Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Kỹ năng quản lý là công cụ hữu hiệu giúp cho những nhà quản lý nói chung
và các nhà quản lý cấp cơ sở nói riêng nâng cao hiệu quả quản lý xã hội. Các kỹ
năng quản lý cũng là yếu tố quan trọng để giúp các nhà quản lý cấp cơ sở hiểu rõ
và nhận thức đúng đắn về đối tượng mà mình quản lý. Đồng thời, với việc vận
dụng hiệu quả các kỹ năng quản lý thì người cán bộ quản lý cấp cơ sở có thể năng
động, sáng tạo trong công việc, nhất là trong quá trình giải quyết các vấn đề nảy
sinh của thực tiễn.
Trong các kỹ năng quản lý thì kỹ năng giải quyết các vấn đề liên quan
đến người dân được xem là kỹ năng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là “cầu nối”
giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, là một trong những nhân tố tác động trực
tiếp đến việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân mà Hiếp pháp đã quy định thể
hiện bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân, thể hiện sâu sắc quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói, để củng cố mối quan hệ,
lòng tin giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước chúng ta cần phải: Giữ chặt mối
quan hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng
lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.
Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ
sở là một trong những kỹ năng có vai trò quan trọng hiện nay. Vai trò của kỹ năng
này không chỉ ở chỗ giải quyết được nhu cầu, bức xúc của người dân về đất đai để
tránh được tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, mà còn tạo niềm tin
của dân với nền hành chính Nhà nước - khi mà giải quyết tranh chấp đất đai hiện
nay được xem là vấn đề nổi cộm, việc giải quyết còn nhiều bất cập, yếu kém,
thường kéo dài, phí tổn nhiều, hiệu quả ít, gây không ít phiền toái, bức xúc cho
người dân. Theo những báo cáo gần đây của chính phủ và của các địa phương, có
đến khoảng 70% các vụ khiếu kiện là liên quan đến lĩnh vực đất đai, có những vụ
khiếu kiện tranh chấp đất đai kéo dài gây nhiều phiền hà cho người dân, ảnh
hưởng đến sự ổn định của xã hội

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản
lý hành chính cấp cơ sở và một số yếu tố tác động đến kỹ năng này.

2


4.2. Khách thể nghiên cứu
Số lượng khách thể là 217, bao gồm:
- Chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn.
- Phó chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn.
- Cán bộ địa chính, xây dựng phường, xã, thị trấn.
- Cán bộ tư pháp phường, xã, thị trấn.
Ngoài ra có phỏng vấn 30 cán bộ và người dân có liên quan, hiểu biết về vấn
đề nghiên cứu.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
5.1. Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp
cơ sở đạt được ở mức trung bình, trong đó tính đúng đắn của kỹ năng được thể hiện
tốt nhất; tính thuần thục thể hiện kém nhất. Thâm niên công tác, thâm niên giải quyết
tranh chấp đất đai và địa bàn sinh sống là những tiêu chí tạo ra sự khác biệt trong kỹ
năng của họ.
5.2. Trong những yếu tố tác động được nghiên cứu thì yếu tố đánh giá cán bộ;
cơ chế, thủ tục hành chính có tác động mạnh hơn đến kỹ năng giải quyết tranh chấp
đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.
5.3. Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính
cấp cơ sở có thể được nâng cao thông qua bồi dưỡng kiến thức về nội dung, mục
đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành
rèn luyện các kỹ năng để giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai đặt ra.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

tâm lý, đồng thời là nơi thể hiện sinh động đời sống tâm lý của con người. Các kỹ
năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động
GQTCĐĐ của chính quyền cấp cơ sở. Chính vì vậy, việc nghiên cứu phải thông qua
quan sát, đánh giá hoạt động GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở và hoạt động giải
quyết các tình huống mô phỏng các tình huống có thật trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của họ.
- Nguyên tắc hệ thống: Các hiện tượng tâm lý luôn có sự tác động qua lại và
ảnh hưởng lẫn nhau. Sự nảy sinh, hình thành và phát triển của một hiện tượng tâm lý
chịu sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Chính vì vậy, để hiểu rõ
bản chất của một hiện tượng tâm lý nào đó chúng ta cần phải nghiên cứu nó một cách
có hệ thống.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp chủ yếu phục vụ cho nghiên cứu lí luận là phương pháp
nghiên cứu văn bản, tài liệu.

4


7.3. Nhóm phương pháp điều tra thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp giải quyết các bài tập tình huống.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thực nghiệm tác động.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1. Đóng góp về mặt lí luận
- Là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng giải quyết tranh chấp
đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, luận án đã góp phần làm sáng tỏ

cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở trong tình hình hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn
giúp cho các cấp lãnh đạo, luật gia, những người soạn thảo qui định về giải quyết
tranh chấp đất đai có thể sửa đổi, điều chỉnh các qui định cho phù hợp với thực
tiễn giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay.
9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục các
công trình đã công bố và phụ lục, luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai
của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất
đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ SỞ
1.1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề ở nước ngoài
1.1.1.1.

Nghiên cứu về kỹ năng

Kỹ năng là một vấn đề luôn được các nhà Tâm lý học quan tâm bởi giá trị vận

văn hóa…là do các thế hệ trước truyền đạt lại cho thế hệ trẻ. [ theo19, tr. 228-229].
Bắt nguồn từ hệ thống tư tưởng của Vưgốtxki, X.L Rubinstein cho rằng, hoạt
động của con người không phải là phản ứng đối với kích thích bên ngoài, thậm chí
không phải là quá trình làm việc với tính chất là những thao tác của chủ thể tác động
lên khách thể, mà đó là “sự chuyển hóa của chủ thể thành khách thể”. Sự chuyển hóa
này là quá trình đối tượng hóa chủ thể, được diễn ra từ quá trình thứ nhất là con người
dùng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…của mình để tham gia vào việc sáng tạo ra thế giới
đối tượng đến quá trình thứ hai được hiểu là quá trình hình thành ý thức, tâm lý tức là
hình thành chính tri thức, kỹ năng, kỹ xảo [ theo 19, tr.250-251].
Nghiên cứu về kỹ năng cũng được các nhà giáo dục học Xô Viết nghiên cứu.
N.K Crupxcaia, A.X Makarenko, V. Friklen đã đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc
dạy đặt kế hoạch và tự kiểm tra. Đặc biệt, N.K Crupxcaia rất quan tâm đến việc hình
thành những kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông [6].
Khi thuyết hoạt động của A.N Leonchiev ra đời, hàng loạt những công trình
nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo được công bố. Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu của
một số nhà khoa học như:
V.A.Cruchetxki quan niệm, kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện
tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều
kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi [8].
A.V Pêtrovxki xem xét kỹ năng của những hành động phức tạp và điều kiện
hành động không ổn định. Ông nhấn mạnh cơ sở của việc hình thành kỹ năng là các
tri thức, kỹ năng đã có do thực hiện các hành động tương tự trước đó mang lại [42].
V.V Tsêbưsêva cho rằng, kỹ năng với tư cách là năng lực thực hiện một hành
động nào đó dựa trên những tri thức, kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt
động [51].
* Hướng nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động
Bao gồm kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm, học tập, lao động, giao tiếp, kinh
doanh, lãnh đạo quản lý. Cụ thể:
- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm và giao tiếp.
Trong lĩnh vực sư phạm, người đầu tiên phải kể đến là V.V Tsêbưsêva. Theo

năng, kỹ xảo; vai trò của kỹ năng trong lao động; vấn đề hình thành kỹ năng cho
người lao động…V.G. Loox nêu rõ vai trò của kỹ năng nghề nghiệp và sự hình thành
của chúng trong hoạt động; Phrederic W. Taylor đưa ra quan điểm học thuyết “sản
xuất dây chuyền” phải có sự chuyên môn hóa cao trong thao tác của người lao động.
Mỗi người trong tổ chức dây chuyền lao động được qui định từng thao tác, từng chức
năng chi tiết chặt chẽ, từng giờ, từng phút, không có thao tác thừa, không có sự trùng
lặp, ai làm việc nấy nên rất tiết kiệm thời gian và sức lực [17, tr.9].

10


Các nhà tâm lý học Phương Tây, khi nghiên cứu kỹ năng lao động của người
công nhân trong quá trình vận hành máy móc đã coi trọng mặt kỹ thuật của hành
động, đó là yếu tố qui định hoạt động tâm lý của con người, kể cả tư duy và việc hình
thành kỹ xảo. Quá trình này được rèn luyện công phu và có phương pháp trong quá
trình thao tác với máy móc. Trong một số lĩnh vực hoạt động chuyên môn, người
công nhân có trình độ cao thì thao tác chính xác và nhanh. Xét về một phương diện
nào đó, sự thành thạo về thao tác là điều quan trọng để nâng cao hiệu quả lao động.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hoạt động của con người đều cần phải đạt
đến kỹ xảo. Trên thực tế, nhiều hoạt động đòi hỏi người lao động phải linh hoạt, mềm
dẻo để thích ứng với hoàn cảnh mới, điều kiện mới, nhất là lao động phức tạp, trong
những điều kiện biến động, con người không chỉ thành thạo các thao tác nghề nghiệp,
mà còn cần có sự linh hoạt, sáng tạo.
- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực quản lý.
Khi nghiên cứu về năng lực tổ chức, V.I. Mikheev, L.Umanxki, A.I. Kitôv
(1985) coi kỹ năng tổ chức là một yếu tố, một dấu hiệu đầu tiên của năng lực tổ chức
hoạt động. Theo các tác giả, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức là học tập và rèn
luyện thường xuyên của người học [27].
Harold Koontz, Cysil Odonnell và Heinz Weihrich (1998) đã phân loại các kỹ
năng quản lý cơ bản như: kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng quan hệ, kỹ năng nhận thức, kỹ

kiến thức, kinh nghiệm, tư duy…để giải quyết.
Về giải quyết vấn đề, theo các nhà Tâm lý học nhận thức thì một phần cơ bản
trong cuộc sống của con người là giải quyết các vấn đề đặt ra. Chính vì vậy mà kỹ
năng giải quyết vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, các phương pháp giải
quyết vấn đề của con người đã được nghiên cứu bởi các nhà Tâm lý học trong hàng
trăm năm qua.
Các nhà Tâm lý học theo trường phái Gestalt như: Koler (1925) và
Wertheimer (1945) cho rằng giải quyết vấn đề là quá trình học được câu trả lời và tìm
được vấn đề thực sự phải giải quyết [89]. Kohler quan sát thấy rằng, những con khỉ
không đuôi mà ông làm thí nghiệm có thể kết hợp hai cây gậy với nhau để lấy được
một quả chuối ngoài lồng. Từ đó Ông kết luận, loài khỉ đã đọc được câu trả lời khi
kết hợp hai cậy gậy với nhau và vấn đề được giải quyết hoàn chỉnh [74].
Vào những năm giữa thế kỷ 20, các nhà khoa học nhận thấy việc giải quyết
vấn đề trở nên quan trọng. Một số nhà khoa học như: Hall, Skinner, Newell, Simon,
Shaw- là nhóm đầu tiên nghiên cứu cụ thể ý tưởng của những người có khả năng giải
quyết vấn đề. Họ nhấn mạnh việc giải quyết những vấn đề trên máy tính dễ hơn so
với làm việc với con người. Newell, Simon, Shaw (1958) giới thiệu một lý thuyết
mới về việc giải quyết vấn đề dựa trên khái niệm về chế biến thông tin và lập trình
máy tính [80].

12


Gần đây, việc nghiên cứu giải quyết vấn đề trở nên phong phú hơn. Cùng quan
điểm xem giải quyết vấn đề như là hoạt động của tư duy có các tác giả: Goldstein và
Lewin (1987) xác định ý nghĩa của giải quyết vấn đề như là một phương pháp luận
của quá trình tư duy để giải quyết vấn đề. Và đây là một quá trình nhận thức bậc cao
đòi hỏi phải có sự điều tiết và kiểm soát thường xuyên. Quá trình này là một qui trình
rõ ràng gồm có các kỹ năng cơ bản [68]. Burroughs và Mick (2004) thì khẳng định,
tư duy sáng tạo là nguồn tài nguyên hữu ích có thể được sử dụng trực tiếp để giải

thông minh chuyên biệt như: khả năng xử lý hay còn gọi là khả năng suy luận, kiến
thức hệ thống [90].
Trong khi đó, một số các tác giả khác lại quan tâm đến các bước giải quyết vấn
đề. Simon (1986) xác định qui trình giải quyết vấn đề gồm thiết lập mục tiêu và thiết
kế hành động [82].
Vangundy (1988) chia quá trình giải quyết vấn đề ra làm 5 giai đoạn: nhận
thức vấn đề, định nghĩa vấn đề và phân tích vấn đề từ tìm kiếm thông tin, tạo ra ý
tưởng để tìm kiếm giải pháp, đánh giá và lựa chọn các ý tưởng, thực hiện các giải
pháp thích hợp [88].
Các nhà lý thuyết khác lại đưa ra quan điểm khác về quá trình giải quyết vấn
đề. Bank (1992) đưa ra 6 bước khác nhau để giải quyết vấn đề: xác định vấn đề, xác
định các nguyên nhân, tạo ra các giải pháp, chọn giải pháp, thực hiện các giải pháp,
đánh giá kết quả [59].
Buchanan và Boddy (1992) cho thấy mô hình giải quyết vấn đề gồm 9 giai
đoạn: nhận diện vấn đề, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, đưa ra giải pháp, lựa chọn
giải pháp, lập kế hoạch thực hiện, thực hiện giải pháp, đánh giá việc thực hiện và đưa
ra kết quả, tiếp tục cải thiện [61].
Các nhà nghiên cứu R.J. Sternberg (1986) [86], J.R. Hayes (1989) [69], J.D.
Bransford và B.S Stein (1993) [62], J.E. Pretz và A.J. Naples [81] (Đại học Yale) cho
rằng con người cần tiến hành giải quyết vấn đề theo qui trình gồm 7 bước như sau:
nhận biết vấn đề, định nghĩa và biểu đạt vấn đề trong óc, đề ra các chiến lược giải
quyết, sắp xếp các kiến thức của mình về vấn đề, huy động các nguồn lực trí tuệ và
thể chất để giải quyết vấn đề, giám sát các kết quả đạt được hướng tới mục tiêu và
cuối cùng - đánh giá tính đúng đắn của phương án giải quyết. Đây là quá trình trí tuệ
diễn ra trong đầu. Người giải quyết vấn đề thành công là tiến hành linh hoạt các bước
tùy từng tình huống cụ thể.
Đặc biệt, tác giả Sharon L. Marcelle Crain (2002) (Đại học quốc tế AlliantSan Diego) khi đề cập đến tầm quan trọng của việc huấn luyện các kỹ năng xã hội và
kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ em đã nhấn mạnh một số kỹ năng (thuộc về kỹ
năng giải quyết vấn đề) cần huấn luyện như: nhận dạng tình huống có vấn đề, phát
hiện tình huống có vấn đề, xác định bản chất của vấn đề, tập trung các ý tưởng để giải

vấn đề ở các lĩnh vực xã hội khác nhau. Năm 1971, D. Zurilla và Goldfried đã có một
bài viết chuyên đề đưa ra một mô hình đào tạo giải quyết vấn đề nhằm nâng cao năng
lực xã hội và giảm đau khổ tâm lý cho những người gặp những vấn đề về mặt tâm lý
trong cuộc sống. Kể từ thời điểm đó, có một số lượng đáng kể các nghiên cứu đã
được tiến hành để kiểm tra các giả thuyết khác nhau của mô hình này. Trong đó,
phương pháp bổ sung để giải quyết vấn đề trong tình huống thực tế đã được phát hiện
trong những thập kỷ qua như: giải quyết vấn đề với nhận thức của cá nhân của
15


Spivack, Platt và Shure (1976); Cá nhân giải quyết vấn đề của Heppner và Petersen
(1982); Cá nhân với việc giải quyết vấn đề thực tế của Denny và Pearce (1989).
Nhóm các nhà tâm lý học mang tên “Giải quyết vấn đề và sửa đổi hành vi”,
đã đề xuất một mô hình khái niệm đào tạo giải quyết vấn đề nhằm tăng cường năng
lực giải quyết vấn đề xã hội cho người dân ở các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lý học
giáo dục (Bloom và Broder, 1950); Lĩnh vực sáng tạo (Parries và Meadow, 1959);
Tâm lý học hành vi (Skinner, 1953); Lĩnh vực công nghiệp (Osborn, 1963). Và một loạt
những công trình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề cho những người gặp phải
những vấn đề về tâm lý như: kỹ năng giải quyết vấn đề cho những người bị bệnh, những
người có vấn đề về khả năng nhận thức như bị tâm thần phân liệt, trí tuệ bị khuyết tật, trẻ
bị chấn thương não, trẻ bị rối loạn hành vi và cảm xúc, trẻ chậm phát triển.
Nghiên cứu vấn đề này, đại diện có tác giả Arthur M. Nezu (2004) với công trình
nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề và hành vi trị liệu. Tác giả cho rằng, giải quyết
vấn đề là quá trình nhận thức, hành vi mà con người phải nỗ lực để xác định hoặc khám
phá các giải pháp hiệu quả nhằm thích ứng với những vấn đề căng thẳng gặp phải trong
cuộc sống hàng ngày. Ông cũng cho rằng, kết quả của việc giải quyết vấn đề đã được xác
định bởi 2 yếu tố liên quan với nhau nhưng lại độc lập nhau là khả năng định hướng vấn
đề và phong cách giải quyết vấn đề. Khả năng định hướng vấn đề là tập hợp các lược đồ
nhận thức, tình cảm tương đối ổn định, nó bao hàm niềm tin, thái độ, phản ứng và khả
năng thành công của một người trong việc đối phó với các vấn đề trong cuộc sống. Định

+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường:
Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường với đối tượng
tập trung vào nhóm khách thể là học sinh, sinh viên. Bao gồm những nghiên cứu như:
kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ trước tuổi đi học, kỹ năng giải quyết vấn đề và niềm
tin của học sinh tiểu học, kỹ năng giải quyết vấn đề của thiếu niên tiếp xúc với bạo
lực, kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên đại học... Hướng nghiên cứu này có các
tác giả tiêu biểu sau:
Sena GÜRŞEN OTACIOĞLU- Trong công trình nghiên cứu “Kỹ năng giải
quyết vấn đề và sự tự tin của giáo viên tương lai” (2008) cho rằng , giải quyết vấn đề
là sự lựa chọn sử dụng các công cụ tư duy và hành động hữu ích để đạt được mục tiêu
mong muốn, Có thể phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề bằng cách thảo luận các ý
tưởng và cảm xúc, bằng cách xác định tầm quan trọng của vấn đề và quan tâm đến
nhu cầu của con người. Phương pháp giải quyết vấn đề đòi hỏi một quá trình với các
giai đoạn có thể được tóm tắt như: nhận thức vấn đề, xác định và phân loại vấn đề,
tìm ra những khó khăn trong các loại vấn đề, đưa ra các giải pháp và đánh giá. Công
trình nghiên cứu cũng đưa ra kết luận mức độ cao của sự tự tin và khả năng tư duy
sáng tạo sẽ làm cho cá nhân có kỹ năng giải quyết vấn đề ở mức độ cao hơn [83].
Kunchon Jeotee- Trường Đại học Durham Thái Lan (2012) với luận án tiến sĩ
về “Kỹ năng suy luận, khả năng giải quyết vấn đề và khả năng học tập: tác động đối
17


với chương trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh giáo dục đại học ở
Thái Lan” đã rút ra kết luận: Kỹ năng được xác định để giải quyết vấn đề là kỹ năng
suy luận, kinh nghiệm, ý thức và mối quan hệ của con người. Giải quyết vấn đề là
một quá trình quan trọng được diễn ra theo 3 bước: Tìm ra nguyên nhân của vấn đề,
tìm kiếm cách tốt nhất để giải quyết vấn đề và giải quyết bằng cách sử dụng kỹ năng
lý luận, ý thức kinh nghiệm, hoặc bất kỳ kỹ năng nào có thể liên quan đến giải quyết
vấn đề. Có nhiều thành phần liên quan đến giải quyết vấn đề như nhận thức, năng
khiếu, chỉ số IQ, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, khả năng học tập, tính cách, động

giải quyết vấn đề hiệu quả [65].
+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý:
Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý được các nhà Tâm
lý học Phương Tây rất quan tâm. Hầu hết các tác giả đều có chung nhận định: một
nhà lãnh đạo phải có kỹ năng lãnh đạo, trong đó kỹ năng giải quyết vấn đề là kỹ năng
quan trọng không thể thiếu. Cùng quan điểm này có các tác giả:
- Nhóm tác giả Michael D. Mumford Đại học Oklahoma, Stephen J. Zaccaro
và Edwin A. Fleishman Đại học George Mason, Francis D.Harding Viện Nghiên
cứu Quản lý, T. Owen Jacobs Đại học Quốc phòng (2000), trong Công trình nghiên
cứu về kỹ năng lãnh đạo “Giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp cho nhà lãnh đạo”
đã cho rằng, một nhà lãnh đạo hiệu quả phải có 2 yêu cầu về kỹ năng và kiến thức.
Lãnh đạo là giải quyết vấn đề. Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình mới cho tổ chức
lãnh đạo và đưa ra quan điểm tổ chức lãnh đạo là một hình thức hoạt động có tay
nghề cao. Mô hình này dựa trên các kỹ năng lãnh đạo tổ chức – đó chính là kỹ năng
giải quyết vấn đề. Giải quyết vấn đề là một tập hợp các kỹ năng và kiến thức cần
thiết, trong đó nhận thức tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng trong giải quyết vấn đề.
Giải quyết vấn đề gồm các giai đoạn: xác định vấn đề, hiểu được vấn đề, đưa
ra các giải pháp tiềm năng, sàng lọc các giải pháp tiềm năng, thực hiện các giải pháp.
Mỗi giai đoạn yêu cầu mức độ khác nhau về nhận thức và sự sáng tạo.
Kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo thu thập được trong quá trình hoạt động của
mình có ảnh hưởng đến kiến thức cần thiết và kỹ năng sẵn có để giải quyết vấn đề [77].
- Nhóm tác giả Stephen J. Zaccaro Đại học George Mason, Michael D.
Mumford Đại học Oklahoma, Mary Shane Connelly Viện Nghiên cứu Quản lý,
Michelle A. Marks Đại học Quốc tế Florida, Janelle A. Gilbert California State
University ở San Bernardino (2000), trong công trình nghiên cứu về khả năng giải
quyết vấn đề đã đưa ra quan điểm, các yếu tố kiến thức lãnh đạo, khả năng, kỹ năng,
động lực và cá tính sẽ thúc đẩy việc giải quyết vấn đề của nhà lãnh đạo hiệu quả. Có
8 kỹ năng để xử lý giải quyết vấn đề. Bao gồm: các vấn đề xây dựng, mã hóa thông
tin, thể loại tìm kiếm, đặc điểm kỹ thuật thể loại, kết hợp và tổ chức lại, ý tưởng đánh
giá, giải pháp thực hiện và giải pháp giám sát [84].

Xác định vấn đề, xử lý vấn đề theo thứ tự ưu tiên, chọn người giúp giải quyết vấn đề,
tổng hợp nguyên nhân gây ra vấn đề, tổng hợp phương án giải quyết vấn đề, ưu tiên
chọn các giải pháp tốt nhất, thực hiện các giải pháp tốt nhất, đề ra các nguyên tắc
hoặc chính sách để tránh lặp lại vấn đề cũ [35].
Các tác giả theo hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý
đều xem: giải quyết vấn đề chính là một kỹ năng quan trọng của nhà lãnh đạo; giải

20


quyết vấn đề là hoạt động tư duy và giải quyết vấn đề là một qui trình gồm nhiều
bước khác nhau.
1.1.2. Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng trong các lĩnh vực hoạt động ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chủ yếu
nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động cụ thể.
Trong lĩnh vực sư phạm, có các tác giả như: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Như
An, Nguyễn Ngọc Bảo, Ngô Công Hoàn đã nghiên cứu kỹ năng hoạt động sư phạm
và nhấn mạnh qui trình hình thành kỹ năng này cho sinh viên các trường sư phạm.
Ngô Công Hoàn, Hoàng Thị Oanh (1992) không đi sâu vào việc nghiên cứu
những vấn đề chung về kỹ năng, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu kỹ năng giao tiếp,
đặc biệt là cấu trúc kỹ năng giao tiếp sư phạm gồm 3 nhóm: Nhóm kỹ năng định
hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp.
Các nhóm kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau [37].
Các tác giả Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh đến vai trò của
kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động lao động, các điều kiện và các giai đoạn hình thành
kỹ năng, kỹ xảo. Cụ thể, tác giả Phạm tất Dong (1984) đưa ra 4 giai đoạn hình thành
kỹ năng: Giai đoạn hình thành kỹ năng sơ bộ, giai đoạn kỹ năng chưa thành thạo,
giai đoạn phát triển cao, giai đoạn kỹ năng phát triển cao nhất. Mỗi giai đoạn có
những đặc điểm đặc trưng và những yêu cầu nhất định [10].

Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề ở lĩnh vực hoạt động thực
tiễn cụ thể được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là lĩnh vực khoa học kỹ thuật và
giáo dục.
Ở lĩnh vực khoa học kỹ thuật, Phan Dũng (2001) quan niệm: Quá trình suy
nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định chính là quá trình biến đổi thông tin: biến đổi
những thông tin của bài toán thành thông tin của lời giải. Theo Phan Dũng, kỹ năng
giải quyết vấn đề hay bài toán đòi hỏi phải tiến hành hành động tư duy theo một qui
trình mà ông gọi là “chương trình rút gọn quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra
quyết định”, bao gồm 6 bước: hiểu bài toán, đề ra mục đích cần đạt, trả lời các câu
hỏi (xem xét từng yếu tố), phát biểu mâu thuẫn, phát ra các ý tưởng có thể có để giải
quyết mâu thuẫn, ra quyết định (chọn ý tưởng tối ưu) [14, tr.44].
Ở lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề chủ yếu tập
trung vào kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm có vấn đề. Các tác giả, Trần Trọng
Thủy, Ngô Công Hoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Quang Uẩn (1990) xem
việc giải quyết các tình huống sư phạm trong dạy học và giáo dục như khả năng ứng
xử sư phạm của giáo viên [53]. Nguyễn Ngọc Bảo (1989), Nguyễn Đình Chỉnh
(1992), Nguyễn Ánh Tuyết (1992), Bùi Ngọc Hồ (1993), Ngô Công Hoàn (1995) đều
cho rằng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm phải được hình thành và rèn luyện
cho đội ngũ các nhà giáo tương lai ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm.
22


Các tác giả cũng biên soạn một hệ thống phong phú những bài tập thực hành tâm lý
học và giáo dục học giúp sinh viên sư phạm rèn luyện kỹ năng này.
Đặc biệt, tác giả Nguyễn Đình Chỉnh (1995) cho rằng kỹ năng giải quyết tình
huống sư phạm đòi hỏi phải tuân theo một qui trình các bước giải quyết tình huống,
bao gồm: biểu đạt vấn đề cần giải quyết trên cơ sở đã phân tích, xác định các dữ liệu
của tình huống; đề ra các cách giải quyết; chọn cách giải quyết hợp lý nhất và giải

trong cuốn sách “Quản trị học” cũng nêu ra 34 tình huống điển hình trong quản trị
[21] . Nguyễn Hoàng Linh và Vũ Xuân Tiền (2000) trong “Sổ tay giám đốc” đã thống
kê 500 tình huống quản lý và các qui định của pháp luật khi xử lý [29].
Một số tác giả lại nghiên cứu kỹ năng giải quyết các tình huống quản lý như:
-

Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Quý (2006), nghiên cứu “Các thành tố

trong tư duy giải quyết tình huống quản lý của người cán bộ chủ chốt cấp huyện”.
Tác giả đã đưa ra những thành tố trong tư duy giải quyết tình huống quản lý của
người cán bộ chủ chốt cấp huyện gồm 3 thành tố: phân tích, suy xét và lập kế hoạch
hành động trong đầu. Ba thành tố này diễn ra một cách liên tục theo trình tự, nhưng
lại đan xen nhau trong quá trình người cán bộ chủ chốt cấp huyện giải quyết tình
huống quản lý [44].
-

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Tú Quyên (2006), nghiên cứu “Kỹ năng giải

quyết các tình huống quản lý của học viên Học viện Chính trị khu vực I Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh” cho rằng, Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý là
chủ thể quản lý biết tiến hành những thao tác tư duy đúng trong quá trình giải quyết
tình huống quản lý, tìm ra được lời giải hợp lý và tối ưu nhất cho tình huống có vấn
đề chứa đựng mâu thuẫn đang được đặt ra trước họ. Kỹ năng giải quyết tình huống
bao gồm 3 thành tố cơ bản: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng phối hợp tổ
chức- chỉ đạo, nhóm kỹ năng kiểm tra- đánh giá và hiệu chỉnh quá trình giải quyết
tình huống quản lý. Qui trình giải quyết một tình huống quản lý gồm 6 bước: phát
hiện và xác định vấn đề, đưa ra các giải pháp khác nhau, phân tích các giải pháp,
chọn giải pháp tối ưu nhất và quyết định, thực hiện quyết định và đánh giá kết quả
thực hiện, rút ra bài học kinh nghiệm [45].
-

về luật đất đai cũng như thủ tục, qui định việc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai
hiện nay.[2]
Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề,
chúng tôi nhận thấy:
- Khi nghiên cứu, các tác giả đều xem giải quyết vấn đề là hoạt động tư duy và
qui trình giải quyết vấn đề gồm nhiều giai đoạn nhưng các tác giả lại chưa có sự
thống nhất trong quan niệm phân chia các giai đoạn của qui trình này.
- Các tác giả chưa nghiên cứu sâu về khái niệm “Kỹ năng giải quyết vấn đề”,
cấu trúc của kỹ năng giải quyết vấn đề, các tiêu chí để đánh giá kỹ năng giải quyết vấn
đề và các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả
nào nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề đất đai của cán bộ quản lý hành chính
cấp cơ sở.

25


1.2. Một số vấn đề lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất
đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
1.2.1. Kỹ năng
1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng
Tâm lý học ngày nay ngày càng được vận dụng rộng rãi vào đời sống xã hội,
một trong những vấn đề có vai trò rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn được các
nhà tâm lý học quan tâm là vấn đề kỹ năng. Chính vì vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu
đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này, có nhiều định nghĩa về kỹ năng được đưa ra, cụ thể
như sau:
Hướng thứ nhất: Kỹ năng được coi là biểu hiện của kỹ thuật hành động.
Theo quan điểm này, các tác giả như: A.V.Lêonchiev(1989) V.A.Cruchetxki
(1981), Trần Trọng Thủy (1978), A.G. Covaliov (1994), B.Ph Lomov (2000)… quan
niệm, kỹ năng là kỹ thuật hành động, là kỹ thuật thao tác, là sự kết hợp nhiều thao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status