Tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện từ dũ với công suất 770 m3 ngày đêm - Pdf 35

1.1 GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường đang là mối quan tâm hàng
đầu của toàn nhân loại. Sự phát triển vượt bậc của xã hội và khoa học kỹ thuật
nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của con người đã làm cho môi trường
sống của chúng ta đang dần dần xấu đi. Thiên tai, lũ lụt, cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên... xảy ra thường xuyên, nghiêm trọng hơn, gây ảnh hưởng xấu
đến cuộc sống con người. Đứng trước hiện trạng môi trường sống đang bò suy
thoái, sức khoẻ của con người cũng bò đe doạ. Nhiều bệnh viện đã được thành lập
chỉ trong một thời gian ngắn nhằm phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ cho
người dân và đã gặt hái được rất nhiều kết quả tốt đẹp
Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ở đây là về hiện trạng môi trường chung tại các
bệnh viện lại là bài toán khó cho các cơ quan chức năng. Chất thải nói chung, và
nước thải nói riêng tại các bệnh viện hầu hết vẫn chưa được xử lý cũng như chưa
có chiến lược quản lý một cách có hiệu quả. Trong thời gian gần đây, chỉ một số
ít bệnh viện là có đầu tư xây dựng hệ thống xử lý. Đa phần còn lại cho chảy vào
hệ thống thoát nước chung của thành phố, thậm chí chảy tràn trên mặt đất gây ô
nhiễm môi trường đất, làm mất vẻ đẹp mỹ quan của bệnh viện nói riêng và thành
phố nói chung.
Với xu thế hội nhập thế giới của Việt Nam như hiện nay việc đầu tư cho
chiến lược bảo vệ môi trường nói chung và xây dựng hệ thống xử lý nước thải nói
riêng là một việc làm thiết thực nhất.
Không chỉ riêng các công ty, các doanh nghiệp hay các khu công nghiệp có
nước thải ô nhiễm được thải ra từ quá trình sản xuất mà ngay cả nước thải sinh
hoạt từ các đô thò cũng phải được xử lý trước khi thoát ra môi trường. Chính vì thế
nước được thải ra từ các hoạt động của bệnh viện cần phải được xử lý đạt tiêu
chuẩn cho phép.
SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 1




Trang 2


o Lựa chọn phương án thích hợp nhất phù hợp với yêu cầu và thực tế;
o Tính toán, thiết kế hệ thống xử lý nước thải;
Phạm vi của đề tài tập trung vào việc tìm hiểu tình hình hoạt động của bệnh
viện Từ Dũ để có thể đánh giá hiện trạng môi trường chung đặc biệt là nước thải
và từ đó đưa ra phương pháp xử lý thích hợp
Giới hạn của đề tài: Do thời gian thực hiện còn hạn chế nên đề tài chỉ tập
trung vào việc xử lý nước thải mà bỏ qua các khía cạnh môi trường khác. Bên
cạnh đó đề tài chỉ mang tính chất “xử lý cuối đường ống”, chưa thể áp dụng sản
xuất sạch hơn vào để tiết kiệm nguồn tài nguyên nước

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận
Xử lý chất thải đặc biệt là nước thải trong giai đoạn này là biện pháp hữu hiệu
nhất để tạm thời giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay. Đứng
trước nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên nước, việc xử lý nước thải sau khi sử
dụng nhằm các mục đích khác nhau như sinh hoạt, sản xuất...là một việc làm rất
cần thiết. Hệ thống xử lý nước thải được xây dựng phải dựa trên bộ tiêu chuẩn
Việt Nam để phù hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu của nước ta. Tính chất nước
thải trước khi thải vào môi trường phải đạt mức độ cho phép nhằm đảm bảo
nguồn tiếp nhận có khả năng pha loãng nồng độ ô nhiễm đến mức cao nhất. Với
nhu cầu xã hội như hiện nay, bộ tiêu chuẩn Việt Nam về giới hạn cho phép của
nước thải thay đổi theo xu hướng ngày càng cao những đòi hỏi về chất lượng
nguồn nước. Chính vì thế, việc thay đổi, cải tiến, cũng như nâng cấp các hệ thống
đã được xây dựng là một nhu cầu thiết yếu.
Hệ thống xử lý nước thải một mặt có thể giảm mức độ ô nhiễm môi trường,
mặt khác có thể giúp các đơn vò tái sử dụng lại nguồn nước tiết kiệm nguồn tài

Cống Quỳnh, Q1, Tp.HCM nhưng bệnh viện chưa được sử dụng ngay vì liên tiếp
bò quân đội Pháp, rồi phát xít Nhật trưng dụng làm nơi trú quân cho binh lính. Đến
tháng 9 năm 1943, cơ sở này mới được hoàn trả lại cho ngành y tế với số giường
bệnh trên dưới 100. Tên gọi nguyên thủy là MATERNIÉ INDOCHINOISE (Bảo
Sanh Viện Đông Dương) và tên gọi của bệnh viện qua các thời kì như sau:
o Từ năm 1944 – 1946: Việt Nam Bảo Sanh Viện;
o Từ năm 1946 – 1948: Maternité Geores Béchamps;
o Từ năm 1948 – 1975: Bảo sanh Viện Từ Dũ;
o Từ tháng 5/1975 – 12/1977: Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em;
o Từ 1978 – 5/2003: Bệnh viện Phụ sản Tp.Hồ Chí Minh
o Từ 2004 đêán nay: Bệnh viện Từ Dũ Tp.Hồ Chí Minh

HÌnh 2.1 Bệnh viện Từ Dũ hiện nay
2.1.2

Qui mô

♦ Số giường

:

1550 giường

♦ Tổng số CBCC – VC – LĐ

:

1067 người

• Biên chế nhân viên hiện có

• Thời vụ

:

147 người

♦ Đảng bộ

:

112 Đảng viên

♦ Công đoàn

:

1504 Đoàn viên

♦ Đoàn TNCSHCM
2.1.3

:

427 Đoàn viên

Cơ cấu tổ chức

Với một quy mô lớn, số lượng công nhân viên nhiều, việc phân công nhiệm
vụ hợp lý là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng phục vụ cũng như góp phần
thúc đẩy sự phát triển của bệnh viện.

năm 2001 đến năm 2003
 Bằng khen của UBND TP.Hồ Chí Minh:
• Đã có thành tích trong công tác xoá đói giảm nghèo 11 năm (1992 –
2003)
• Tham gia mua trái phiếu chính phủ
• Giải thưởng khoa học và công nghệ nhân tuần lễ Khoa học công nghệ
và giáo dục đại học TP. Hồ Chí Minh năm 2004
 Bằng khen của Bộ Y Tế vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng
chống suy dinh dưỡng trẻ em từ 1998 – 2003
 Công đoàn ngành Y Tế công nhận Bệnh viện xuất sắc toàn diện năm 2003.
 Liên đoàn lao động Thành phố tặng:
• Cờ Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc năm 2003
• Bằng khen Bệnh viện Từ Dũ vì đã có thành tích trong xây dựng và
phát triển học bổng Nguyễn Đức Cảnh
• Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Công
đoàn cơ sở vững mạnh từ năm 2000 – 2004
 Hội cựu chiến binh nhận bằng khen của UBND TP. Hồ Chí Minh
 Hội chữ thập đỏ bệnh viện nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và cờ
đơn vò xuất sắc của UBND TP. Hồ Chí Minh
 Nghiên cứu thành công phương pháp thụ tinh nhân tạo trong ống nghiệm
mang lại niềm vui cho nhiều gia đình

SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 7


2.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CHUNG.
2.4.1


SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 8


bệnh, dễ gây tác động xấu đến môi trường và con người. Ngoài ra còn có thể kể
đến các loại bao bì y tế.
♦ Rác sinh hoạt của CBCNV bệnh viện và thân nhân bệnh nhân.
♦ Bên cạnh đó còn gồm cả các loại cặn bùn sinh ra do quá trình xử lý nước
thải, các tàn tro sinh ra sau mỗi hành trình vận hành lò đốt rác
2.4.3

Môi trường không khí

Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, 2 nguồn chủ yếu có khả năng
gây ô nhiễm môi trường không khí là:
 Sự hoạt động của các phương tiện lưu thông trong khuôn viên bệnh
viện. Tuy nhiên lượng xe cộ cho phép lưu thông trong bệnh viện có giới
hạn nên mức độ gây ô nhiễm không khí cũng tương đối không đáng kể.
 Khí thải từ các hoạt động sinh hoạt khác của con người: các hoạt
động sinh hoạt của con người cũng gây ra ô nhiễm môi trường không khí
như sản phảm cháy do đốt nhiên liệu phục vụ bữa ăn, bụi và khói thải do
hoạt động vận tải, khói thuốc do hút thuốc lá.
Ngoài ra, việc sử dụng máy phát điện cũng góp phần gây ô nhiễm tiếng
ồn.
Nhìn chung vấn đề môi trường của bệnh viện chủ yếu là quan tâm về
nước và chất thải rắn đặc biệt là nước thải. Về vấn dề rác thải, bệnh viện đã ký
hợp đồng với công ty môi trường đô thò, công ty này có trách nhiệm thu gom và
tiêu hủy.


là nước làm nguội thiết bò, nhất là ở các nhà máy nhiệt điện. Tuy không bẩn
nhưng sau khi sử dụng có thể có nhiệt độ cao, kéo theo gỉ sắt ở các thiết bò trao
đổi nhiệt, đường ống hoặc ngẫu nhiên bò sự cố, làm cho nước bò nhiễm bẩn. Nước
thải loại này làm cho nguồn nước tăng nhiệt độ, nghèo oxy hoà tan hoặc có thể
làm chết các sinh vật trong nước.

Nước thải sinh hoạt :
o Là nước thải từ các khu dân cư, vùng thương mại, khu vui chơi giải trí gồm
nước rửa, vệ sinh, giặt giũ... cũng như nước thải từ trường học, công sở, bệnh
viện.
o Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là trong đó có hàm lượng cao các
chất hữu cơ dễ phân hủy (như các hydratcacbon, protein, chất béo dầu mỡ) và các
chất khoáng dinh dưỡng (phosphat, nitơ, magie...) các chất rắn huyền phù và đặc
biệt là các vi sinh vật
o Người ta chia nước thải sinh hoạt theo ba mức độ ô nhiễm: nặng, trung bình,
nhẹ.
Nước thải
99.9%

Nước
SVTH: Dương Thò Phương Thảo

0.1%

Các chất rắn
Trang 11


50 – 70%


Về bản chất hoá học, chúng có thể là những hạt chất hữu cơ, vô cơ, hoặc là
những xác của VSV nguyên sinh động vật hay phiêu sinh vật.
Các chất rắn có trong nước được đánh giá qua những thông số cơ bản sau:
Tổng số chất rắn (TS)
Tổng số chất rắn được xác đònh bằng phương pháp đo trọng lượng khô còn lại
sau khi đem sấy khô 1lít ở nhiệt độ 1030C đến trọng lượng không đổi.
Tổng số chất rắn được biểu thò bằng mg/l hay g/l.
Chất rắn lơ lửng (SS)

SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 12


Trong nước thải gồm các chất không tan hoặc lơ lửng và các hợp chất đã được
hoà tan vào trong nước. Hàm lượng chất rắn lơ lửng được xác đònh bằng cách lọc
một thể tích xác đònh mẫu nước thải qua giấy lọc và sấy khô giấy lọc ở 105 0C đến
trọng lượng không đổi. Độ chênh lệch khối lượng giữa giấy lọc trước khi lọc mẫu
và sau khi lọc mẫu trong cùng một điều kiện cân chính là lượng chất rắn lơ lửng
có trong một thể tích mẫu đã được xác đònh.
Khi phần cặn trên giấy lọc được đốt cháy thì các chất rắn dễ bay hơi bò cháy
hoàn toàn. Các chất rắn dễ bay hơi được xem như là phần vật chất hữu cơ, cho dù
một vài chất hữu cơ không bò cháy và một vài chất rắn vô cơ bò phân ly ở nhiệt độ
cao. Vật chất hữu cơ bao gồm các protein, các carbohydrate và các chất béo. Sự
hiện diện các chất béo và dẫu mỡ trong nước thải ở những lượng quá mức có thể
gây trở ngại cho quá trình xử lý.
Trong nước thải đô thò có khoảng 40 – 65% chất rắn nằm ở trạng thái lơ lửng.
Các chất rắn này có thể nổi lên trên mặt nước hay lắng xuống dưới đáy và có thể
hình thành nên các bãi bùn không mong muốn khi thải nước thải có chứa nhiều
chất rắn vào một con sông. Một số chất rắn lơ lửng có khả năng lắng rất nhanh,


Hữu cơ
45 mg/l

Vô cơ
15 mg/l

Keo
(50 mg/L)

Hữu cơ
40 mg/l

Vô cơ
10 mg/l

Hoà tan
(450 mg/L)

Hữu cơ
160mg/l

Vô cơ
290mg/l

Hình 3.2 . Thành phần chất rắn trong nước thải sinh hoạt chưa được xử lý
Nguồn: Xử lý nước thải đô thò và công nghiệp, Lâm Minh Triết [9]
b. Mùi
Việc xác đònh mùi của nước thải ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt là
trước các phản ứng gay gắt của dân chúng đối với các công trình xử lý nước thải

để đánh giá trạng thái chung của nước thải. Nước thải sinh hoạt để chưa quá 6 giờ
thường có màu nâu nhạt. Màu xám nhạt đến trung bình là đặc trưng của các loại
nước thải đã bò phân hủy một phần. Nếu xuất hiện màu xám sẫm hoặc đen, nước
thải coi như đã bò phân huỷ hoàn toàn bởi các vi khuẩn trong điều kiện yếm khí.
Hiện tượng nước thải ngã màu đen thường là do sự tạo thành các sulfide khác
nhau, đặc biệt là sunlfide sắt. Điều này xảy ra khi hydro sulfua được sản sinh ra
dưới các điều kiện yếm khí kết hợp với một kim loại hoá trò hai có trong nước thải
chẳng hạn như sắt
e. Độ đục
Độ đục của nước thải là do các chất lơ lửng và các chất dạng keo chứa trong
nước thải tạo nên. Đơn vò đo độ đục thông dụng là NTU
Giữa độ đục và hàm lượng chất lơ lửng trong nước thải ban đầu (chưa xử lý)
chưa có mối quan hệ đáng kể nào, tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện rõ ở nước
sau khi ra khỏi bể lắng đợt 2
3.2.2 Các chỉ tiêu hoá học và sinh hoá
a. pH

SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 15


Trò số pH cho biết nước thải có tính trung hoà pH = 7 hay tính axit pH< 7 hoặc
tính kiềm pH > 7, được tính bằng nồng độ của ion hydro ( pH =– lg[H +]) .
pH là chỉ tiêu quan trọng nhất trong quá trình sinh hoá bởi tốc độ của quá trình
này phụ thuộc đáng kể vào sự thay đổi pH. Quá trình xử lý nước thải bằng
phương pháp sinh học rất nhạy cảm với sự dao động của trò số pH. Quá trình xử lý
hiếu khí đòi hỏi giá trò pH trong khoảng 6.548.5, khoảng giá trò tốt nhất là từ 6.8 4
7.4
Đối với nước thải sinh hoạt, pH thường dao động trong khoảng 6.947.8. Nước

COD luôn luôn lớn hơn trò số BOD5 và tỷ số COD trên BOD luôn thay đổi tuỳ
thuộc vào tính chất của nước thải. Tỷ số COD : BOD càng nhỏ thì xử lý sinh học
càng dễ. Đối với nước thải sinh hoạt, thông thường BOD = 68% COD, còn đối
với nước thải công nghiệp thì quan hệ giữa BOD và COD rất khác nhau, tuỳ theo
từng ngành công nghiệp cụ thể.
d. Nitơ
Nước thải sinh hoạt luôn có một số hợp chất chứa nitơ. Nitơ là chất dinh
dưỡng quan trọng trong quá trình phát triển của vi sinh trong các công trình xử lý
sinh học. Nitơ có trong nước thải ở dạng liên kết hữu cơ và vô cơ. Trong nước thải
sinh hoạt, phần lớn các liên kết hữu cơ là các chất có nguồn gốc protit, thực phẩm
dư thừa.
Một nhóm các hợp chất chứa nitơ là protêin và các sản phẩm phân hủy của
nó như amino axit là nguồn thức ăn hữu cơ của vi khuẩn. Một nhóm khác của hợp
chất hữu cơ chứa nitơ có trong nước thải bắt nguồn từ phân và nước tiểu (urê) của
người và động vật. Urê bò phân huỷ ngay khi có tác dụng của vi khuẩn thành
amoni (NH4+) và NH3 là hợp chất vô cơ chứa nitơ trong nước thải.
Hai dạng hợp chất vô cơ chứa nitơ có trong nước thải là nitrit và nitrat.
Nitrat là sản phẩm oxy hoá của amoni (NH 4+) khi tồn tại oxy, thường gọi quá trình
này là quá trình nitrat hoá. Còn nitrit (NO 2-) là sản phẩm trung gian của quá trình
nitrat hoá, nitrit là hợp chất không bền vững dễ bò oxy hoá thành nitrat (NO 3-).
Bởi vì amoni tiêu thụ oxy trong quá trình nitrat hoá và các vi sinh vật nước, rong
SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 17


tảo dùng nitrat làm thức ăn để phát triển, cho nên nếu hàm lượng nitơ có trong
nước thải xả ra sông, hồ, quá mức cho phép sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng kích
thích sự phát triển nhanh của rong, rêu, tảo làm bẩn nguồn nước. Tuy nhiên trong
nước thải chưa xử lý về nguyên tắc thường không có NO2- và NO3-.

coban, crôm, thủy ngân, cadmi. Ngoài ra, còn có một nguyên tố độc hại khác
không phải kim loại nặng như: Xianua, stibi(Sb), Bo... Kim loại nặng thường có
trong nước thải của một số ngành công nghiệp hoá chất, xi mạ, dệt nhộm và một
số ngành công nghiệp khác.
h. Vi sinh vật
Nước thải sinh hoạt chứa vô số vi sinh vật chủ yếu là vi sinh vật với số lượng
từ 105 – 106 con trong 1ml. Hai nguồn chủ yếu đưa vi sinh vào nước thải là phân,
nước tiểu và từ đất. Tế bào vi sinh hình thành từ chất hữu cơ nên có thể coi tập
hợp vi sinh là một phần của tổng chất hữu cơ có trong nước thải. Phần lớn vi sinh
có trong nước thải không phải là vi khuẩn gây bệnh. Có thể có một số ít vi khuẩn
gây bệnh như: thương hàn, tả lỵ và vi trùng gan.
Tóm lại
Mỗi chỉ tiêu về chất lượng nước thải được giới thiệu trên không những có ý
nghóa riêng mà trong những trường hợp cụ thể chúng còn có liên quan với nhiều
chỉ tiêu khác. Thông thường để đánh giá thành phần và tính chất của nước thải
cần phân tích đầy đủ các chỉ tiêu. Nhưng cũng có thể chỉ lựa chọn một số chỉ tiêu
quan trọng nhất để phân tích nhằm phục vụ cho đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm
của nước thải. Hai chỉ tiêu quan trọng nhất đối với nước thải đô thò là: chất rắn lơ
lửng (SS) và nhu cầu oxy sinh hoá (BOD)
o Nước thải ô nhiễm nhẹ khi SS và BOD 500mg/l
Lượng chất hữu cơ không có khả năng oxy hoá sinh hoá có thể đánh giá bằng
hiệu số: COD – BOD, còn tỉ số BOD/COD đặc trưng cho khả năng oxy hoá sinh
hoá các chất hữu cơ trong nước thải. Đối với nước thải sinh hoạt BOD/COD =
SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 19



SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 20


riêng cho nước mưa, sau đó đưa vào hệ thống cống thoát nước thành phố, không
cần thiết phải xử lý.
Nước mưa có khả năng nhiễm bẩn khi chảy ngang qua một số vò trí và khu vực
đặt biệt như: các giỏ rác đặt ngoài đường, bãi rác và các hố rác bệnh viện, khu
vực đặt bồn chứa nhiên liệu dầu Diezel cho máy phát điện dự phòng. Thành phần
nước mưa trong trường hợp này sẽ có khả năng chứa các chất gây bẩn và váng
dầu mỡ.
b. Nước thải sinh hoạt
Là loại nước thải ra sau khi sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt trong bệnh
viện: ăn uống, tắm rửa, vệ sinh... từ các nhà làm việc, các khu nhà vệ sinh, nhà
ăn, căn tin...Thành phần và tính chất nước thải sinh hoạt trong bệnh viện cũng
giống như nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư: có chứa các chất cặn bã, các
chất hữu cơ hoà tan (các chỉ tiêu BOD, COD), các chất dinh dưỡng (nitơ, phốt
pho) và vi trùng. Chất lượng nước thải sinh hoạt này vượt quá tiêu chuẩn qui đònh
hiện hành và có khả năng gây ô nhiễm hữu cơ, làm giảm lượng oxy hoà tan (DO)
vốn rất quan trọng đối với đời sống của thủy sinh vật tại nguồn tiếp nhận.
Lưu lượng nước thải sinh hoạt của bệnh viện hiện nay ước tính vào khoảng
102 m3/ngày.
c. Nước thải do các hoạt động khám và điều trò bệnh
Loại nước thải này có thể dnói là loại nước thải có mức ô nhiễm hữu cơ và
chứa nhiều vi trùng gây bệnh nhất trong số các dòng thải nước của bệnh viện.
Nước thải loại này phát sinh từ nhiều khâu và quá trình khác nhau trong bệnh
viện: giặt, tẩy quần áo bệnh nhân, khăn lau chăn mền drap cho các giường bệnh,
súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, vệ sinh lau chùi làm
sạch các phòng bệnh và phòng làm việc... Tuỳ theo từng khâu và quá trình cụ thể

Một số bệnh viện ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng đã tiến
hành các biện pháp khống chế ô nhiễm nguồn nước bằng cách tập trung toàn bộ
tất cả các loại nước thải khám chữa bệnh và nước thải sinh hoạt sau khi xử lý cục
bộ trên các bể tự hoại dẫn đến trạm XLNT tập trung trước khi thải ra môi trường
ngoài
2.2

Thành phần và tính chất nước thải một số bệnh viện

Thành phần và tính chất nước thải hỗn hợp (không tính nước mưa) của một số
bệnh viện được dẫn ra trong phụ lục.

SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 22


Nhìn chung nước thải ở một số bệnh viện đa khoa có mức độ ô nhiễm vượt
quá giới hạn cho phép thải vào nguồn tiếp nhận và có đặc tính ô nhiễm trung bình
như sau:

pH

: 6.8 – 7.2

Cặn lơ lửng

: 120 – 210

BOD5 (mg/l)

Trang 23


4.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
4.1.1

Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học

Nước thải có thành phần hết sức phức tạp. Trong nước thải không chỉ chứa các
thành phần hoá học hoà tan, các loài VSV, mà còn chứa các chất không tan. Mục
đích của phương pháp này là loại bỏ tất cả các tạp chất thô không tan và một
phần các chất không hoà tan ở dạng lơ lửng ra khỏi môi trường nước trước khi áp
dụng các phương pháp hoá lý hoặc các phương pháp sinh học bằng các quá trình
gạn, lọc và lắng.
Các vật chất gồm các chất có kích thước lớn như các cành cây, bao bì, chất
dẻo, giấy... và các tạp chất lơ lửng ở dạng rắn lỏng tạo với nước thành hệ huyền
phù. Tuỳ theo tính chất hoá lý, nồng độ hạt lơ lửng, kích thước hạt, lưu lượng
nước thải và mức độ làm sạch cần thiết mà ta có thể áp dụng các công trình xử lý
cơ học cho phù hợp. Những phương pháp loại các chất rắn có kích thước lớn và tỷ
trọng lớn trong nước được gọi chung là phương pháp cơ học.
Các công trình xử lý cơ học gồm :
a. Phương pháp dùng thiết bò chắn rác
Thiết bò chắn rác dùng để giữ lại các tạp chất thô như rác, túi nilon, vỏ cây...
nhằm đảm bảo cho máy bơm, các công trình và thiết bò xử lý nước thải hoạt động
ổn đònh.
Thiết bò chắn rác là các thanh sắp xếp kế tiếp nhau với các khe hở từ 16 đến
50 mm. Các thanh có thể bằng thép, nhựa hoặc gỗ. Tiết diện của các thanh này là
hình chữ nhật, hình tròn hoặc elip. Số lượng thiết bò chắn rác trong trạm XLNT tối
thiểu là 2. Thiết bò chắn rác thường đặt nghiêng theo chiều dòng chảy một góc 50
đến 900.

Thiết bò chắn rác bố trí tại máng dẫn nước thải trước trạm bơm nước thải và
trước các công trình XLNT. Trường hợp trạm bơm nằm trong khu vực trạm xử lý
thì người ta chỉ cần bố trí một thiết bò chắn rác ngay tại trạm bơm với chiều rộng
khe hở bằng 16mm.
Trong các trạm xử lý nước thải quy mô vừa, công suất nước thải trên 5000
m3/ngày có thể dùng thiết bò chắn rác – máy nghiền rác kết hợp. Rác được nghiền
và xả luôn vào trong lòng máng dẫn nước, sau đó được giữ lại trong các bể lắng
cùng cặn bã.
Thiết bò chắn rác có thể bao gồm: Song chắn rác và lưới chắn rác :
o

Song chắn rác thường đặt đứng vuông góc với dòng chảy, song chắn

gồm các thanh kim loại tiết diện 5 x 20mm đặt cách nhau 20 – 50mm trong
một khung thép hàn hình chữ nhật, dễ dàng trượt lên xuống dọc theo 2 khe ở
thành mương dẫn.
o

Lưới chắn rác thường đặt nghiêng 45 – 60 0 so với phương thẳng

đứng. Khe rộng của mắt lưới thường từ 10 – 20 mm.
SVTH: Dương Thò Phương Thảo

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status