Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
******************
XỬ LÝ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 10/2012
1
Nhóm 4
1
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
MUC LỤC
2
Nhóm 4
2
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
I. Mở đầu
I.1 Đặt vấn đề
Ô nhiễm môi trường nói chung, ô nhiễm môi trường nước nói riêng đang là một
vấn đề toàn cầu. Nguồn gốc ô nhiễm môi trường nước chủ yếu là do các nguồn nước
thải không được xử lý thải trực tiếp ra môi trường bao gồm từ: các hoạt động sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, vui chơi giải trí Trong đó, nước thải từ các
hoạt động công nghiệp dệt nhuộm có ảnh hưởng nhiều nhất đến môi trường do tính đa
dạng và phức tạp. Đã có nhiều vụ việc các công ty trong lĩnh vực dệt may thải trực tiếp
nước thải sản xuất ra môi trường. Có thể đưa ra đây vụ việc hàng chục cơ sở dệt
nhuộm xả thẳng ra kênh Tham Lương ở quận 12 hay vụ việc dòng kênh Rạch Chiếc bị
nhuộm đỏ bởi một số đơn vị như Công ty TNHH Saitex International Việt Nam (gọi
- Nước thải dệt nhuộm hoạt tính:là nước thải chứa thuốc nhuộm hoạt tính.
Thuốc nhuộm hoạt tính: là thuốc nhuộm anion tan, có khả năng phản ứng với xơ sợi
tạo thành liên kết cộng hóa trị với xơ sợi. Trong cấu tạo của thuốc nhuộm hoạt tính
có một hay nhiều nhóm hoạt tính khác nhau, quan trọng nhất là các nhóm:
vinylsunfon, halotriazin và halopirimidin.
Dạng tổng quát của thuốc nhuộm hoạt tính: S – R – T – Y, trong đó:
-S: nhóm cho thuốc nhuộm độ hòa tan cần thiết (-SO
3
Na, -COONa,
-SO
2
CH
3
)
-R: nhóm mang màu của thuốc nhuộm
-Y: nhóm nguyên tử phản ứng, trong điều kiện nhuộm nó tách khỏi phân tử
thuốc nhuộm, tạo khả năng cho thuốc nhuộm phản ứng với xơ (-Cl, -SO
2
,
-SO
3
H, -CH=CH
2
, )
-T: nhóm mang nguyên tử hay nhóm nguyên tử phản ứng, thực hiện liên kết
giữa thuốc nhuộm và xơ.
4
Nhóm 4
4
Kỹ thuật môi trường
S trong nước thì phẩm nhuộm chuyển thành
dạng lơco tan được (chủ yếu là do khử các nhóm cầu nối SS thành nhóm SNa) và bám
chắc vào vải bông. Sau khi bị oxi hoá bởi không khí trên thớ sợi, phẩm nhuộm lại
chuyển thành dạng không tan. Màu PNS không tươi nhưng bền với ánh sáng (trừ màu
vàng, màu da cam) và độ ẩm, không bền với vò xát và tác dụng của clo. PNS không
bền khi bảo quản, phương pháp nhuộm phức tạp; thang màu thiếu màu đỏ. Điều chế
bằng cách cho hợp chất hữu cơ (vd. aminophenol, nitrophenol, các amin và điamin
thơm, các inđophenol, các azin, các dẫn xuất của điphenylamin) tác dụng với lưu
huỳnh (S) hoặc dung dịch nước Na
2
Sx (x ≥ 2).
- Nước thải tẩy rửa: là nước thải ra từ các quá trình hồ sợi, giũ hồ, nấu tẩy,tẩy trắng, làm
bong, nhuộm, in, hoàn thiện.
2. Thành phần của nước thải dệt nhuộm
Nước thải từ các xí nghiệp dệt nhuộm rất phức tạp, nó bao gồm cả các chất hữu cơ, các
chất màu và các chất độc hại cho môi trường. Các chất gây ô nhiễm môi trường chính
có trong nước thải của xí nghiệp dệt, nhuộm bao gồm:
- Tạp chất tách ra từ xơ sợi, như dầu mỡ, các hợp chất chứa nitơ, các
chất bẩn dính vào sợi (trung bình là 6% khới lượng xơ sợi).
- Các hóa chất dùng trong quá trình công nghệ: hồ tinh bột, tinh bột biến
tính, dextrin, aginat, các loại axit, xút, NaOCl, H
2
O
2
, soda, sunfit… Các loại
thuốc nhuộm các chấtphụ trợ, chất màu, chất cầm màu, h óa chất tẩy
giặt.Lượng hóa chất sử dụng đối với từng loại vải, từng loại mầu là rất khác nhau
và phần dư thừa đi vào nước thải tương ứng.
- Đối với mặt hàng len từ lông cừu, nguyên liệu là len thô mang rất nhiều
tạp chất (250-600 kg/tấn) được chia thành:
nước thải của các công ty dệt nhuộm dao động từ 8.5 tới 12. Nồng độ pH như vậy
không được phép thải trực tiếp vào môi trường ( theo TCVN mức độ B). pH > 9 sẽ
gây độc hại đối với thủy tinh, gây ăn mòn các công trình thoát nước và hệ thống xử
lý nước thải.
+ Màu sắc: Nước thải của các công ty dệt nhuộm có màu khá đen. Lý do bởi thuốc
nhuộm không sử dụng đủ và không thêm màu để chiết sợi cũng như những tạp chất
khác từ sợi tự nhiên. Thậm chí nồng độ thuốc nhuộm thấp (khoảng 0.5 mg/1) cũng có
thể được nhìn thấy bằng mắt thường. nước thải có màu đen gây ra những tác động tiêu
cực tới hệ thống sinh học và những nguồn tiếp nhận. Nó gây cản trở việc hấp thụ, phân
giải ôxi trong nước.
+ Trị số kim loại: một lượng nhỏ các kim loại nặng như đồng, crom, kền, coban, kẽm,
chì, thủy ngân được bổ sung vào sự nhuộm hoạt tính, nhuộm trực tiếp và một vài hỗ
trợ chất hóa học. thậm chí, chỉ với một lượng nhỏ các kim loại trong nước thải, nhưng
nếu không được xử lý sẽ gây ra những nguy hại tới sinh vật và nhân loại.
+ Chất độc: Nước thải bao gồm các chất hoạt tính bề mặt, các hợp chất amin, các chất
cơ bản của các hợp chất ankylphenol etoxylat, và gasoline được sử dụng trong thuốc
nhuộm.
+ Các hợp chất hữu cơ halogen độc hại: sinh ra từ các thuốc nhuộm hoạt tính, một vài
thuốc nhuộm phân tán và chất màu.
+ Muối trung tính (Na
2
SO
4
hoặc NaCl): thuốc nhuộm hoạt tính trong nước thải với
nồng độ cao từ 0.9 tới 2.8g, gây độc hại cho cá.
+ Nước thải công nghiệp dệt nhuộm có thể chứa xyanua (CN), đây là chất độc hại nhất
với nước nếu không được xử lý.
Tóm lại, nước thải của các công ty dệt nhuộm thường có mức độ ô nhiễm vượt
quá giới hạn chất thải cho tiêu chuẩn môi trường B (QCVN 13:2008). Cộng đồng
không chấp nhận nước thải với độ độc hại và ô nhiễm cao.
mảnh kim loại ) được tách ra khi qua bể lắng cát. Xử lý bậc 1 là xử lý ban đầu
cho xử lý sinh học. Trong giai đoạn này thường có các cơng trình đơn vị như
sau:
Song chắn rác: gồm các thanh kim loại tiết diện chữ nhật hình tròn, hình
chữ nhật hoặc hình bầu dục. Song chắn rác gồm hai loại: di động và cố
định. Nó được đặt nghiêng một góc 60 - 90º theo hướng dòng chảy.
Lưới chắn rác: khử các chất lơ lững có kích thước nhỏ hoặc các sản
phẩm có giá trị, thường sử dụng lưới lọc có kích thước lỗ từ 0.5 - 1mm.
Bể lắng cát: loại bỏ cặn thơ, nặng như cát, sỏi, mảnh thủy tinh, mảnh kim
loại, nhăf bảo vệ các thiết bị cơ khí và tiện cho q trình xử lý về sau.
Bể lắng cát gồm những loại sau:
− Bể lắng cát ngang: Có dòng nước chuyển động thẳng dọc theo chiều
dài của bể. Bể có thiết diện hình chữ nhật, thường có hố thu đặt ở đầu
bể.
− Bể lắng cát đứng: Dòng nước chảy từ dưới lên trên theo thân bể.
Nước được dẫn theo ống tiếp tuyến với phần dưới hình trụ vào bể. Chế
độ dòng chảy khá phức tạp, nước vừa chuyển động vòng, vừa xoắn theo
trục, vừa tịnh tiến đi lên, trong khi đó các hạt cát dồn về trung tâm và
rơi xuống đáy.
− Bể lắng cát tiếp tuyến: là loại bể có thiết diện hình tròn, nước thải
được dẫn vào bể cheo chiều từ tâm ra thành bể và được thu vào máng tập
trung rồi dẫn ra ngồi.
10
Nhóm 4
10
Kỹ thuật mơi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
− Bể lắng cát làm thống: Để tránh lượng chất hữu cơ lẫn trong cát và
tăng hiệu quả xử lý, người ta lắp vào bể lắng cát thơng thường một dàn
thiết bị phun khí. Dàn này được đặt sát thành bên trong bể tạo thành một
dựa vào tải lượng lớn nhất. Lúc này chi phí đầu tư cho công trình
sẽ rất tốn kém. Nếu nồng độ chất bẩn chảy vào công trình xử lý
sinh học đột ngột tăng lên, nhất là các chất độc hại đối với vi sinh
vật thì có thể làm cho công trình hoàn toàn mất tác dụng. Ngoài ra,
công trình xử lý hóa học cũng sẽ kém hiệu quả khi nồng độ và
lưu lượng thay đổi liên tục. Điều này đặc biệt khó khăn khi muốn
tự động hóa các quá trình xử lý.
Ngoài ra, do các quá trình tẩy, nhuộm, giặt thường được thực hiện
trong các hồ chứa và hoạt đông theo mẻ nên nước thải được thải ra
từng mẻ (xả gián đoạn). Và tùy từng công đoạn mà thành phần
các loại nước thải có nồng độ và tính chất tương đối khác nhau.
Chính những nguyên nhân này cho thấy việc điều hòa nồng độ
nước thải là vô cùng cần thiết và đôi khi đóng vai trò quyết đònh
trong quá trình xử lý nước thải
Bể trung hòa: có tác dụng trung hòa nước thải tẩy nhuộm có độ
kiềm hoặc acid cao nhằm tạo một môi trường thuận lợi cho vi sinh
vật (pH=6,5-8,5). Quá trình trung hòa có thể diễn ra liên tục hoặc
gián đoạn theo mẻ.
Cơ sơ của phương pháp:
H
+
+OH
-
→H
2
O
Trung hòa nước thải có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau:
• Trộn lẫn nước thải acid với nước thải kiềm
• Bổ sung tác nhân hóa học
• Lọc nước acid qua vật liệu có tác dụng trung hòa
2
O→2NaHCO
3
(pH~8)
Tuyển nổi,vớt dầu mỡ:
Phương pháp tuyển nổi thường được sử dụng để tách các tạp chấ t (ở dạ ng hạt
rắn hoặc lỏng) phân tán không tan, tự lắng kém ra khỏi pha lỏ ng. Trong một số
trường hợp quá trình này cũng được dùng để tách các chất hòa tan như các chất
hoạt động bề mặt.
Trong xử lý nước thải về nguyên tắc tuyển nổi thường được sử dụng để khử
các chất lơ lửng và làm đặc bùn sinh học.
Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sục các bọt khí nhỏ (th ường là
không khí) vào trong pha lỏ ng. Các khí đó kết dính với các hạt và khi lự c nổi
tập hợp các bóng khí và hạt đủ lớn sẽ kéo theo các hạ t cùng nổi lên bể mặt,
sau đó chúng tậ p hợp lại với nhau thành các lớp bọt chứa hàm lượng các hạt
cao hơn trong chất lỏng ban đầu.
Lọc: Lọc được ứng dụng để tách các tạp chất phân tán có kích thước nhỏ
(d>10
-4
mm) khỏi nước thải, mà các bể lắng không thể loại được chúng. Người
ta tiến hành quá trình lọc nhờ các vật liệu lọc, vách ngăn xốp, cho phép chấ t
lỏng đi qua và giữ các tạp chất lạ i. Vật liệu lọc được sử dụng thường là cát
thạch anh, than cốc, hoặc sỏi, thậm chí cả than nâu, than bùn hoặc than gỗ. Việc
lựa chọn vật liệu lọc tùy thuộc vào loại nước thải và điều kiện địa phương.
Có nhiều dạng lọc: lọc chân không, lọc áp lự c, lọc chậ m, lọc nhanh, lọc chảy
ngược, lọc chảy xuôi…
13
Nhóm 4
13
Kỹ thuật môi trường
3
-
,SO
4
2-
.
Trong quá trình này các chất bẩn phức tạp như protein, tinh bột, chất béo… sẽ bị
phân hủy bởi các men ngoại bào cho ra các chất đơn giản như các acid amin, các
acid béo, các acid hữu cơ, đường đơn… Các chất đơn gian này sẽ thấm qua màng
tế bào và bị phân hủy tiếp tục hoặc chuyển hóa thành các vật liệu xây dựng tế bào
mới bởi quá trình hô hấp nội bào cho sản phẩm cuối cùng là CO
2
và H
2
O.
14
Nhóm 4
14
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
Bể bùn hoạt tính: chất hữu cơ được oxi hóa bởi các vi sinh vật trong bể
aerotank. Bùn trong bể là hệ vi sinh vật phức tạp bao gồm vi khuẩn, xạ khuẩn,
vi nấm, động vật nguyên sinh, vi tảo, cứ 1g bùn có chứa từ 10
8
- 10
14
tế bào vi
sinh. Một số vi sinh vật có trong bùn như: Alaligenes. Achromobacter,
Pseulomonas, Corynebacterium.
Bể lọc sinh học: giá thể có thể là đá sỏi hoặc chất dẻo, hiệu suất của quá trình
lượng chất hữu cơ cao
Lọc kị khí bám dính cố định – AFR
Hệ thống lọc kị khí bám dính cố định sử dụng các vi sinh vật bám dính trên vật
liệu lọc đặt trong bể có dòng nước thải chảy từ dưới lên hoặc từ trên xuống và
màng vi sinh vật này không bị rửa trôi trong quá trình xử lý.
Dòng nước thải vào và dòng tuần hoàn ra được phân bố từ bên này sang bên kia
của bể phản ứng sinh học,cắt ngang và tạo ra dòng chảy ngược đi qua màng
sinh học. quá trình xử lý xảy ra là kết quả của sự lơ lửng và hòa trộn sinh khối
bởi màng lọc. Dòng chảy ra ở phần trên của màng, là tập hợp của các tác nhân
bị đào thải. khí nằm ở phía dưới bể phản ứng được thu lại và được chuyển đi
nơi khác để sử dụng sau. Dòng chảy ra được tuần hoàn lại để duy trì điều kiện
16
Nhóm 4
16
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
nạp nước được đồng nhất trong bể phản ứng, bấc chấp dòng chảy vào thay đổi,
vì vậy có thể duy trì điều kiện thủy động lực học đồng nhất trong bể phản ứng.
việc thiết kế bể phản ứng sinh hóa dựa vào thời gian lưu nước và thể tích chất
hữu cơ đầu ra. Thời gian lưu nước trung bình khoảng 0.5-4 ngày tương ứng với
thể tích chất hữu cơ đầu ra từ 5 – 15 kg COD/m
3
.ngày. sinh khối phải thường
xuyên được kiểm tra, và nếu có sự dư thừa sinh khối thì chúng sẽ được làm
sạch khỏi hệ thống và thải ra ngoài trong dòng chảy ra.
III.2.3 Xử lý bậc 3
Xử lý nước thải trong công nghiệp tẩy nhuộm thường ứng dụng bậc cao để khử mầu,
độ đục, một số độc tố kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy sinh học. Trong
công đoạn này thường ứng dụng các quy trình hóa lý như keo tụ, tạo bông, lắng; lọc
hấp thụ than hoạt tính, oxy hóa, phương pháp màng lọc.
lại với nhau tạo hạt có kích thước lớn (bông cặn) dễ lắng
Các chất keo tụ thường dùng:
- Phèn nhôm Al
2
(SO
4
)
3
.nH
2
O (n=14÷18), muối sắt Fe
2
(SO
4
)
3
.nH
2
O hoặc FeCl
3
.nH
2
O
(n=1÷6) được coi là những chất keo tụ cổ điển, trong đó phèn nhôm là chất keo tụ phổ
biến nhất tại Việt Nam, trong khi đó muối sắt lại là chất keo tụ phổ biến ở các nước
công nghiệp phát triển do khoảng pH keo tụ tối ưu rộng hơn (5 ÷ 9), bông cặn nặng,
bền hơn và dư lượng sắt trong nước thấp hơn so với dùng phèn nhôm (pH keo tụ 5,5 ÷
7). Dùng phèn nhôm hoặc muối sắt làm chất keo tụ sẽ xảy ra phản ứng thủy phân tạo
bông cặn hydroxit tham gia hiệu ứng quét và phá tính bền hệ keo:
Al
Nhóm 4
18
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
Tuy nhiên do thời gian tạo hydroxit kim loại rất ngắn (cỡ micro giây) nên các
ion kim loại Al
3+
và Fe
3+
chưa kịp thực hiện chức năng chính là trung hòa điện tích hạt
keo.
- Polime nhôm (PAC): khi hòa tan PAC tạo các hạt polime Al
13
(thực chất là
Al
13
O
4
(OH)
24
7+
) có điện tích vượt trội (7
+
) và kích thước lớn gây keo tụ mạnh, bông
cặn lớn và thủy phân chậm nên tăng tác dụng của chúng lên các hạt keo cần xử lý.
Các chất trợ keo tụ (hay chất tạo bông) gồm: chất hiệu chỉnh pH, dung dịch
axit silixic hoạt tính, bột đất sét và polime (PAA- polyacrylamit). Các chất hiệu chỉnh
pH có tác dụng ổn định pH tăng hiệu quả keo tụ. Axit silixic hoạt tính, bột đất sét và
polime có chung đặc điểm là mang điện tích và hút các hạt keo nhỏ mang điện tích trái
dấu với nó để tạo bông cặn lớn.
Xử lý hóa học:
Các quá trình oxi hóa dựa trên sự tạo thành các gốc tự do hoạt động như OH
•
(thế oxi hóa 2.8V-là tác nhân oxi hóa mạnh nhất trong tất cả các tác nhân oxi hóa được
biết từ trước đến nay) gốc tự do này đóng vai trò một tác nhân oxi hóa không chọn
lọc. Trong các quá trình này, sự khoáng hóa hoàn toàn thu được ở điều kiện nhiệt độ
áp suất bình thường.
• Ozon hóa
Ozon hóa được xem là một trong những quá trình oxi hóa tiên tiến ở pH kiềm
do các chất hữu cơ bị oxi hóa bởi gốc tự do hoạt động được tạo ra trong quá trình phân
hủy ozon. Thực ra trong mỗi quá trình ozon hóa, chất hữu cơ bị oxi hóa một phần do
phản ứng của các gốc tự do, một phần là sự ozon hóa trực tiếp chất hữu cơ. Bởi lẽ,
ozon là chất oxi hóa mạnh hơn oxy, và về mặt lý thuyết , không có hợp chất hữu cơ
nào không bị oxi hóa bởi ozon. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là khó
khăn trong việc thu được ozon và sự nhạy cảm pH của quá trình [Ullmann, 1995].
Hiện nay, ozon hóa được sử dụng ở công đoạn làm trắng trong sản xuất giấy.
Các quá trình ozon hóa gồm có:
- Quá trình UV/O
3
: quá trình ozon hóa được hỗ trợ bằng việc chiếu ánh sáng tử ngoại để
tăng hiệu quả tạo OH
•
hay tạo 2OH
•
với nồng độ cao hơn.
H
2
O+O
3
2OH
2
O
2
+ 2O
3
2OH
•
+ 3O
2
21
Nhóm 4
21
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
- Quá trình H
2
O
2
/UV/O
3
: là sự kết hợp của các quá trình UV/O
3
, H
2
O
2
/O
3
, UV/H
2
•
được tạo ra do sự phân ly của H
2
O
2
xúc tác bởi Fe
2+
, Fe
3+
:
Fe
2+
+ H
2
O
2
→ Fe
3+
+ OH
-
+ OH
•
H
2
O
2
+ OH
•
→ HO
2
R
•
+ Fe
3+
→ R
+
+ Fe
2+
Ở pH thấp sẽ diễn ra phản ứng tái tạo Fe
2+
, khi đó Fe
2+
đóng vai trò xúc tác thật
sự cho phản ứng phân hủy H
2
O
2
:
Fe
3+
+ H
2
O
2
→ H
+
+ FeOOH
2+
với thuốc nhuộm. Hơn nữa, do hệ Fenton thực hiện ở pH axit cỡ 2,5÷4 nên sau phản
ứng tốn hóa chất để trung hòa lại nước thải đã xử lý.
• Oxy hóa bằng Clo
Clo và các chất có chứa clo hoạt tính là chất oxy hóa thông dụng nhất. Người ta sử
dụng chúng để tách H
2
S, hydrosunfit, các hợp chất chứa metylsunfit, phenol, xyanua
ra khỏi nước thải.
Khi clo tác dụng với nước thải xảy ra phản ứng
Cl
2
+ H
2
O = HOCl + HCl
HOCl ↔ H+ + OCl
-
Tổng clo, HOCl và OCl
-
được gọi là clo tự do hay clo hoạt tính.
Các nguồn cung cấp clo hoạt tính còn có clorat canxi (CaOCl
2
), hypoclorit, clorat,
dioxyt clo, clorat canxi được nhận theo phản ứng
Ca(OH)
2
+ Cl
2
= CaOCl
2
+ H
Kết quả đạt được :
-TiO
2
(titan dioxit)với kích thước tinh thể anataza khoảng 20nm cho hoạt tính
cao nhất trong phản ứng quang phân hủy thuốc nhuộm Organe G.
- Tốc độ của quá trình quang phân hủy của các azo phù hợp với tốc độ khoáng
hóa và cùng giảm dần theo thứ tự sau: Y2G> OG> CR~ RBD>AB10B.
-Với thời gian quang hóa khoảng 71% COD và 21% TOC; củng với việc giảm
độc tính và phát triển khả năng phân hủy sinh học của mẫu nước thải tổng hợp
chưấ azo đến mức thích hợp để có thể xử lý tiếp tục bằng các phương pháp sinh
học.
III.1.2. Luận án của tiến sĩ kỹ thuật Tôn Thất Lãng – Viện môi trường và tài
nguyên . Đại học quốc gia tp.HCM về Nghiên cứu mô hình thực nghiệm xử lý kị
khí tốc độ cao để xử lý nước thải phát sinh từ công nghiệp dệt nhuộm .
Kết quả đạt được:
- Hiệu suất xử lý của hệ thống EGSB đối với nước thải chứa hồ tinh bột vượt
qua 90% với tải trong hữu cơ ( Organic loading rate – OLR )là 2.3g COD/L.ngày và
vượt qua 80% với OLDR là 3.9g COD/ngày.
- Hệ thống EGSB có thể xử lý thuốc nhuộm với tải trọng 0.68 – 0.90g thuốc
nhuộm /L.ngày , với hiệu xuất xử lý đạt 88 – 90%.
24
Nhóm 4
24
Kỹ thuật môi trường
Xử lý nước thải dệt nhuộm
- Với thời gian lưu nước (Hidraulic retention time – HRT) là 1.6 giờ và giá trị
nồng độ thuốc nhuộm 60mg/L, hiệu suất khử thuốc nhuộm của hệ thống EGSB có thể
đạt đến 90% và hiếu suất khử COD có thể đạt trên 95% .
- Tải trọng hữu cơ tối đa của mô hình EGSB khi xử lý nước thải dệt nhuộm
thực tế đạt được 25g COD /L.ngày vơi hiệu suất xử lý COD và hiệu xuất xủ lý màu đạt
tác kim loại nặng là các chất độc hại đối với môi trường là hợp lý không gây ô nhiễm
thứ cấp tới môi trường . Các loại xúc tác có giá rẻ phổ biến .
- Xác định các điều kiện tối ưu của quá trình ozôn hóa nước thải nhuộm có
COD < 2.000mg/l.
- Xác định cơ chế ozôn hóa anthraquinon thành các hợp chất có cấu tạo đơn
giản để có thể tiếp tục xử lý triệt để bằng phương pháp khác .
25
Nhóm 4
25