách quan,
tất yếu với nhiều lợi ích to lớn, không chỉ với bản thân các ngân hàng mà còn với nền
kinh tế của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu về mua
lại, sáp nhập, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh
vực NHTM, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã được quan
tâm thực hiện ở trong và ngoài nước.
1.1.1.
1.11.1.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài
liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại" của Peter
S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions" của Bruner F. Robert and Perella P. Joseph, năm
2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M. Yegge do Nxb.
Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions" của J. Fred
Weston và Samuel C. Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang hướng
dẫn mua lại và sáp nhập" của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb. Tổng hợp
TP. Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn bản - Các
bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư" của Michael E.S.
Frankel do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập
thông minh - Kim chỉ nam trên trân đồ sáp nhập và mua lại" của Scott Moeller, Chis
Brady do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Wall Street Words: An
pháp quy định cho các yêu cầu sáp nhập. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi Cơ
quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát chính đối với ngân hàng yêu cầu sáp nhập
phải tính đến tác động của vụ sáp nhập tới sự thuận lợi cho công chúng, tính đến nhu
cầu của công chúng đối với việc cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng cao tại
mức giá hợp lý.
- Sách sách “Mua lại và sáp nhập từ A đến Z" của Andrew J.Sherman,
Milledge A. Hart, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009) và “M&A- Mua lại và sáp nhập căn
bản, các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư" của tác
giả Michael E.S. Frankel, Nxb Tri thức, Hà Nội (2009). Nội dung chính của hai cuốn
sách này như sau:
Thứ nhất, về thuật ngữ M&A. M&A là một thuật ngữ để mô tả các thương vụ
liên quan đến sự thay đổi, chuyển giao quyền kiểm soát một doanh nghiệp. Các hình
thức M&A bao gồm: mua tài sản của doanh nghiệp, mua cổ phiếu, mua lại doanh
nghiệp dựa trên vốn vay nợ; mua lại doanh nghiệp để giữ quyền quản lý.
Thứ hai, về các bên tham gia M&A. Chủ thể tham gia thương vụ mua lại và
sáp nhập doanh nghiệp cùng với vai trò, động cơ thúc đẩy tham gia M&A, cách thức
quản lý các giao dịch không chỉ giới hạn ở bên bán và bên mua mà còn có sự tham
gia của các chủ thể khác như kiểm toán viên, đội ngũ tư vấn, các nhà đầu tư tài
chính...
Thứ ba, về những công việc cần chuẩn bị khi thực hiện M&A. Một trong
những bước quan trọng của quá trình chuẩn bị là lựa chọn nhà tư vấn. Chính các nhà
1
4
tư vấn sẽ trợ giúp các bên chuẩn bị những công việc cần thiết để thực hiện thành
công thương vụ mua lại và sáp nhập. Cùng với chiến lược tổng thể của công ty, chiến
lược M&A cần được ban giám đốc và đội ngũ điều hành công ty phê duyệt và ủng
hộ. Điều này thậm chí còn quan trọng hơn rất nhiều khi vạch kế hoạch cho một
1
5
Thứ sáu, về kết thúc thương vụ và hậu mua lại, sáp nhập. Một cách đơn giản
nhất được các tác giả đề cập, ký kết thương vụ là ký kết một thỏa thuận để bán một
công ty, trong khi đó kết thúc một thương vụ là hoàn thành quá trình mua bán đó.
Khoảng trống giữa việc ký kết và kết thúc sẽ thay đổi dựa trên những nhân tố bên
ngoài. Nguyên nhân việc trì hoãn phổ biến và kéo dài nhất là việc phê chuẩn theo
pháp luật. Với những doanh nghiệp phải điều chỉnh nhiều, hoặc đôi khi là việc một
doanh nghiệp lớn cần phải được sự chấp thuận từ những cơ quan quản lý. Sau khi kết
thúc giao dịch M&A, các hợp đồng, giấy phép và các quyền, nghĩa vụ cũng cần được
chuyển giao và thay đổi. Bên cạnh đó còn có những thủ tục khác cần được hoàn
thành trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi hoàn tất thương vụ. Những thách
thức mà bên mua doanh nghiệp cũng phải đối mặt thời kỳ hậu mua lại và sáp nhập
như sự kết hợp nguồn nhân lực, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống hoạt động và quản
lý thông tin, hệ thống kế toán...
-
Bài viết “Banking M&A: What about the brand?" của Joseph Benson và Jack
Foley trên marketingprofs.com. Theo tác giả, thương hiệu không phải là tất cả
mọi thứ về một ngân hàng, nó chỉ là điều làm cho những ngân hàng tạo ra
khác biệt. Thương hiệu tạo ra sự khác biệt và ưu tiên đối với khách hàng. Đó
là lý do tại sao khách hàng chọn để giao dịch với một ngân hàng này mà
không phải là một ngân hàng khác. Thương hiệu thường đóng vai trò chủ đạo
trong việc tạo nên các giá trị này. Theo như nhận định trong một nghiên cứu
gần đây của hãng nghiên cứu McKinsey, thì “các tài sản vô hình tạo nên phần
lớn giá trị của các thỏa thuận liên kết và sáp nhập, trong đó thương hiệu chiếm
một phần đáng kể trong những dạng tài sản vô hình này”. Tác giả chỉ ra bốn
chiến lược phát triển thương hiệu cơ bản đối với các ngân hàng: (1) Hố đen;
cơ sở các đặc thù của ngành ngân hàng. Với các đạo luật có thể dẫn chiếu đến đạo
luật chống độc quyền Sherman năm 1890 và đạo luật Clayton năm 1914. Các đạo
luật này cấm các hoạt động sáp nhập nếu chúng dẫn đến độc quyền hay hạn chế cạnh
tranh trong bất kỳ ngành công nghiệp nào và Bộ Tư pháp sẽ thông qua các vụ sáp
nhập nào như vậy. Ngoài hai đạo luật trên, hoạt động sáp nhập còn chịu sự điều
chỉnh của nhiều đạo luật khác. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi mỗi ngân hàng
tham gia sáp nhập phải được chuẩn y từ các cơ quan điều hành Liên bang trước khi
sáp nhập. Với các ngân hàng trong nước, việc sáp nhập phải được Cục Quản lý tiền
tệ thông qua. Với các ngân hàng được bảo hiểm và là thành viên của hệ thống Dự trữ
Liên bang thì việc hợp nhất phải có sự thông qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed.
Còn với các ngân hàng được bảo hiểm nhưng không là thành viên của hệ Dự trữ Liên
bang thì cần có sự thông qua của Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang.
Thứ hai, các hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Để giảm thiểu sự không chắc chắn
về pháp lý, năm 1968 Bộ Tư pháp Mỹ đã ban hành hướng dẫn chính thức về việc xin
sáp nhập với những yêu cầu chặt chẽ. Theo đó các hãng hoạt động trong thị trường
có mức độ tập trung cao và cạnh tranh hạn chế chỉ được thôn tính các doanh nghiệp
có thị phần nhỏ và không quan trọng, đồng thời chỉ được thâm nhập thị trường với
hình thức tạo lập doanh nghiệp mới. Khi Luật sáp nhập được nới lỏng vào năm 1982,
Bộ Tư pháp đã thay đổi hướng dẫn sáp nhập vào năm 1992 bao gồm các hướng dẫn
riêng cho sáp nhập ngân hàng. Hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp lấy công thức tính
chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) làm thước đo mức độ tập trung cho thị
trường. Với việc ban hành chỉ số HHI này, bất cứ vụ sáp nhập nào mà chỉ số HHI sau
khi sáp nhập nhỏ hơn 1.800 hoặc giá trị chỉ số HHI trong khu vực thay đổi dưới 200
điểm sẽ không bị Bộ Tư pháp ngăn cản.
Thứ ba, quá trình ra quyết định của nhà chức trách Liên bang. Những tiêu
chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ Tư pháp phải được Cơ
quan quản lý Liên bang Mỹ áp dụng. Các tác động của vụ sáp nhập tới công chúng sẽ
được Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát theo quy định của Đạo luật sáp
1
Có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện thời gian qua đã tập trung
phân tích, phản ảnh về mua lại, sáp nhập; pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, NHTM và các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án. Có thể kể đến một
số nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Sáp nhập, hợp nhất và mua bán ngân
hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam'" của Phan Diên Vỹ, năm 2013; luận án tiến sĩ
luật học “Pháp luật mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam'" của Trần Thị Bảo Ánh,
năm 2014... Bên cạnh các nghiên cứu trên, một số đề tài nghiên cứu khoa học nghiên
cứu trong lĩnh vực này như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoạt động sáp
nhập và mua lại: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị chính sách cho
1
9
Việt Nam'" do ThS. Lưu Minh Đức làm chủ nhiệm, năm 2009; đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Ngành “Hoạt động mua bán, sáp nhập các ngân hàng thương mại Việt
Nam - Thực trạng và giải pháp” của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí
Minh do TS. Nguyễn Thị Loan làm chủ nhiệm, năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ “Pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam" của
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Trí Hùng làm chủ nhiệm,
năm 2012; đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện “Pháp luật về hợp nhất, sáp
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam"" của Học viện Tài chính, năm 2014...
Các công trình nêu trên đã phân tích và cung cấp thông tin về cơ sở lý luận
mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, công ty tài
chính, ngân hàng; phân tích, phản ảnh tình hình hoạt động mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp và NHTM của một số quốc gia và Việt Nam; phân tích và luận giải khung
pháp lý, thực trạng pháp luật đối với doanh nghiệp, ngân hàng nói chung và về mua
lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, NHTM nói riêng. Các nghiên cứu cũng phân tích
và đề cập đến hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế về kiểm
soát tập trung kinh tế, về thị trường chứng khoán; đưa ra quan điểm, phương hướng
2
1
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại
- Các công trình nghiên cứu đề cập về pháp luật mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, ngân hàng thương mại của một số quốc gia:
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam của một số quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, một số
nước Đông Nam Á và vùng lãnh thổ như Thái Lan, Inđônêsia, Malaysia, Singapore,
Đài Loan... đã được một số nghiên cứu đề cập [32], [40], [59], [68]... Trên thế giới,
quốc gia đầu tiên ban hành Luật cạnh tranh là Canada vào năm 1889. Tuy nhiên,
Luật Sherman của Hoa Kỳ được ban hành vào năm 1890 lại là đạo luật có ảnh hưởng
lớn và thường được trích dẫn. Do tầm quan trọng của hoạt động mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp và ngân hàng ngày càng mang tính toàn cầu hóa nên nhiều quốc gia đã
ban hành các luật riêng để điều chỉnh hoạt động này. Một số quốc gia đã xây dựng
các tiêu chuẩn để kiểm soát tập trung kinh tế, xây dựng và áp dụng các chuẩn mực về
vốn, tỷ lệ an toàn vốn ngân hàng khi thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng, thực
hiện mua lại bắt buộc đối với những ngân hàng yếu kém trong giai đoạn khủng
hoảng kinh tế cũng là những kinh nghiệm tốt để tham khảo trong quá trình hoàn
thiện pháp luật tại Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu đề cập khung pháp lý về mua lại, sáp nhập ngân
hàng tại Việt Nam:
Đề cập đến khung pháp lý về mua lại, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng tại
Việt Nam, Bộ luật dân sự (2005), Luật đầu tư (2005), Luật cạnh tranh (2004), Luật
chứng khoán (2006) và Luật chứng khoán sửa đổi (2010), Luật các TCTD (2010),
Luật NHNN Việt Nam (2010), Luật doanh nghiệp (2005, 2014) là các văn bản pháp
luật được nhiều tác giả dẫn chiếu [29], [42], [45], [59], [89].
Một số nghiên cứu đã đề cập, phân tích quy định pháp luật về mua lại, sáp
ngân hàng trong nước với nhau. Nhiều NHTMCP nông thôn với quy mô vốn nhỏ
được mua lại, sáp nhập [8]. Pháp luật áp dụng trong giai đoạn này chủ yếu dựa trên
nguyên tắc của Luật NHNN, Luật các TCTD.
Giai đoạn từ năm 2005 trở về đây, một số thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp
nhất ngân hàng được phân tích, bàn luận như trường hợp hợp nhất ba NHTMCP là
FicoBank, TinNghiaBank và SCB; Công ty dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sáp nhập vào
ngân hàng Liên Việt; NHTMCP Nhà Hà Nội (HBB) sáp nhập vào NHTMCP Sài
Gòn - Hà Nội (SHB); ngân hàng EximBank mua lại cổ phần của ngân hàng
SacomBank; tập đoàn DOJI hoàn tất mua 20% cổ phần để trở thành cổ đông chiến
lược của ngân hàng TienPhongBank [19], [122]. Thông tư số 04/2010/TT-NHNN
ngày 11/2/2010 của NHNN quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD (sau đây
gọi là Thông tư 04/2010/TT-NHNN) cũng được nhiều tác giả phân tích, bàn luận là
đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên trong quá trình áp dụng để tiến hành các hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM đã gặp không ít trở ngại [67], [79].
Trong thời gian qua, nhiều giao dịch mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam đã
được tiến hành, tuy nhiên hợp đồng mua lại, sáp nhập còn một số vấn đề chưa được
2
3
nghiên cứu thấu đáo. Vì thế một số tác giả đã nghiên cứu về hợp đồng mua lại, sáp
nhập doanh nghiệp [41] hay lưu ý khi soạn thảo hợp đồng này [48]. Có tác giả đã đi
sâu nghiên cứu về nguyên tắc, trình tự, thủ tục hợp đồng mua lại, sáp nhập, nhưng
trọng tâm các bên thỏa thuận như thế nào? Nội dung của hợp đồng, chuyển quyền,
nghĩa vụ tài sản và các khoản nợ ra sao? Hiệu lực phát sinh của hợp đồng? Thời điểm
nào có hiệu lực, thời điểm nào vô hiệu? ... đã được kiến nghị cần được tiếp tục
nghiên cứu làm rõ hơn [41], [44], [119].
- Những hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại ở Việt Nam:
nhưng khó thực hiện bởi nhiều quy định còn chung và thiếu. Do đó nếu muốn tiến
hành mua lại, sáp nhập, các ngân hàng phải tự tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm từ các
thương vụ mua lại, sáp nhập ngân hàng đã thực hiện ở trong nước và
trên thế giới [56].
Thủ tục cho việc mua lại, sáp nhập hiện tại được cho là khá phức tạp và phải
được phép của nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài ra, còn một số nhân tố cản trở tiến
trình thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng như đối tượng mua lại, sáp nhập còn
hẹp; hạn chế trong việc chuyển đổi doanh nghiệp sau mua lại, sáp nhập; các chế tài
liên quan đến các quy định đánh giá năng lực quản trị, năng lực tài chính đối với các
NHTM Việt Nam chưa nghiêm và chưa cao; định giá trong hoạt động mua lại, sáp
nhập ngân hàng rất khó do thiếu các kỹ thuật, kinh nghiệm cần thiết; thông tin liên
quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập chưa thực sự minh bạch; vấn đề bảo mật; các
nghĩa vụ tài chính, người lao động, thương hiệu, cơ chế giải quyết tranh chấp chưa
được quy định cụ thể; thiếu các công ty môi giới và tư vấn chuyên nghiệp về mua lại,
sáp nhập; các quy định hiện hành về cách tính thị phần của TCTD còn chưa hợp lý;
các quy định về tập trung kinh tế giữa một NHTM và một TCTD phi ngân hàng chưa
cụ thể. Hiện còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập
trung trong ngân hàng giữa Luật cạnh tranh và Nghị định hướng dẫn. Các quy định
về mua lại, sáp nhập hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thức của giao
dịch mà còn thiếu các quy định cụ thể để thực hiện. Hoạt động mua lại, sáp nhập
ngân hàng liên quan đến nhiều ban ngành nhưng còn chưa rõ quy trình tiếp nhận, xử
lý các NHTM yếu kém. Về quản lý hoạt động này, các tác giả cũng có chung nhận
định là văn bản pháp luật quy định nhiều cơ quan đang quản lý khác nhau như Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương.. .[53], [56], [63].
Theo quy định của Luật các TCTD, NHNN có quyền góp vốn, mua cổ phần
bắt buộc của TCTD bị kiểm soát đặc biệt hoặc yêu cầu các TCTD sáp nhập, hợp nhất
bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn hệ thống TCTD. Thông tư số 07/2013/TT- NHNN
ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD đã tạo
lập cơ chế để NHNN thực hiện vai trò của mình trong việc buộc các TCTD sáp nhập,
hợp nhất và bán cổ phần bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư 04/2010/TT-NHNN