LỜI NÓI ĐẦU
Luật đất đai năm 93, sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 của nước Cộng hoà
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định “ Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao
công sức, sương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như hiện nay”. ở nước
ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất)sử dụng ổn định,
lâu dài. Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và đặc biệt trong
những năm đổi mới các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai cũng luôn
biến động. Sự biến động này tác đồng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sở
hữu cũng như người sử dụng đất đai. Điều đó cùng là nguyên nhân gây ra nhiều
khiếu kiện vê đất đai.
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1997 trở lại đây, tình hình
khiếu kiện về đất đai diễn biến ngày càng phức tạp và gay gắt, nhiều địa phương
phát sinh khiếu kiện gay gắt và trở thành “điểm nóng” gây ảnh hưởng rất lớn đến
an ninh trật tự chính trị và xã hội. Tình hình khiếu kiện đông người vượt cấp lên
trên Trung ương mà nội dung khiếu kiện phần lớn là liên quan đến đất đai diễn ra
khá phổ biến. Đây đã và đang trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội, làm đau đầu
các ban ngành chức năng.
Trước tình hình trên, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã thường xuyên
quan tâm, đề ra nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp chỉ đạo các cấp, các ngành
xử lý giải quyết. Hàng năm các bộ, ngành, địa phương đã tâp trung giải quyết trên
dưới 80% tổng số vụ khiếu kiện nói chung và khiếu kiện vê đất đai nói riêng, bảo
vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhà nước, tập thể và cá nhân; thu hồi cho
Ngân sách Nhà nước và trả lại cho công nhân hàng trăm triệu đồng và hàng trăm
ha đất; xử lý nghiêm minh nhiều cán bộ vi phạm pháp luật, qua đó góp phần nâng
cao hiệu quả đồng thời giữ vững ổn định chính trị – xã hội, thúc đẩy phát triển sản
xuất.
Tuy nhiên, trên thực tế công tác giải quyết khiếu kiện về đất đai còn rất nhiều khó
1. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại
Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến khiếu nại các quyết định hành chính và hành vi
hành chính trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
a. Theo luật khiếu nại, tố cáo thì : “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ đề nghị cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét
lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan này khi có căn
cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, nhằm bảo về quyền, lợi
ích hợp pháp của mình.
Vậy khiếu nại liên quan đến đất đai đai là việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định, hành vi hành chính
của các cơ quan đó trong quá trình quản lý sử dụng đất đai.
b. Giải quyết khiếu nại là việc cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền tiếp
nhận, xem xét đơn, thư khiếu nại của công dân về quyết định hành chính hay hành
vi hành chính của cơ quan đó. Sau đó tổ chức Thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng
cứ, đối thoại với các bên có liên quan và đi đến kết luận cuối cùng về tính đúng, sai
của quyết định hay hành vi hành chính đó và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên có liên quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc về ai một cách hợp
tình, hợp lý, đảm bảo được yêu cầu của công tác quản lý.
2. Tố cáo và giải quyết tố cáo
a. Khái niệm tố cáo
Luật khiếu nại, tố cáo nêu: “ Tố cáo là việc của công dân theo thủ tục tố cáo do
Luật khiếu nại, tố cáo quy định báo cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào
gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
cơ quan khác.
Có thể hiểu một cách đơn giản, tố cáo về đất đai đai là việc công dân theo thủ tục
do pháp luật quy định báo cáo cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những hành
vi vi phạm pháp luật của một đối tượng nào đó trong việc quản lý và sử dụng đất
đai.
b.Khái niệm giải quyết tố cáo: Giải quyết tố cáo về đất đai đai là việc cơ quan Nhà
4. Vai trò của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trong công tác quản lý
Nhà nước về đất đai
Đất đai là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mọi quốc gia. Đó là
nguồn lực chủ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Đó cũng là mục
đích và nguyên nhân của mọi cuộc chiến tranh trên thế giới vì vậy đất đai luôn gắn
liền với vấn đề chính trị. Chính vì vậy quản lý tốt việc sử dụng đất đai không
những có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế, xã hội mà còn có ý nghĩa rất quan
trọng về mặt chính trị.Song hiện nay, tình hình khiếu kiện về đất đai diễn ra vô
cùng gay gắt và phức tạp, số vụ khiếu kiện về đất đai chiếm khoảng 60% tổng số
các vụ khiếu kiện các cơ quan Nhà nước nhận được hàng năm. Nhiều vụ khiếu
kiện liên quan đến đất đai đông người vượt cấp, đã trở thành điểm nóng gây nhức
nhối trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất. Nhận thức
được điều đó Trung ương Đảng và Chính phủ đã thường xuyên quan tâm, tập trung
chỉ đạo xây dựng và không ngừng hoàn thiện nhiều chính sách pháp luật để tăng
cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của công dân. Điều này đã
góp phần thúc đẩy công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua, góp
phần giải quyết được những bức xúc của người dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng
của họ. Đồng thời giúp Nhà nước quản lý việc sử dụng đất đai một cách chặt chẽ
và có hiệu quả. Qua việc giải quyết kh, tố cáo về đất đai đã giúp cho chính quyền
từ Trung ương đến địa phương nâng cao được vai trò trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo đặc biệt là góp phần phát huy tính chủ động của cơ sở và quyền dân chủ
của nhân dân trong quản lý và sử dụng đất đai cũng như trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo liên quan đến vấn đề đất đai, đảm bảo công bằng trong xã hội, thúc đẩy
phát triển kinh tế đất nước, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn
kết toàn dân. Đây là vấn đề quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
II. NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ
ĐẤT ĐAI
1. Những quy định pháp lý về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
1.1. Điều kiện để khiếu nại được cơ quan Nhà nước thụ lý giải quyết
Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo thì khiếu nại được cơ quan Nhà nước có
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc
một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc của người
thuộc cơ quan hành chính Nhà nước khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ theo quy
định của pháp luật. Khác với quyết định hành chính, hành vi hành chính khiếu nại
có thể là hành vi của công chức Nhà nước không làm đúng hoặc làm trái các quy
định của pháp luật về một vấn đề cụ thể nào đó hoặc làm trái các quy định của
pháp luật có thể hành vi này diễn ra dưới dạng không hành động, nghĩa là cán bộ,
công chức không làm việc mà đúng ra theo quy định của pháp luật họ có trách
nhiệm phải thực hiện.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại được xác định theo nguyên tắc: Khiếu nại đối với
các quyết định hành chính, hành vi hành chính của nhân viên thuộc quyền quản lý
của cơ quan nào thì Thủ trưởng cơ quan đó phải có trách nhiệm giải quyết. Khiếu
nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan nào
thì Thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Những khiếu nại quá thời hạn
mà không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết thì có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiệp của người đã giải quyết để yêu
cầu giải quyết lại, trừ những khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng. Dựa
trên nguyên tắc đó, quyền và trách nhiệm cụ thể trong giải quyết khiếu nại của Thủ
trưởng các cơ quan hành chính Nhà nước theo quy định như sau:
a. Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính của chính mình hoặc của người có trách nhiệm do mình
quản lý trực tiếp theo trình tự, thủ tục theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
Nếu thấy vụ việc khiếu nại có nội dung rõ ràng, có đủ căn cứ để giải quyết thì Chủ
tịch UBND cấp xã ra quyết định giải quyết ngay. Ngược lại, nếu thấy vụ việc khiếu
nại có nội dung chưa rõ ràng, chưa đủ căn cứ để giải quyết thì Chủ tịch UBND cấp
xã phải tiến hành thẩm tra, xác minh, gặp gỡ trực tiệp người khiếu nại, người bị
khiếu nại, người có quyền lợi liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của
Trường hợp này giao cho Chánh Thanh tra cấp Sở tiến hành xác minh, kết luận và
kiến nghị việc giải quyết.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết của Chánh Thanh
tra Sở hoặc Thủ trưởng các phòng ban chuyên môn thuộc Sở, Giám đốc Sở ra
quyết định giải quyết trong thời hạn quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
- Giám đốc Sở có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho các bên liên
quan và người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo; khi cần thiết phải công bố công
khai quyết định giải quyết khiếu nại.
- Giám đốc Sở có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết
khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn
đốc các cơ quan, đơn vị cấp dưới trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu
nại đã có hiệu lực pháp luật.
d. Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh)
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết:
- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra tỉnh xem xét, kết luận và kiến nghị
việc giải quyết.
- Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp huyện đã giải quyết nhưng còn khiếu nại,
khiếu nại mà Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc
phạm vi quản lý của mình. Trường hợp này, Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao cho
Chánh Thanh tra tỉnh tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết của Thủ trưởng các
cơ quan chuyên môn hoặc Chánh Thanh tra tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh ra quyết
định giải quyết khiếu nại hoặc uỷ quyền cho Chánh Thanh tra tỉnh ra quyết định
giải quyết.
Đối với trường hợp giải quyết đối với khiếu nại hành vi hành chính, quyết định
hành chính của chính Chủ tịch UBND tỉnh là quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu, còn trường hợp giải quyết khiếu nại mà cấp sở đã giải quyết nhưng còn khiếu
Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết:
- Khiếu nại đối với quyết định, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công
chức do mình quản lý trực tiếp. Bộ trưởng giao cho Thủ trưởng cục, vụ, đơn vị
chức năng hoặc Chánh Thanh tra cùng cấp xem xét, kết luận và kiến nghị việc giải
quyết.
- Khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan
thuộc Chính phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại.
- Khiếu nại mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh, khiếu nại mà Giám đốc sở đã giải quyết
nhưng còn khiếu nại mà nội dung khiếu nại thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước
của bộ, ngành mình. Bộ trưởng sẽ giao cho Chánh Thanh tra cùng cấp tiến hành
xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết.
Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết của Thủ trưởng cục,
vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra bộ, Bộ trưởng ra quyết định giải quyết
khiếu nại. Đối với trường hợp giải quyết khiếu nại đối với hành vi, quyết định hành
chính của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; còn đối với trường hợp giải
quyết tái khiếu thì đây là quyết định giải quyết cuối cùng.
- Bộ trưởng có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho các bên liên
quan và Tổng Thanh tra Nhà nước; khi cần thiết thì công bố công khai quyết định
giải quyết đó.
- Bộ trưởng có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu
nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn đốc cơ
quan đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình trong việc thi hành quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
f. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền giải quyết cuối cùng đối với:
- Khiếu nại mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , cơ quan thuộc Chính
phủ đã giải quyết nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết
cuối cùng.
- Khiếu nại đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhiều lĩnh vực quản
quan thuộc Chính phủ. Từ đó làm cơ sở cho Bộ trưởng ra quyết định giải quyết
khiếu nại.
c. Quyền và trách nhiệm của Tổng Thanh tra Nhà nước trong việc giải quyết khiếu
nại:
- Tổng Thanh tra Nhà nước được uỷ quyền để giải quyết khiếu nại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ; trường hợp có ý kiến khác nhau giữa
Tổng Thanh tra Nhà nước và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng
cơ quan thuộc Chính phủ về việc giải quyết thì Tổng Thanh tra Nhà nước báo cáo
với Chính phủ để chỉ đạo việc giải quyết hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo việc giải quyết, ra quyết định giải quyết.
- Tổng Thanh tra Nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra việc chấp hành về
khiếu nại, tố cáo. Nếu phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi
phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của công
dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người đã ra quyết định xem xét lại quyết định
giải quyết đó, trong thời hạn 15 ngày, nếu yêu cầu đó không được thực hiện thì áp
dụng các biện pháp theo thẩm quyền để yêu cầu đó được thực hiện hoặc kiến nghị
Thủ tướng Chính phủ xem xét giải quyết.
- Thanh tra Nhà nước có Thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng
đối với khiếu nại đã được Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ giải quyết
nhưng còn khiếu nại, trừ khiếu nại đã có quyết định giải quyết của Thủ trưởng cơ
quan thuộc Chính phủ là Bộ trưởng.
1.4. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai
1.4.1. Tiếp dân và tiếp nhận đơn, thư khiếu nại
Người khiếu nại làm đơn khiếu nại gửi đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức tiếp công dân tại các trụ sở tiếp công
dân và tiệp nhận đơn thư khiếu nại.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm tiếp công dâu đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tiếp
nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo của công dân.
Các cán bộ tại trụ sở tiếp dân phải hướng dẫn người khiếu nại thực hiện theo đúng
pháp, trừ trường hợp có quy định khác;
+ Người đại diện không hợp pháp;
+ Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp theo đã hết;
+ Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng;
+ Việc khiếu nại đã được toà án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định
của toà án.
1.4.3. Giải quyết khiếu nại
a. Giải quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn thư khiếu nại, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tổ
chức thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, kết luận; kết quả giám định phải được
lập thành văn bản.
Hoạt động thu thập chứng cứ, xác minh chứng cứ là một khâu vô cùng quan trọng
trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nó đóng vai trò quyết định đến chất
lượng công tác giải quyết khiếu nại. Nhằm làm rõ các tình tiết của vụ việc, làm căn
cứ để đi đến kết luận về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính bị khiếu kiện.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo cử các cán bộ
chuyên môn, thanh tra viên hay các đoàn thanh tra thực hiện công tác này. Hoạt
động này được bắt đầu từ khi vụ việc khiếu nại được thụ lý kết thúc khi có kết luận
vụ việc và kiến nghị người có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu
nại.
- Phải xác định đối tượng chứng minh trong giải quyết khiếu nại, chính là phải
chứng minh những nội dung và các tình tiết có liên quan đến quyết định hành
chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, cần phải xác định các nội dung sau:
+ Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại có trái chính sách, pháp
luật không, có gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hay
không.
+ Nội dung kết luận việc giải quyết khiếu nại của cấp có thẩm quyền trước đó đã
đúng chính sách pháp luật chưa.
+ Nội dung của quyết định hành chính, hành vi hành chính vào thời điểm nào, vận
có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc
khởi kiện vụ án hành chính tại toà án theo quy định của pháp luật; đối với vùng
sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể dài hơn nhưng không quá
45 ngày.
Trong trường hợp tiếp tục khiếu nại, thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản
sao quyết định giải quyết khiếu nại trước đó và các tài liệu khác có liên quan cho
người giải quyết khiếu nại tiếp theo.
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải
quyết của mình, người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải thụ lý giải quyết và thông
báo bằng văn bản cho cho các bên có liên quan, trường hợp không thụ lý cũng phải
nêu rõ lý do.
- Trong quá trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, nếu xét thấy việc thi hành
quyết định hành chính bị khiếu nại, quyết định giải quyết trước đó sẽ gây hậu quả
khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định hoặc kiến nghị cấp
có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó nhưng thời
hạn tạm đình chỉ không vượt quá thời gian còn lại của thời giải quyết và phải báo
ngay cho các bên liên quan.
- Thời hạn giải quyết mỗi lần tiếp theo không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý giải
quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn
nhưng không vượt quá 60 ngày; vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải
quyết khiếu nại mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải
quyết, đối với các vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể dài hơn
nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
- Người có thẩm quyền khiếu nại lần sau phải ra quyết định giải quyết khiếu nại
bằng văn bản, quyết định đó phải được gửi cho các bên liên quan .
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết tái khiếu theo quy định
mà khiếu nại vẫn chưa được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải
quyết khiếu nại mà người khiếu nại không đồng ý thì người khiếu nại có quyền tiếp
tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo trừ trường
hợp khiếu nại đã có quyết định giải quyết cuối cùng; đối với vùng sâu, vùng xa đi
giải quyết của mình. Trong trường hợp khiếu nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm chuyển đến thì phải thông báo về việc giải quyết hoặc kết quả giải
quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.
- Giải trình về quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, cung cấp
các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại yêu cầu.
- Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
- Bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định hành chính, hành vi hành
chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
2. Các quy định mang tính pháp lý về tố cáo và giải quyết tố cáo
2.1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
Thẩm quyên giải quyết tố cáo được xác định theo nguyên tắc sau:
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý
của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan
nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ
quan tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ
quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
- Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý
của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết. Còn tố cáo hành vi phạm
tội do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của Luật tố tụng hình
sự.
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền,
trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra hoặc cơ quan có thẩm quyền
khác để tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo cụ thể như sau:
- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc thực hiện giải quyết những tố cáo có nội dung
đặc biệt phức tạp, quyết định xử lý tố cáo mà Tổng Thanh tra Nhà nước đã kết
luận, kiến nghị việc giải quyết.
Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố cáo nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì cơ
quan, tổ chức tiệp nhận, giải quyết tố cáo phải chuyển tin báo, chuyển hồ sơ cho cơ
quan điều tra, Viện kiểm soát để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Căn cứ vào biên bản xác minh, kết quả giám định tài liệu, chứng cứ thu thập được
trong quá trình gq, kết luận, kiến nghị của cán bộ chuyên môn, đoàn thanh tra,
thanh tra viên, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định giải quyết tố cáo.
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng giải quyết tố cáo không đúng pháp luật hoặc
quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì người tố cáo có quyền
tố cáo với cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của người giải quyết tố cáo; thời hạn
giải quyết không quá 60 ngày, kể từ khi nhận được đơn tố cáo; đối với vụ việc
phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 90 ngày, kể từ
ngày thụ lý đơn tố cáo.
2.3. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo và người bị tố cáo
a. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
Người tố cáo có quyền sau:
- Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
- Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;
- Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
Người tố cáo có nghĩa vụ sau:
- Trình bầy trung thực về nội dung tố cáo;
- Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của minh;
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.
b. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
Người bị tố cáo có các quyền sau:
- Đưa ra chứng cứ để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
- Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự,
được bồi thường thiệt hại do việctc không đúng gây ra;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm
2002 Năm 2003 Quý I/2004
Tổng số đơnthư
- Đơn thuộc thẩm quyền 178.734
129.884 191.344
149.195 185.094
142.281 164.590
104.647 144.060
96.351 24.231
17.232
Về khiếu nại thuộc thẩm quyền 113.668 124.063 128.896 92.519
84.855 14.400
Về tố cáo thuộc thẩm quyền 16.216 25.132 13.385 12.128
11.496 2.832