“Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay tại Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương Việt Nam - Pdf 29

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất trong
nền kinh tế hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy
động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Ngân hàng thương
mại có vị trí, vai trò quan trọng như bà đỡ và huyết mạch của nền kinh tế,
là nơi cung cấp nguồn vốn cho đầu tư, sản xuất cho mọi thành phần kinh tế.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn phải đối
mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng vì hoạt động tín dụng của
ngân hàng là hoạt động quan trọng nhất, nó mang lại lợi nhuận lớn nhất cho
ngân hàng song cũng hàm chứa rủi ro cao nhất. Do đó, để hạn chế rủi ro tín
dụng có thể xảy ra và nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng thì các
ngân hàng thương mại rất coi trọng vấn đề về bảo đảm tiền vay.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động bảo đảm tiền vay nên
trong những năm qua đã có khá nhiều quy chế về bảo đảm an toàn trong
cho vay của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, do những biến đổi về kinh
tế và chưa có sự đồng bộ về mặt pháp lý nên đã có những tác động lớn đến
tình hình an toàn trong cho vay. Có nhiều khoản nợ khó đòi không thu hồi
được đã tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vì vậy để
các ngân hàng thu được lợi nhuận và bảo đảm an toàn trong cho vay thì
ngân hàng cần phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động
bảo đảm tiền vay.
Từ những kiến thức thu thập được trong thời gian học tập và nghiên
cứu tại trường đại học cũng như những trải nghiệm thực tế bước đầu trong
thời gian thực tập tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương Việt Nam, em
nhận thấy bảo đảm tiền vay là một trong các biện pháp nhằm bảo đảm an
toàn trong cho vay. Với tầm quan trọng như vậy nhưng trên thực tế thì hoạt
động bảo đảm tiền vay tại Sở giao dịch I vẫn chưa thực sự đạt được hiệu
quả như mong muốn. Vì thế em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả của
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
1

Ngân hàng thương mại, cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác, có
mục tiêu kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Phần lớn
nhân viên ngân hàng trực tiếp làm việc với tiền. Với tổng tài sản lên đến
hàng trăm tỷ đô la Mỹ (các ngân hàng lớn trên thế giới) hàng chục nghìn tỷ
VNĐ (các ngân hàng lớn Việt Nam), ngân hàng được xếp vào loại hình
doanh nghiệp có tổng tài sản lớn. Trong khi đó vốn chủ sở hữu thường rất
nhỏ trong tổng tài sản, điều này phản ánh bản chất hoạt động của ngân
hàng là sử dụng tiền huy động của doanh nghiệp và dân cư. Nhiều khoản
cho vay thời hạn hàng chục năm, có thể vượt cả quãng thời gian họ làm
việc cho ngân hàng. Điều này cũng góp phần khuyến khích họ chấp nhận
mạo hiểm. Như vậy, xu hướng mạo hiểm là rất mạnh trong hoạt động của
ngân hàng.
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn đứng trước rất
nhiều nguy cơ mất an toàn và rất nhiều các loại rủi ro. Mất an toàn cho vay
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
xảy ra thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh
toán của ngân hàng, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến phá sản của
ngân hàng.
Ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động của ngân hàng
với bản chất của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều rủi ro có thể dẫn đến mất
vốn. Như vậy, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Khi
rủi ro tín dụng xảy ra ngân hàng sẽ đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh
toán với việc hàng loạt người gửi tiền đến rút tiền ra khỏi ngân hàng, buộc
ngân hàng phải đóng cửa hay tuyên bố phá sản. Hậu quả từ sự đổ vỡ của
ngân hàng đến nền kinh tế là rất nặng nề nên an toàn trong cho vay là vấn
đề được ngân hàng thương mại rất quan tâm và coi trọng.
Vì vậy, để đảm bảo an toàn trong cho vay, các ngân hàng cho vay
thường yêu cầu khách hàng của mình thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền

- Trường hợp khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết, ngân hàng có quyền
xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ.
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc
bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đủ nghĩa vụ trả
nợ, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện
đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
- Phần chênh lệch thừa sau xử lý vẫn phải được giữ để bảo đảm cho
nghĩa vụ tín dụng khác còn đang tồn tại ở ngân hàng cho vay.
1.4. Hình thức bảo đảm tiền vay
1.4.1. Bảo đảm tiền vay bằng uy tín của khách hàng vay
1.4.1.1. Tổ chức tín dụng chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay
không có bảo đảm bằng tài sản.
Ngân hàng cho vay được lựa chọn khách hàng vay để cho vay không
có tài sản bảo đảm khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và đời sống đối với khách hàng vay theo quy định.
Điều kiện đối với khách hàng vay có bảo đảm bằng uy tín
Khách hàng vay phải có đủ các điều kiện: Phải có tín nhiệm với ngân
hàng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và có nghĩa vụ trả nợ đầy đủ,
đúng hạn cả gốc và lãi; dự án mà khách hàng định đầu tư sản xuất kinh
doanh phải có khả năng hoàn trả, có tính khả thi phù hợp với đời sống xã
hội, với quy định của pháp luật. Trong trường hợp vay để phục vụ nhu cầu
thiết yếu của đời sống thì khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi;
Khách hàng phải có khả năng tài chính và các nguồn thu hợp pháp có khả
năng thu được trong thời hạn vay vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ
chức tín dụng; Khách hàng vay phải cam kết thực hiện đúng các biện pháp

tra sử dụng vốn vay và thu hồi nợ; Phải tổ chức theo dõi riêng các khoản
cho vay theo chỉ định và báo cáo tình hình sử dụng vốn vay, khả năng thu
hồi nợ, kiến nghị xử lý những tổn thất trong các trường hợp không thu hồi
được nợ.
1.4.1.3. Tổ chức tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo
lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội.
Tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở của: Hội Nông dân Việt
Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam,
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam
được thực hiện bảo lãnh bằng uy tín của mình cho cá nhân, hộ gia đình
nghèo vay vốn tại các tổ chức tín dụng.
Người được bảo lãnh là các cá nhân, hộ gia đình nghèo là thành viên
của một trong các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như ở trên khi họ vay
một khoản tiền nhỏ tại tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh, làm dịch
vụ.
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Mức vay tối đa của mỗi cá nhân, hộ gia đình nghèo được tổ chức
đoàn thể chính trị - xã hội bảo lãnh bằng uy tín của mình do Chủ tịch Hội
đồng quản trị tổ chức tín dụng cho vay quy định trong từng thời kỳ.
1.4.2. Đảm bảo bằng thế chấp tài sản của khách hàng vay
Đảm bảo bằng thế chấp tài sản của khách hàng vay là biện pháp bảo
đảm tiền vay của ngân hàng mà theo đó khách hàng vay phải chuyển các
giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) các tài sản đảm
bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết.
Đảm bảo bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp
và người tiêu dùng. Do giá trị của tài sản loại này thường lớn, vì vậy doanh
nghiệp có thể vay ngân hàng với quy mô lớn.
Đảm bảo bằng tài sản thế chấp cho phép người vay vốn sử dụng tài

vay, nếu đến hạn trả nợ mà khách hàng vay không thực hiện đúng nghĩa vụ
trả nợ.
Bên nhận bảo lãnh là người chủ nợ, người hưởng thụ bảo lãnh.
Trong quan hệ tín dụng đó là các ngân hàng cho vay.
Bên được bảo lãnh là khách hàng vay (con nợ), người có nghĩa vụ
phải thanh toán nợ cho ngân hàng cho vay.
Biện pháp bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba thường được các
ngân hàng áp dụng nhằm mục tiêu an toàn ngân hàng để hạn chế rủi ro, tổn
thất xảy ra đối với hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng
áp dụng hình thức này cho hầu hết các khách hàng vay mà tuỳ theo năng
lực của bản thân khách hàng đó để sử dụng hình thức bảo đảm phù hợp.
Ngân hàng có thể sử dụng hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản hay thực ra là có bảo đảm nhưng bằng chính bản thân khách hàng, hình
thức này còn gọi là bảo đảm đối nhân. Ngân hàng không phải lúc nào cũng
yêu cầu khách hàng vay phải có tài sản bảo đảm nhất là đối với những
khách hàng có uy tín, khách hàng truyền thống. Trong nhiều trường hợp
ngân hàng vẫn cho khách hàng vay dựa trên chính uy tín của khách hàng.
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
1.5. Định giá giá tài sản bảo đảm
Việc định giá tài sản bảo đảm là do tổ thẩm định của ngân hàng cho
vay hoặc thuê cơ quan chức năng chuyên môn thực hiện. Ngân hàng Công
thương Việt Nam có những quy định cụ thể về vấn đề này.
Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký
kết hợp đồng bảo đảm, ký kết văn bản thoả thuận tu chỉnh/bổ sung hợp
đồng bảo đảm (trong trường hợp thoả thuận thay đổi nghĩa vụ được bảo
đảm); việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ để làm cơ sở xác
định mức vay và không áp dụng khi xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Việc định giá phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế,

không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại
ngân hàng được xử lý để thu hồi nợ.
Tài sản bảo đảm tiền vay được xử lý theo phương thức đã thoả thuận
trong hợp đồng bảo đảm tiền vay giữa ngân hàng và bên bảo đảm.
Các ngân hàng cho vay có quyền chuyển giao quyền thu hồi nợ hoặc
uỷ quyền cho bên thứ ba xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. Bên thứ ba phải là
tổ chức có tư cách pháp nhân và được quyền thu hồi nợ hoặc xử lý tài sản
bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay phải tuân thủ nguyên tắc công
khai, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích của
ngân hàng cho vay và khách hàng đồng thời tiết kiệm được chi phí.
Các phương thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ:
- Bán tài sản bảo đảm tiền vay.
- Trực tiếp nhận các khoản tiền, tài sản từ bên thứ ba trong trường
hợp bên thứ ba có nghĩa vụ trả tiền hoặc tài sản cho khách hàng vay, bên
bảo lãnh.
- Nhận chính tài sản bảo đảm tiền vay để thay thế cho việc thực hiện
nghĩa vụ được bảo đảm.
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY.
2.1. Quan niệm về hiệu quả bảo đảm tiền vay.
Khi thực hiện bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các
doanh nghiệp cũng như cá nhân đều mong muốn đạt được hiệu quả tốt nhất
nhằm thù hồi được vốn một cách nhanh nhất và có lãi. Là người kinh doanh
ai cũng mong muốn đạt được hiệu quả kinh tế bởi vì ai cũng muốn đồng
tiền của mình bỏ ra phải sinh lợi. Từ đó ta có thể hiểu rằng hiệu quả kinh tế
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và khả năng thực hiện có kết quả
cao những nhiệm vụ kinh tế xã hội nhất định với chi phí nhỏ nhất nhằm thu

do này có thể dẫn đến giảm uy tín của ngân hàng, tác động đến tâm lý của
khách hàng gây ra tình trạng rút tiền hàng loạt dẫn ngân hàng đến chỗ phá
sản. Hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hoá cao, nó ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế. Do đó đòi hỏi ngân hàng khi thực hiện vấn để bảo đảm
tiền vay phải chú trọng đến vấn đề đạt được hiệu quả vì việc đạt được hiệu
quả hoạt động bảo đảm tiền vay là điều kiện sống còn cho bản thân mỗi
ngân hàng. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả về vấn đề bảo đảm tiền vay thì
đòi hỏi ngân hàng cũng cần phải thực hiện tốt các công tác khác như kiểm
tra giám sát khách hàng sử dụng khoản vay, thẩm định khách hàng vay vốn,
xếp hạng tín dụng khách hàng một cách chuẩn xácẶtránh trường hợp xảy
ra tổn thất.
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả bảo đảm tiền vay.
2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
Khả năng nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó uy tín của ngân hàng cũng là một điều hết
sức quan trọng. Nếu ngân hàng có lượng khách hàng đông đảo và là những
doanh nghiệp làm ăn có uy tín thì đó là một trong những điều kiện để áp
dụng biện pháp bảo đảm tiền vay. Bên cạnh đó hiệu quả của hoạt động bảo
đảm tiền vay cũng phụ thuộc vào khả năng thu nợ của ngân hàng khi có rủi
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
ro xảy ra. Để có thể nâng cao hiệu quả bảo đảm tiền vay thì cần phải có
những chỉ tiêu đánh giá hợp lý để từ đó có cách nhìn bao quát và đúng đắn.
Hiệu quả của bảo đảm tiền vay thể hiện ở việc ngân hàng sau khi cho
vay đã thu hồi được khoản nợ bao gồm cả gốc và lãi, hay có thể là khách
hàng không trả được nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý các tài sản đảm
bảo cho khoản vay đó. Tuỳ theo quan điểm của mỗi ngân hàng thì họ sẽ
tiến hành phân loại các khoản cho vay theo các mức độ rủi ro khác nhau
như là: khoản cho vay đạt tiêu chuẩn; cận chuẩn; có vấn đề; không thu hồi

ngân hàng đảm bảo được quyền lợi cho chính bản thân mình và cho cả
khách hàng.
Ngân hàng kiểm soát, quản lý tài sản bảo đảm một cách đầy đủ chặt
chẽ giúp ngân hàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá nhằm đảm bảo tài sản vẫn
đang trong tình trạng bình thường hoặc kịp thời phát hiện ra các sự cố có
liên quan làm giảm giá trị của tài sản đảm bảo.
Việc xử lý tài sản bảo đảm với thủ tục nhanh chóng, chi phí thấp, bảo
đảm được quyền lợi cho ngân hàng và khách hàng cũng là một chi tiêu để
nói lên hiệu quả bảo đảm tiền vay của ngân hàng.
Trên đây là các chỉ tiêu định tính nhưng nó chỉ là những căn cứ để
đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay một cách khái quát. Để
có những kết luận chính xác hơn cần dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu
định lượng cụ thể.
2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay chúng ta có
thể kết hợp phân tích số tương đối và số tuyệt đối, theo dõi tình hình biến
động của các chỉ tiêu phân tích qua các năm.
a) Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng sau khi vay đã đến thời hạn
trả nợ theo thoả thuận trên hợp đồng tín dụng nhưng không hoàn trả được
cho ngân hàng. Các chỉ tiêu về nợ quá hạn phản ánh mức độ an toàn của
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
15
Chuyên đề tốt nghiệp
hoạt động tín dụng ngân hàng. Chỉ tiêu về nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm
(%) giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời
điểm nhất định thường là cuối tháng hay cuối năm.
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ cho vay

Vì vậy các ngân hàng thương mại cần phải thận trọng trong việc xác định
kỳ hạn như thế nào được coi là quá hạn.
b) Chỉ tiêu về thu nhập từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng là một nguồn thu nhập quan trọng
nhất đóng vai trò trong việc duy trì khả năng sinh lời của ngân hàng. Mà
hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay được đánh giá qua việc sử dụng
tốt các hình thức bảo đảm tiền vay để thu hồi được cả gốc và lãi đầy đủ,
đúng hạn. Vì vậy, có thể đánh giá hiệu quả của công tác bảo đảm tiền vay
qua những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của một khoản vay. Tỷ lệ thu nhập từ
hoạt động tín dụng là tỷ số giữa thu nhập từ hoạt động tín dụng với tổng thu
nhập của ngân hàng. Chỉ tiêu sử dụng để tính toán phải cùng là thu nhập
trước thuế hoặc cùng là thu nhập sau thuế.

Thu nhập từ hoạt động cho vay
Thu nhập từ hoạt động tín dụng =
Tổng thu nhập
Vấn đề nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền vay chỉ thực
sự có ý nghĩa khi nó góp phần vào việc tăng khả năng sinh lời của ngân
hàng. Một ngân hàng có tỷ trọng thu nhập từ hoạt động tín dụng trên tổng
thu nhập của ngân hàng mà cao tức là hiệu quả của hoạt động tín dụng cao
và ngược lại.
c) Chỉ tiêu về mức sinh lời vốn tín dụng
Thu nhập sau thuế từ hoạt động tín dụng
Chỉ tiêu này được tính =
Tổng dư nợ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của khoản cho vay. Mục
tiêu cuối cùng của bất cứ ngân hàng nào cũng là tăng lợi nhuận. Ngân hàng
có tỷ lệ thu nhập sau thuế từ hoạt động cho vay trên dư nợ bình quân càng
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
17

Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
18
Chuyên đề tốt nghiệp
thức và kinh nghiệm, am hiểu pháp luật thì sẽ có khả năng phân tích khách
hàng một cách chính xác hơn. Trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng
tài sản, việc đánh giá chính xác được giá trị tài sản bảo đảm, xác định được
tài sản là có thực hay không, khách hàng vay có gian lận trong tài sản bảo
đảm hay không là một vấn đề hết sức khó khăn đòi hỏi phải có đội ngũ cán
bộ tín dụng chuyên môn giỏi. Còn đối với trường hợp cho vay dựa trên uy
tín của khách hàng vay thì việc đánh giá chính xác được khách hàng vay
cũng cần có các cán bộ tín dụng có kinh nghiệm và kiến thức thì mới có thể
xác định được chính xác vấn đề. Tuy nhiên một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên
môn, giàu kinh nghiệm chưa phải là đủ mà bên cạnh đó còn cần phải có
đạo đức nghề nghiệp. Như Bác Hồ đã nói “có tài mà không có đức là người
vô dụng”. Trong hoạt động ngân hàng cũng vậy, tất cả mọi việc đều do con
người quyết định, nếu như những người làm tín dụng không có đạo đức
nghề nghiệp thì rất dễ dẫn đến việc ra quyết định sai trái với những gì đã
điều tra. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền nên rất dễ làm những
người thường xuyên trực tiếp làm việc với nó có những động cơ xấu, họ có
thể móc nối với khách hàng để lừa đảo rút tiền ngân hàng. Trong thực tế đã
xảy ra nhiều trường hợp như vậy. Các cán bộ tín dụng cố tình đánh giá sai
giá trị tài sản bảo đảm để đưa ra mức cho vay cao hơn giá trị thật của nó,
do đó gây ảnh hưởng rất lớn đên việc xử lý tài sản đảm bảo sau này khi mà
khách hàng vay không có khả năng trả nợ. Vì vậy, các ngân hàng cần phải
đào tạo một đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán bộ tín dụng, những người trực
tiếp ra quyết định vay không những có chuyên môn mà còn phải có cả đạo
đức nghề nghiệp để có thể đưa ra những quyết định mang lại hiệu quả kinh
tế cao đối với ngân hàng.
b) Chất lượng công tác thẩm định tài sản bảo đảm và thẩm định
khách hàng.

hiểu. Do đó, việc thu thập thông tin về tài sản có thể sẽ gặp khó khăn, ngân
hàng sẽ không có thông tin chính xác về tài sản bảo đảm, về giá trị thị
trường của tài sản bảo đảm. Vì vậy, khi thẩm định tài sản thuộc lĩnh vực
chuyên môn nào thì ngân hàng nên thuê các chuyên gia về vấn đề đó để có
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
thể đánh giá được giá trị đích thực của tài sản bảo đảm nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất, giúp cho ngân hàng có quyết định cho vay hợp lý.
c) Chiến lược kinh doanh, mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ.
Trong từng thời kỳ, giai đoạn khác nhau thì mỗi ngân hàng thương
mại sẽ có những chiến lược và mục tiêu phát triển cụ thể để tránh tình trạng
rơi vào thế bị động trong hoạt động kinh doanh của mình. Đây cũng là một
nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định cho vay của ngân hàng. Các đối
tượng khách hàng vay vốn là rất lớn và bao gồm nhiều thành phần khác
nhau nên ngân hàng phải có những chính sách, chiến lược cho vay của
mình để xem nó phù hợp với đối tượng nào hơn và có biện pháp bảo đảm
tiền vay thích hợp trong thời kỳ đó.
2.3.2. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
a) Các nhân tố thuộc về khách hàng
- Năng lực tài chính, trình độ quản lý của khách hàng vay:
Năng lực tài chính của khách hàng vay vốn là rất quan trọng, nó ảnh
hưởng đến chất lượng của công tác bảo đảm tiền vay. Ngân hàng thường
chỉ cho vay trong trường hợp khách hàng vay có hoạt động kinh doanh đạt
hiệu quả, có tài sản bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng.
Trình độ quản lý của khách hàng nếu bị yếu, chưa đủ sức mạnh để
cạnh tranh trên thị trường có thể dẫn đến tình trạng khách hàng không đủ
khả năng trả nợ cho ngân hàng khiến hiệu quả của hoạt động bảo đảm tiền
vay bị giảm sút.
- Tính trung thực, chính xác của những thông tin mà khách hàng

b) Các nhân tố khác
- Môi trường pháp lý
Mỗi quốc gia đều có các văn bản pháp luật do Chính phủ, Ngân hàng
Nhà nước và các Bộ ngành có liên quan ban hành ra nhằm hỗ trợ cho các
ngân hàng thương mại trong việc thực hiện hoạt động bảo đảm tiền vay.
Các hình thức bảo đảm tiền vay áp dụng cho mỗi nước tuỳ thuộc vào tình
hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà các văn bản quy định được
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
ban hành ra là nới lỏng hay thắt chặt. Các hệ thống văn bản pháp luật về
bảo đảm tiền vay có sự thống nhất, hoàn thiện và chặt chẽ sẽ là hành lang
pháp lý giúp các ngân hàng thương mại thực hiện vấn đề an toàn trong cho
vay của ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế thì quá trình thực hiện hoạt
động bảo đảm tiền vay thì ngân hàng đã gặp phải những vướng mắc do các
văn bản quy định đang có sự chồng chéo nhau, không phù hợp với thực tế.
Do đó đã có những trường hợp khách hàng lợi dụng các kẽ hở pháp luật để
lừa đảo ngân hàng. Vì vậy, để giúp ngân hàng dễ dàng hơn trong việc ra
quyết định cho vay, giảm bớt thời gian thẩm định thì Chính phủ, Ngân hàng
Nhà nước và các Bộ ngành có liên quan cần phải có chính sách, chủ trương
chỉnh sửa các văn bản theo hướng ngày càng hoàn thiện, giảm bớt các áp
lực cho ngân hàng khi thực hiện vấn đề bảo đảm tiền vay.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế cũng có những tác động nhất định đến hoạt động
của ngân hàng nên nó cũng tác động đến công tác bảo đảm tiền vay. Một
nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định sẽ làm giá cả ở mức ổn định, tình
trạng lạm phát ở mức thấp tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại mở
rộng quy mô hoạt động của mình. Trong thời kỳ kinh tế phát triển hưng
thịnh sẽ có nhiều cơ hội làm ăn cho các nhà đầu tư, mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Do đó nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách

vay thường là rất nặng nề, họ thường bị tổn thất lớn, khả năng trả nợ của
ngân hàng bị suy giảm, thậm chí không còn khả năng trả nợ.
Đặng Quỳnh Anh Lớp Ngân hàng 44B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM
TIỀN VAY TẠI SỞ GIAO DỊCH I – NHCT VIỆT NAM
1. KHÁI QUÁT VỀ SỞ GIAO DỊCH I – NHCT VIỆT NAM
1.1. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch I -
NHCTVN
Ngày 30/12/1988 Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Công
thương Việt Nam ký quyết định số 134 QĐ/HĐQT Ngân hàng Công
thương sắp xếp tổ chức hoạt động Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương
Việt Nam theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Công thương
Việt Nam.
Ngày 20/10/2003 Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Công
thương Việt Nam đã ban hành quyết định số 153/QĐ/HĐQT về mô hình tổ
chức mới của Sở giao dịch I theo dự án hiện đại hoá ngân hàng và công
nghệ thanh toán do Ngân hàng thế giới tài trợ.
Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch I gắn liền với sự
đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam và những thành công của công
cuộc phát triển kinh tế của thủ đô và đất nước.
Sở giao dịch I Ngân hàng Công thương nằm ở trung tâm thủ đô Hà
Nội, có trụ sở chính tại số 10 phố Lê Lai, là đơn vị thành viên lớn với
nguồn vốn chiếm tỷ trọng 15%, dư nợ chiếm 4% toàn hệ thống Ngân hàng
Công thương Việt Nam.
Nhiều năm liền Sở giao dịch I luôn dẫn đầu là đơn vị xuất sắc của
Ngân hàng Công thương Việt Nam. Tính đến 31/7/2005 tổng dư nợ cho vay
nền kinh tế của Sở giao dịch I đạt gần 3000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng
dư nợ bình quân hàng năm là 15 - 20%, đã đáp ứng nhu cầu vốn các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status