Luận án tiến sĩ kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------------------------------

HỒ THỊ SONG QUỲNH

KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ SỞ

Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62 31 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Thanh Hương

HÀ NỘI - 2016



LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Hệ thống số liệu
và kết quả nghiên cứu trong toàn bộ luận án là trung thực, khách quan và chưa có bất
kỳ một công trình nào công bố.

mr

• 2 1 r f_



NCS. Hồ Thị Song Quỳnh


MỤC LỤC


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

CBQLHC

Cán bộ quản lý hành chính

ĐLC

Độ lệch chuẩn

ĐTB

Điểm trung bình

GQTCĐĐ

Giải quyết tranh chấp đất đai

KN

Kỹ năng


Bảng 2.1

Một số đặc điểm của mẫu khảo sát chính thức là cán bộ QLHC
cấp cơ sở tham gia trả lời bảng hỏi

Bảng 2.2
Bảng 3.11

Bảng 2.3
Bảng 3.12
Bảng 2.4
Bảng 3.13
Bảng
Bảng 3.14
3.1
Bảng
Bảng 3.15
3.2

Độ tin cậy của hệ thống bảng hỏi đo biểu hiện các đặc điểm:
So
sánh
mức
độtính
kỹ năng
thập
thông
vàcủa
phân
mâukỹ

tranh
Bảngquyết
phânvấn
chiađềcác
mứcchấp
độ theo điểm trung bình và độ lệch
Điểm
bình
các kỹ
thang
đothành
thể hiện
tính
đúng
tính
thuần
chuẩn trung
của các
nhóm
năng
phần
qua
giảiđắn,
quyết
tình
thục
và tính hiệu quả của KN3
huống
Kỹ
đềnăng

chọn
Điểm
trung
thểnăng
hiện đề
tính
đắn, tính
và tính
phương
giải
đề tranh chấp theo các nhóm khách
hiệu quảán
của
kỹquyết
năng vấn
chung

Bảng 3.3
Bảng
Bảng 3.16
3.4

So sánh kỹ năng GQTCĐĐ theo các nhóm khách thể
thể

Bảng
Bảng 3.17
3.5

Điểm

vấnnhận
đề tranh
và thuyết
phục
các
Biểu độ
hiệnkỹvànăng
mứctrình
độ kỹ
năng
dạngchấp
và xác
định hình
thức
bên
trong quá trình hòa giải
tranhtranh
chấpchấp
đất đai

So
kỹ và
năng
tranhchấp
chấpđấtvàđai
thuyết
Kỹ sánh
năng mức
nhậnđộ
dạng

đai theo
nhóm
thể khác

Bảng 3.8
Bảng 3.20

các
động
Mứcyếu
độ tố
kỹtác
năng
thu thập thông tin và phân tích mâu thuẫn,
Kết
quả nhân
đánh của
giá vấn
của cán
bộ cơchấp
sở về thực trạng đánh giá cán bộ
nguyên
đề tranh

Bảng 3.9
Bảng 3.21

nơi họ làm việc
Điểm trung bình của các thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính
Kết

Bảng 3.23

Động cơ giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành
chính cấp cơ sở

Bảng 3.24

Thái độ đối với công việc giải quyết tranh chấp đất đai của cán
bộ quản lý hành chính cấp cơ sở


Bảng 3.25

Sự thay đổi của kỹ năng thu nhập thông tin và phân tích mâu
thuẫn, nguyên nhân của vấn đề tranh chấp sau thực nghiệm tác
động

Bảng 3.26

Sự thay đổi của kỹ năng thu nhập thông tin và phân tích mâu
thuẫn, nguyên nhân của vấn đề tranh chấp qua giải quyết tình
huống

Bảng 3.27

Sự thay đổi của kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn
phương án để giải quyết tranh chấp đất đai

Bảng 3.28


sở


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kỹ năng quản lý là công cụ hữu hiệu giúp cho những nhà quản lý nói chung và
các nhà quản lý cấp cơ sở nói riêng nâng cao hiệu quả quản lý xã hội. Các kỹ năng
quản lý cũng là yếu tố quan trọng để giúp các nhà quản lý cấp cơ sở hiểu rõ và nhận
thức đúng đắn về đối tượng mà mình quản lý. Đồng thời, với việc vận dụng hiệu quả
các kỹ năng quản lý thì người cán bộ quản lý cấp cơ sở có thể năng động, sáng tạo
trong công việc, nhất là trong quá trình giải quyết các vấn đề nảy sinh của thực tiễn.
Trong các kỹ năng quản lý thì kỹ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến
người dân được xem là kỹ năng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là “cầu nối” giữa Đảng
và Nhà nước với nhân dân, là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân mà Hiếp pháp đã quy định thể hiện bản chất của Nhà
nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thể hiện sâu sắc quan
điểm lấy dân làm gốc của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cũng đã từng nói, để củng cố mối quan hệ, lòng tin giữa nhân dân với Đảng và
Nhà nước chúng ta cần phải: Giữ chặt mối quan hệ với dân chúng và luôn lắng tai
nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng
thắng lợi.
Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
là một trong những kỹ năng có vai trò quan trọng hiện nay. Vai trò của kỹ năng này
không chỉ ở chỗ giải quyết được nhu cầu, bức xúc của người dân về đất đai để tránh
được tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, mà còn tạo niềm tin của dân
với nền hành chính Nhà nước - khi mà giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay được xem
là vấn đề nổi cộm, việc giải quyết còn nhiều bất cập, yếu kém, thường kéo dài, phí tổn
nhiều, hiệu quả ít, gây không ít phiền toái, bức xúc cho người dân. Theo những báo
cáo gần đây của chính phủ và của các địa phương, có đến khoảng 70% các vụ khiếu
kiện là liên quan đến lĩnh vực đất đai, có những vụ khiếu kiện tranh chấp đất đai kéo

lý hành chính cấp cơ sở và các yếu tố tác động đến kỹ năng này.
3.3.

Thực nghiệm tác động với các biện pháp tác động như bồi dưỡng kiến

thức về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài
tập tình huống và thực hành rèn luyện các kỹ năng cho việc giải quyết vấn
đề tranh chấp đất đai, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng
cao kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp
cơ sở.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý
hành chính cấp cơ sở và một số yếu tố tác động đến kỹ năng này.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Số lượng khách thể là 217, bao gồm:
-

Chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn.

1
0


-

Phó chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn.

-


Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai, luận
án chỉ nghiên cứu ba đặc điểm: tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu quả
của kỹ năng.
- Trong các yếu tố tác động, luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số các yếu tố

có tác động đến kỹ năng GQTCĐĐ của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, bao gồm
các yếu tố khách quan ( Cơ chế, thủ tục hành chính; thói quen ứng xử của người dân

1
1


và công tác đánh giá cán bộ) và các yếu tố chủ quan ( Động cơ và thái độ làm việc của
CBQLHC cấp cơ sở).
-

Luận án chỉ nghiên cứu khách thể là những cán bộ quản lý hành chính nhà
nước- những người trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp đất đai ở cấp
phường, xã, thị trấn và một số cán bộ, người dân có hiểu biết về vấn đề tranh
chấp đất đai.
6.2.Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài được tiến hành ở phường, xã, thị trấn của các quận 1, quận 4, quận 8,

quận Gò Vấp, quận Thủ Đức và huyện Củ Chi của thành phố Hồ Chí Minh.
7. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nguyên tắc phương pháp luận
Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý luận của Tâm lý học hoạt động, Tâm lý học
xã hội, Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học quản lý và các nguyên tắc sau:
-




-

Phương pháp phỏng vấn sâu.

-

Phương pháp giải quyết các bài tập tình huống.

-

Phương pháp quan sát.

-

Phương pháp thực nghiệm tác động.

-

Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.

8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1. Đóng góp về mặt lí luận
-

Là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng giải quyết tranh chấp đất
đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, luận án đã góp phần làm sáng tỏ
những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh
chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở; làm rõ nội hàm khái niệm

tác động như: bồi dưỡng kiến thức về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành kỹ
năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành rèn luyện kỹ năng cho việc giải
quyết vấn đề tranh chấp đất đai - là cơ sở để hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo,
bồi dưỡng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ
sở trong tình hình hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp
cho các cấp lãnh đạo, luật gia, những người soạn thảo qui định về giải quyết tranh chấp
đất đai có thể sửa đổi, điều chỉnh các qui định cho phù hợp với thực tiễn giải quyết
tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục các công
trình đã công bố và phụ lục, luận án gồm 3 chương:
-

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai
của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.

-

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.

-

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất

đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.

1
4


Các nhà giáo dục học nổi tiếng ở thế kỷ XIX như K.Đ Usinxki (Nga), G.G
Rutxo (Pháp), J.A Cômenxki (Tiệp Khắc) trong các công trình nghiên cứu cũng đã đề
cập đến kỹ năng trí tuệ và quá trình hình thành những kỹ năng này.
Đến đầu thế kỷ XX, Tâm lý học hành vi ra đời, đại diện là E.L Toorđai, J.B
Watson, E.Ch Tolman, B.F Skinner, K. Hulơ. Tuy xuất phát từ quan niệm máy móc về
con người trong vấn đề rèn luyện kỹ năng, nhưng lý luận dạy học theo chương trình
hóa của Skinnơ là một thành tựu mới trong lý luận dạy học mà ngày nay chúng ta cần
tham khảo và học tập[ theo 19].
Khi lý thuyết hoạt động của Tâm lý học Xô Viết ra đời thì hàng loạt các công
trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo được công bố. Năm 1926, Vưgốtxki đã xây dựng
“một khoa học về hành vi của con người xã hội”, Ông cho rằng, ở người, cấu trúc
hành vi bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiện xã hội và kinh nghiệm kép. Trong
nội dung của hành vi người có các tri thức là thành tố bắt buộc của hành vi. Các tri

1
5


thức, các kỹ xảo lao động, các kỹ năng sinh họat, các qui tắc văn hóa và các khái niệm
văn hóa.. .là do các thế hệ trước truyền đạt lại cho thế hệ trẻ. [ theo19, tr. 228-229].
Bắt nguồn từ hệ thống tư tưởng của Vưgốtxki, X.L Rubinstein cho rằng, hoạt
động của con người không phải là phản ứng đối với kích thích bên ngoài, thậm chí
không phải là quá trình làm việc với tính chất là những thao tác của chủ thể tác động
lên khách thể, mà đó là “sự chuyển hóa của chủ thể thành khách thể”. Sự chuyển hóa
này là quá trình đối tượng hóa chủ thể, được diễn ra từ quá trình thứ nhất là con người
dùng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo...của mình để tham gia vào việc sáng tạo ra thế giới đối
tượng đến quá trình thứ hai được hiểu là quá trình hình thành ý thức, tâm lý tức là hình
thành chính tri thức, kỹ năng, kỹ xảo [ theo 19, tr.250-251].
Nghiên cứu về kỹ năng cũng được các nhà giáo dục học Xô Viết nghiên cứu.
N.K Crupxcaia, A.X Makarenko, V. Friklen đã đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc dạy

dục học. G.X. Catschuc, V.A. Menchinxkaia đi sâu nghiên cứu các kỹ năng học tập,
đặc biệt là kỹ năng học tập độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tiễn.
Các nhà tâm lý học sư phạm đều coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực, làm rõ
khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo. Theo A.V.
Petrôvxki (1982), V.A.Crutetxki (1981), N.D. lêvitov (1970) thì kỹ năng có 2 loại: kỹ
năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao. Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao của
những hành động phức tạp, trong những điểu kiện hành động không ổn định. Theo họ,
kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng. Nếu không xác định rõ mối quan hệ giữa kỹ
năng và kỹ xảo thì khó có thể xác định được việc dạy học và kết thúc ra sao [42], [8],
[30].
A.N.Leonchiev (1980) đưa ra một số kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ năng
điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội biết phán
đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng
làm gương cho học sinh noi theo kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ kỹ năng kiến tạo sự tiếp
xúc kỹ năng nhận thức.. .[33].
John Steward (2002) đưa ra một nhóm những yếu tố đảm bảo cho sự thành
công trong giao tiếp liên cá nhân là kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp ngôn
ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng tạo ấn
tượng ban đầu [85].
- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực lao động.
Dưới góc độ tâm lý học lao động, có nhiều công trình đề cập đến vấn đề kỹ
năng, kỹ xảo; vai trò của kỹ năng trong lao động; vấn đề hình thành kỹ năng cho người
lao động.V.G. Loox nêu rõ vai trò của kỹ năng nghề nghiệp và sự hình thành của
chúng trong hoạt động; Phrederic W. Taylor đưa ra quan điểm học thuyết “sản xuất
dây chuyền” phải có sự chuyên môn hóa cao trong thao tác của người lao động. Mỗi
người trong tổ chức dây chuyền lao động được qui định từng thao tác, từng chức năng
chi tiết chặt chẽ, từng giờ, từng phút, không có thao tác thừa, không có sự trùng lặp, ai
làm việc nấy nên rất tiết kiệm thời gian và sức lực [17, tr.9].
Các nhà tâm lý học Phương Tây, khi nghiên cứu kỹ năng lao động của người


tính khích lệ) [ theo 15, tr. 9].
1.1.12. Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề *Những nghiên cứu chung
về tình huống có vấn đề và kỹ năng giải quyết vấn đề
Khi bàn đến những nghiên cứu về việc giải quyết tình huống có vấn đề phải kể
đến các nhà Tâm lý học Xô Viết. Một trong những người tiên phong trong việc nghiên
cứu tình huống có vấn đề trong tư duy là Rubinxtein (1958), Ông cho rằng : “Tư duy
thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc mắc, hay từ

1
8


một mâu thuẫn. Tình huống có vấn đề như thế có tác dụng lôi cuốn cá nhân vào hoạt
động tư duy...” [46, tr.292].
A.M Machiuskin (1972) coi tình huống có vấn đề là một dạng đặc biệt của sự
tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý
khiến chủ thể phải tìm kiếm những tri thức, phương hướng hành động chưa biết nhằm
thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình [34].
V. Okon (1976) xem đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là trạng thái
lung túng về lý thuyết và thực hành trong quá trình nhận thức, sự mâu thuẫn của kinh
nghiệm đã có của chủ thể với những tri thức mới. Nhờ đó người học phải huy động
năng lực của mình để giải quyết mâu thuẫn [36].
Các tác giả đều có chung quan điểm xem tình huống có vấn đề là mâu thuẫn
giữa các yếu tố có liên quan trong từng tình huống , trong đó cá nhân phải vận dụng
kiến thức, kinh nghiệm, tư duy.. .để giải quyết.
Về giải quyết vấn đề, theo các nhà Tâm lý học nhận thức thì một phần cơ bản
trong cuộc sống của con người là giải quyết các vấn đề đặt ra. Chính vì vậy mà kỹ
năng giải quyết vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, các phương pháp giải
quyết vấn đề của con người đã được nghiên cứu bởi các nhà Tâm lý học trong hàng
trăm năm qua.

vụ cho các mục tiêu trong thời gian thực hiện vấn đề và sự sáng tạo có thể giúp con
người giải quyết nhiều vấn đề phổ biến [63]. Todd I. Lubart và Christophe
Mouchiroud (2005) (Đại học René Descartes, Pari) đề cập đến sự sáng tạo - một khả
năng ảnh hưởng tốt đến việc giải quyết vấn đề nhưng cũng có thể là nguồn gốc của sự
khó khăn trong việc giải quyết vấn đề [75]. Theo lý thuyết của Pieget (2000) thì khả
năng giải quyết vấn đề có liên quan đến quá trình trưởng thành. Pieget giải thích
những người trẻ tuổi chỉ có thể giải quyết những vấn đề dễ dàng, không phức tạp và
khả năng giải quyết vấn đề sẽ tăng lên khi chúng lớn lên [41].
Một số tác giả khác đi sâu phân tích các khả năng và kỹ năng của con người
liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, Jacqueline P. Leighton (2003)
(Đại học Alberta- Canada) và Robert J. Sternberg (2003) (Đại học Yale) đề cập đến
mối quan hệ giữa sự suy luận và giải quyết vấn đề. Các tác giả cho rằng, kỹ năng suy
luận có thể sử dụng để giải quyết vấn đề, do đó, con người cần phải kết hợp nhiều quá
trình nhận thức khác nhau để giải quyết vấn đề [76].
Doric Wenke và Peter A. Frensch (2005) (Đại học Humboldt ở Berlin) đề cập
đến ảnh hưởng của các khả năng trí tuệ trong việc giải quyết vấn đề phức tạp. Theo
các tác giả này, khả năng trí tuệ của một người là những khả năng, những quá trình,
những cơ chế nhận thức làm cho người này khác với người kia, ảnh hưởng tới sự thực
hiện các nhiệm vụ khác nhau, không thay đổi bởi kinh nghiệm của người đó. Trong
khả năng trí tuệ có sự tham gia của trí thông minh tổng quát, các thành phần của trí
thông minh chuyên biệt như: khả năng xử lý hay còn gọi là khả năng suy luận, kiến
thức hệ thống [90].

2
0


Trong khi đó, một số các tác giả khác lại quan tâm đến các bước giải quyết vấn
đề. Simon (1986) xác định qui trình giải quyết vấn đề gồm thiết lập mục tiêu và thiết
kế hành động [82].


2
1


cần nắm được để giải quyết thành công những vấn đề mà họ đối mặt trong cuộc sống.
Chẳng hạn, John Malouff (Viện nghiên cứu tâm lý thuộc Đại học New England, Úc)
(2002) đưa ra 50 chiến lược giải quyết vấn đề, chia thành 9 loại với những ví dụ cụ
thể. Đó là những chiến lược giúp con người hiểu được vấn đề, đơn giản hóa các nhiệm
vụ, xác định nguyên nhân của vấn đề, sử dụng các sự giúp đỡ từ bên ngoài để tìm ra
các cách giải quyết có thể, sử dụng các kiểu suy luận để tìm cách cách giải quyết có
thể có, xác định cách giải quyết nào là tốt nhất... [72].
Tóm lại, việc nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống nói
chung đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học, đặc biệt ở Phương Tây. Các
nghiên cứu chủ yếu hướng vào các qui trình kỹ thuật với các bước để giải quyết vấn
đề, các khả năng và kỹ năng liên quan đến việc giải quyết vấn đề, các chiến lược giải
quyết vấn đề.
*Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong một số lĩnh vực hoạt
động cụ thể
Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong lĩnh vực hoạt động thực tiễn cụ
thể có thể chia làm 3 hướng nghiên cứu sau đây: hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết
vấn đề xã hội, hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường, hướng
nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý.
+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội:
Từ nhận thức được tầm quan trọng của giải quyết vấn đề và sau khi xem xét lý
thuyết nghiên cứu giải quyết vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau với việc xác định các
công việc có liên quan mà các nhà tâm lý học đã nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề
ở các lĩnh vực xã hội khác nhau. Năm 1971, D. Zurilla và Goldfried đã có một bài viết
chuyên đề đưa ra một mô hình đào tạo giải quyết vấn đề nhằm nâng cao năng lực xã
hội và giảm đau khổ tâm lý cho những người gặp những vấn đề về mặt tâm lý trong

vấn đề trong cuộc sống. Định hướng vấn đề của một người có thể là tích cực hay tiêu
cực. Một định hướng vấn đề tích cực là xem vấn đề như một thách thức, lạc quan, tin
tưởng rằng các vấn đề sẽ được giải quyết, nhận thức được khả năng của mình có thể
giải quyết được vấn đề và tin rằng sẽ thành công trong việc giải quyết vấn đề. Ngược
lại, định hướng vấn đề tiêu cực là xem vấn đề như các mối đe dọa, mong đợi các vấn
đề nan giải, nghi ngờ khả năng thành công của bản thân và thất vọng, buồn bã khi phải
đối mặt với vấn đề.
Vấn đề phong cách giải quyết vấn đề được gọi là giải quyết vấn đề thích hợp,
đề cập đến mô hình nhận thức - hành vi cốt lõi. Mô hình này mô tả 3 phong cách khác
nhau và gồm 4 kỹ năng giải quyết vấn đề cụ thể hợp lý là nhận thức và xây dựng vấn
đề, lựa chọn các phương pháp, ra quyết định và thực hiện các giải pháp [57].
Anja Vaskinn A.B, Kjetil Sundet C, Christina. M (2009) và một số tác giả khác
ở Viện tâm thần học, Đại học Oslo, Nauy, trong công trình nghiên cứu về “kỹ năng
giải quyết vấn đề trong hoạt động tâm thần phân liệt cao” của người bị tâm thần phân
liệt cao dựa trên mô hình xử lý thông tin đã cho rằng việc giải quyết những vấn đề xã
hội xảy ra theo một tuần tự giai đoạn, đầu tiên là vấn đề được phát hiện (giai đoạn xác

2
3


định và mô tả vấn đề), sau đó suy nghĩ và liệt kê các giải pháp có thể có (giai đoạn xử
lý) và cuối cùng trả lời [58].
Nadine Revheima và Alice Medaliab (2004) ở Viện nghiên cứu tâm thần ở Mỹ
trong công trình nghiên cứu “kỹ năng nhớ lời nói, kỹ năng giải quyết vấn đề cho
những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt ” có đưa ra kết luận: Nhận thức vấn đề và giải
quyết vấn đề là một kỹ năng phức tạp và đó là sản phẩm của nhiều qui trình trí tuệ và
nỗ lực đã được thực hiện để giải quyết tốt các vấn đề [78].
Như vậy, nhóm nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội tuy có cách nhìn
nhận, phân chia khác nhau nhưng đều thống nhất là xem kỹ năng giải quyết vấn đề là

quá trình quan trọng được diễn ra theo 3 bước: Tìm ra nguyên nhân của vấn đề, tìm
kiếm cách tốt nhất để giải quyết vấn đề và giải quyết bằng cách sử dụng kỹ năng lý
luận, ý thức kinh nghiệm, hoặc bất kỳ kỹ năng nào có thể liên quan đến giải quyết vấn
đề. Có nhiều thành phần liên quan đến giải quyết vấn đề như nhận thức, năng khiếu,
chỉ số IQ, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, khả năng học tập, tính cách, động lực,
kinh nghiệm [70].
Công trình nghiên cứu của Đại học Amasya - Thổ Nhĩ Kỳ (2011) với đề tài
“Kỹ năng giải quyết vấn đề của các thí sinh giáo viên”, nhóm tác giả đã đưa ra quan
điểm về vấn đề và giải quyết vấn đề. Cụ thể: Vấn đề được định nghĩa là khó hiểu đối
với nhận thức của cá nhân, là một thách thức ngăn cản đến việc đạt mục tiêu của cá
nhân. Ba tính năng chính của vấn đề là mục đích, các rào cản trong cách đạt mục đích
và cá nhân cảm thấy căng thẳng để đạt mục đích. Giải quyết vấn đề là ý thức để
nghiên cứu kế hoạch thực hiện một chủ đề có ý thức nhằm đạt được một mục đích mà
không thể đạt được một cách dễ dàng. Giải quyết vấn đề như là chỉ đạo các hoạt động
nhận thức thành mục tiêu. Nhóm tác giả này cũng đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến
thành công của giải quyết vấn đề đó là nhận thức, tình cảm và kinh nghiệm. [71].
Công trình nghiên cứu thí điểm mô hình giải quyết vấn đề của nhóm do nhóm
tác giả J.Stephen Newton, Robert H. Horner, Anne W. Todd của Đại học Oregon và
Robert F. Algozzine và Kate M. Algozzine của Đại học Bắc Carolina tại Charlotte
(2012) đã đưa ra qui trình giải quyết vấn đề cho nhóm nhằm đưa ra quyết định bằng
mô hình TIPS gồm 6 bước: Thiết lập các cơ sở giải quyết vấn đề, xác định vấn đề,
phát triển và sàng lọc giả thuyết, thảo luận và lựa chọn giải pháp, xây dựng và thực
hiện kế hoạch hành động giải quyết vấn đề, đánh giá và sửa đổi kế hoạch hành động
giải quyết vấn đề [79].
Erdal Bay, Birsen Bagceci và Bayram Cetin- Khoa Giáo dục, Đại học
Gaziantep, Gaziantep, Thổ Nhĩ Kỳ (2012) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của phương
pháp kiến tạo xã hội đến giải quyết vấn đề ở người học” khi nghiên cứu giải quyết vấn
đề ở người học đã xem giải quyết vấn đề trong học tập là quá trình cá nhân vận dụng
kiến thức của mình để tìm giải pháp khi tiếp cận một vấn đề- đây là một kỹ năng tư
duy quan trọng. Giải quyết vấn đề cũng được định nghĩa như kỹ năng nhận thức cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status