ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
(UBND tỉnh Hải Dương)
Năm 2020 là mốc thời gian quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân ta phấn đấu xây
dựng Việt Nam “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Để đạt được mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ chủ yếu là “huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực” để phát triển kinh tế.
Nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong
chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, nhằm huy động nguồn lực bên ngoài cho
đầu tư phát triển, góp phần khai thác tốt hơn các nguồn lực trong nước và mở
rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tỉnh Hải Dương đã tập trung nhiều nỗ lực, tạo môi
trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn FDI. Hiện nay, khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đã trở thành một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài tại địa phương.
I. MỘT SỐ KẾT QUẢ THU HÚT ĐTNN TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
Kể từ khi có những dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Hải Dương cho
đến nay, cùng với sự nỗ lực tối đa của chính quyền và nhân dân toàn tỉnh, với
những chính sách linh hoạt, hiệu quả, phát huy lợi thế của tỉnh và được sự giúp
đỡ, ủng hộ của Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương, tỉnh Hải Dương đã đạt
được những kết quả tích cực. Tính đến hết tháng 8/2012, trên địa bàn tỉnh Hải
Dương đã có 234 dự án FDI còn hiệu lực đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ,
với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 5.641,3 triệu USD, cụ thể như sau:
- Về lĩnh vực đầu tư: ĐTNN trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào lĩnh
vực công nghiệp và xây dựng với 200 dự án, tổng số vốn đăng ký là 5.306,9
triệu USD, chiếm 85,4% về số lượng dự án và 94% về số vốn đăng ký tại địa
bàn, với các ngành nghề tiêu biểu như: sản xuất các sản phẩm điện và điện tử,
lắp ráp ô tô, sản xuất xi măng, sắt thép, gia công hàng dệt may, cơ khí chế tạo,
thiết bị cơ khí chính xác...
Khu vực dịch vụ có 21 dự án với tổng số vốn 219,9 triệu USD, chiếm 9%
về số lượng dự án và 4% về số lượng vốn đăng ký tại địa bàn; bao gồm: Xây
nghề mới, công nghệ sản xuất, quản lý mới và các sản phẩm mới có tính cạnh
tranh cao trên thị trường, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Hải Dương
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đồng thời tạo điều kiện khai thác các
nguồn lực của địa phương mà trước đây còn ở dạng tiềm năng như đất đai, nhà
xưởng, nguồn nhân lực. Hiệu quả đem lại là giải quyết việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động và tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương.
1. ĐTNN với việc huy động vốn và đóng góp tăng trưởng kinh tế
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể trong công tác
huy động vốn. Đến nay, tổng vốn đầu tư thực hiện luỹ kế của các doanh nghiệp
FDI tại địa bàn đạt khoảng 2.270 triệu USD chiếm 40,2% tổng vốn đầu tư.
120
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trung bình mỗi năm đóng góp trên 200 tỷ
đồng (thời kỳ 1991-2000); 890 tỷ đồng (thời kỳ 2001-2005), chiếm 18,3% tổng
vốn đầu tư xã hội; 3.571 tỷ đồng (thời kỳ 2006-2010), chiếm 24,3% tổng vốn
đầu tư xã hội tại địa bàn, góp phần tăng trưởng kinh tế tại địa phương.
ĐTNN đóng góp quan trọng vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản
phẩm (GDP) bình quân 10,3%/năm của tỉnh cho cả thời kỳ 2001 -2010. Tỷ lệ
đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP của tỉnh tăng
dần qua các năm: năm 1999: 2,8%, năm 2005: 13,8% và năm 2011 là 17,7%.
Với lợi thế về vốn, công nghệ và kỹ thuật, kinh nghiệm thương trường,
sản phẩm có sức cạnh tranh, các doanh nghiệp ĐTNN tại Hải Dương đang đi
đầu trong việc sản xuất hàng xuất khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thị trường
mới cho hàng hoá xuất khẩu tại địa phương. Bên cạnh đó, còn góp phần mở rộng
thị trường trong nước, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ như nhà hàng, khách sạn,
vận tải, tài chính, ngân hàng…
2. ĐTNN góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất
khẩu
Khu vực công nghiệp có vốn ĐTNN đã và đang phát huy vai trò tích cực
4. ĐTNN với đóng góp ngân sách Nhà nước
Thu từ khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng tăng, đóng góp quan trọng cho
nguồn thu ngân sách nhà nước tại địa bàn.
Thời kỳ 1996 - 2000 thu ngân sách từ ĐTNN mới đạt 13,1 triệu USD, đến thời
kỳ 2001-2005 đạt 157,8 triệu USD; thời kỳ 2006 - 2010 đạt 784,9 triệu USD,
riêng năm 2011 thu từ khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đạt 110 triệu USD, chiếm
44,3% tổng thu ngân sách tại địa phương.
Các doanh nghiệp FDI tại địa bàn đã góp phần quan trọng đưa tỉnh Hải Dương
trở thành một trong những địa phương có thu ngân sách trên 1000 tỷ đồng/năm
vào năm 2002 và trên 5700 tỷ đồng vào năm 2011, khẳng định được vai trò, vị
trí quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh.
5. ĐTNN với việc tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ
Thu hút ĐTNN đã tạo ra sự phát triển lan tỏa tại địa bàn cùng thế và lực
mới cho nền kinh tế. Hoạt động ĐTNN góp phần quan trọng thúc đẩy việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng quản lý, công nghệ
marketing hiện đại vào hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều ngành và lĩnh
vực kinh tế, như sản xuất xi măng, điện tử, ô tô, may, giày... Bên cạnh đó,
ĐTNN giúp thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tăng cường cải tiến chất
lượng, nâng cao khả năng cạnh tranh.
122
6. ĐTNN với vấn đề sử dụng đất và môi trường
Với chủ trương thu hút đầu tư vào các KCN, CCN đã quy hoạch, nhằm
đảm bảo cho sự phát triển bền vững, tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên đất
đai, thuận lợi cho kiểm soát về môi trường, tỉnh Hải Dương được Chính phủ cho
phép quy hoạch, đầu tư xây dựng đến năm 2015 và định hướng đến 2020 phát
triển 18 KCN với diện tích khoảng 3700 ha. Hiện nay, toàn tỉnh có 10 Khu công
nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng với tổng diện tích là
và nguồn vốn nước ngoài đã tạo nên động lực quan trọng cho sự tăng trưởng
kinh tế bền vững và phát triển xã hội với tốc độ cao và ổn định tại địa phương.
3. Tuyên truyền để các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế đã
nhận thức đứng đắn chủ trương và chính sách của Đảng và nhà nước về phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, tích cực tham gia đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh, tạo nội lực để thu hút các nguồn vốn FDI vào địa phương.
4. Thủ tục hành chính cần đơn giản hoá, giảm bớt phiền hà, tạo niềm tin
cho các nhà đầu tư yên tâm sản xuất kinh doanh; chính quyền cần đồng hành
cùng doanh nghiệp, tạo điều kiện giúp đỡ và kịp thời giải quyết những khó khăn
vướng mắc trong quá trình doanh nghiệp triển khai đầu tư kinh doanh.
5. Việc thu hút các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước không thuộc
nguồn ngân sách để xây dựng, phát triển các KCN, CCN tập trung có ý nghĩa hết
sức quan trọng, khơi dậy mọi tiềm năng, phát huy nội lực nhằm phát triển
KTXH tại địa bàn. Thực tế cho thấy toàn bộ các KCN đã đầu tư hạ tầng tại tỉnh
Hải Dương đều do các nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn đầu tư, góp phần sử dụng vốn
có hiệu quả, giảm tải cho ngân sách nhà nước.
6. Cùng với việc đầu tư các công trình hạ tầng kỹ thuật, cần chủ động và
đặc biệt quan tâm, chú ý xây dựng hạ tầng xã hội trong quá trình đầu tư xây
dựng các KCN, CCN nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững.
7. Công tác xúc tiến, vận động đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm
hướng vào các nhà đầu tư lớn, các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư với sự tham
gia trực tiếp của Lãnh đạo tỉnh, tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư ngay từ ban
đầu tiếp xúc, làm việc; đồng thời chú trọng đến việc giữ mối liên hệ thường
xuyên, liên tục với các dự án tốt, các nhà đầu tư tiềm năng.
IV. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG THU HÚT
ĐTNN
1. Quan điểm và định hướng
- Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài
phát triển thêm các KCN và CCN mới. Khi tỷ lệ lấp đầy chung đạt từ 70% trở
lên mới nghiên cứu để bổ sung thêm. Khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng
nhà xưởng 2 - 3 tầng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Tập trung thu hút và phát triển các ngành công nghiệp có thị trường, có
lợi thế cạnh tranh nhằm tiếp nhận chuyển giao công nghệ, từng bước vươn lên
sản xuất linh kiện, phụ tùng để tiến tới sản xuất hoàn chỉnh một số thiết bị, sản
phẩm công nghiệp với công nghệ cao tại địa phương. tăng cường thu hút đầu tư
vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội.
- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, trách
nhiệm công vụ của cán bộ công chức trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư, đất
125
đai, xây dựng, xuất nhập khẩu, lao động, môi trường…, nhằm loại bỏ phiền hà
tạo điều kiện thời gian nhanh nhất cho các nhà đầu tư khi thực hiện dự án. Quan
tâm chăm sóc và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà đầu tư trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà
nước và doanh nghiệp, tạo dựng và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nước
ngoài yên tâm sản xuất kinh doanh tại Hải Dương.
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Phát triển các cơ sở, trang thiết
bị và dịch vụ y tế tiên tiến hiện đại, đáo ứng nhu cầu đa dạng của người dân và
doanh nghiệp ĐTNN.
Chuẩn bị tốt các điều kiện xã hội như: dịch vụ khách sạn, nhà hàng; vui
chơi giải trí..v.v., để phục vụ nhu cầu của các nhà ĐTNN và người lao động làm
việc trong các KCN, CCN. Đồng thời quan tâm giải quyết tốt vấn đề đời sống
nhân dân vùng giao đất cho làm KCN, CCN.
- Tạo môi trường thuận lợi cho các loại hình dịch vụ: tài chính, thị trường
vốn, kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, kiểm toán, xúc tiến thương mại... phát
triển. Hình thành và từng bước mở rộng thị trường vốn trên địa bàn; đẩy mạnh
các ưu đãi về thuế, đất đai và tiếp nhận các dự án đầu tư. Vì vậy, đề nghị thống
nhất vào một danh mục để thuận lợi áp dụng trong thực tế
Những kết quả khích lệ đạt được qua 25 năm thu hút và quản lý đầu tư
nước ngoài đã ghi nhận những nỗ lực của chính quyền và toàn thể nhân dân tỉnh
Hải Dương, khẳng định sự an toàn của môi trường đầu tư, sự đúng đắn của các
chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của tỉnh về đầu tư nước ngoài, góp
phần không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh Hải
Dương tin tưởng và hy vọng rằng, cùng với các chính sách, kế hoạch được ban
hành ngày càng đồng bộ và phù hợp hơn, sự ủng hộ của Chính phủ và các bộ,
ngành trung ương và sự tham gia tích cực của nhân dân, tỉnh Hải Dương sẽ tiếp
tục đạt được những kết quả khả quan hơn nữa, thúc đẩy khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài trở thành điểm sáng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh, góp
phần xây dựng tỉnh Hải Dương phát triển nhanh, mạnh và bền vững./.
127