ơ
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾXÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG
(Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc Phùng Quang Hùng)
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong 3 vùng
quy hoạch: Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng và
Vùng Thủ đô. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.231 km2, dân số 1,020
triệu người. Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là
về hạ tầng kỹ thuật, giao thông đối ngoại: liền kề cảng hàng không quốc tế Nội
Bài; có nhiều tuyến đường huyết mạch của quốc gia đi qua như quốc lộ số 2,
đường sắt Hà Nội – Lào Cai; đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đi Côn Minh
(Trung Quốc), kết nối với đường quốc lộ 18 và quốc lộ 5 kéo dài; trong vùng
ảnh hưởng của đường vành đai 4, vành đai 5 - Thành phố Hà Nội.
Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc là một tỉnh nghèo còn nhiều khó
khăn. Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chiếm 53,2%, công nghiệp chỉ
chiếm 13%, thu ngân sách chỉ khoảng 100 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu
người 144 USD. Với chủ trương phát triển công nghiệp làm nền tảng, thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp dân doanh là động lực quan
trọng trong phát triển kinh tế, trên cơ sở phát huy nội lực và tiềm năng, thế mạnh
của địa phương, tỉnh Vĩnh Phúc đã lựa chọn bước đi đột phá, xác định định
hướng đúng, tập trung cao độ việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành nhằm tạo môi
trường đầu tư thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa
bàn tỉnh.
Trong những năm qua, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn
tỉnh đã đạt được kết quả tích cực. Tính đến hết tháng 9 năm 2012, trên địa bàn
tỉnh đã có 121 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng
ký: 2.411,55 triệu USD. Vốn thực hiện đạt: 1.119,79 triệu USD, chiếm
46%/tổng vốn đầu tư đăng ký. Đến nay, đã có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư trên địa bàn. FDI đã đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, thể hiện trên các mặt sau:
các thành phần kinh tế khác trong tỉnh:
FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào tỉnh, phát
triển một số ngành kinh tế chủ lực của địa phương như: sản xuất, chế tạo, lắp ráp
ô tô, xe máy, linh kiện phụ tùng ô tô, xe máy, điện tử..Nhất là sau khi Công ty
Toyota, Honda đầu tư vào tỉnh đã kéo theo các dự án vệ tinh, các nhà cung cấp
sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ô tô, xe máy. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có
24 dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ cho ô tô, xe máy, góp phần
nâng cao tỷ lệ nội địa hoá của các dự án sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy trên địa
114
bàn (tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm ô tô đạt khoảng 30% và xe máy đạt trên 80%).
Hầu hết các doanh nghiệp FDI áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết
nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ. Công nghệ
tiên tiến đã được chuyển giao thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ
vào Việt Nam. FDI có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác trong
tỉnh, thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ của tỉnh nâng cao chất lượng và phát triển nhanh
hơn, nhất là các ngành du lịch, dịch vụ, vui chơi giải trí, kinh doanh bất động
sản...
Thứ tư, FDI góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp tương đối đồng bộ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
trong các KCN, góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa phát triển.
Thứ năm, FDI góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu lao động; tạo
việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động (năm 2000: cơ cấu lao động:
trong ngành nông nghiệp: 85,7%, công nghiệp-xây dựng: 6,5%, dịch vụ: 7,8%;
đến năm 2010 cơ cấu lao động: trong ngành nông nghiệp: 46,4%, công nghiệpxây dựng: 25,5%, dịch vụ: 28,1%). Đến nay, khu vực FDI đã tạo ra việc làm cho
trên 42 ngàn lao động trực tiếp và hàng chục ngàn lao động gián tiếp phục vụ
trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện
đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên
quả?
Trong thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc luôn coi trọng công tác hậu kiểm,
quản lý, giám sát chặt chẽ việc thực hiện triển khai dự án FDI. Tăng cường sự
phối hợp giữa các cơ quan chức năng trên địa bàn trong quá trình cấp GCNĐT
và theo dõi, giám sát hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp sau cấp phép. Thực
hiện các biện pháp thúc đẩy tiến độ giải ngân, nhất là đối với các dự án chậm
triển khai, kiên quyết thu hồi GPĐT/GCNĐT những dự án không có khả năng
triển khai, xử lý nghiêm các dự án vi phạm pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong công tác quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, còn có
nhiều khó khăn, tồn tại. Hiệu lực và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra
chưa đạt kết quả cao. Hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn
còn nhiều quy định thiếu đồng bộ và không rõ ràng, ví dụ: thủ tục chuyển
nhượng vốn góp, chuyển nhượng dự án, thủ tục thanh lý doanh nghiệp, thanh lý
dự án đầu tư, chấm dứt hoạt động của dự án, thu hồi GCNĐT...; có những tình
huống phát sinh trong thực tế không được quy định trong các văn bản pháp luật
(như xử lý trường hợp nhà đầu tư nước ngoài bỏ về nước..); chưa có các chế tài
đủ mạnh để xử lý các dự án chậm tiến độ, nhiều lần giãn tiến độ hoặc tự ý dừng,
chấm dứt dự án đầu tư. Khi vi phạm dẫn tới hàng loạt các vấn đề phát sinh
nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu như chuyển giá, “lỗ giả” gây thất
thu cho ngân sách nhà nước. Trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thanh
tra chưa có quy định về địa vị pháp lý và thẩm quyền của Ban Quản lý các Khu
công nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của công tác thanh tra.
116
Với mục tiêu phấn đấu đưa Vĩnh Phúc cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp
vào năm 2015, trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và
trở thành Thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI; trong bối
cảnh đất nước đang hội nhập sâu rộng với các quốc gia có nền kinh tế và công
nghiệp phát triển, tỉnh Vĩnh Phúc xác định quan điểm thu hút, sử dụng và quản
Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 về
KCN, KCX, KCNC;
Thứ hai, đề nghị sửa đổi Luật Đất đai nhằm đảm bảo thực hiện đền bù
một giá thống nhất, sát với giá thị trường; có quy định quản lý giá đất hiệu quả,
không để tăng đột biến làm ảnh hưởng đến công tác giải phóng mặt bằng, tăng
chi phí đầu tư.
Thứ ba, điều chỉnh các quy định về Thuế thu nhập doanh nghiệp, xem xét,
ban hành ưu đãi Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư trong
KCN nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển KCN.
Thứ tư, ban hành các chế tài đủ mạnh để xử lý các dự án chậm tiến độ,
nhiều lần giãn tiến độ hoặc tự ý dừng, chấm dứt dự án đầu tư, có thể dùng biện
pháp thu hồi dự án, mọi thiệt hại nhà đầu tư phải chịu; bổ sung các quy định, chế
tài cụ thể về việc đặt cọc, ký quỹ (tương ứng khoảng 10-20% tổng mức đầu tư)
khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư các dự án kinh doanh BĐS của các nhà đầu tư
nước ngoài;
Thứ năm, đề nghị sớm có văn bản hướng dẫn tổ chức, hoạt động Thanh
tra của Ban quản lý KCN, KCX, KKT và có ý kiến với UBTV Quốc hội sửa đổi,
bổ sung quy định về tổ chức Thanh tra Ban quản lý KCN, KCX, KKT trong dự
án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thanh tra năm 2004.
118