PHƯƠNG PHÁP dạy học TOÁN có lời văn ở học SINH lớp 1 TRƯỜNG TIỂU học VIỆT TIẾN VĨNH bảo hải PHÒNG - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN CÓ LỜI VĂN
Ở HỌC SINH LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC
VIỆT TIẾN- VĨNH BẢO-HẢI PHÒNG

Sinh viên nghiên cứu: Phạm Lê Mỹ Linh
Lớp: ĐH Giáo dục tiểu học K15.3
Giảng viên hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Cỏong


Năm học: 2015-2016


MỤC LỤC

3


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của vấn đề
Cấp tiểu học là cấp học đầu tiên nền tảng của hệ thống giáo dục tạo ra
những cơ sở ban đầu rất cơ bản bền vững cho trẻ tiếp tục học ở lớp cao hơn. Mỗi
môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển kĩ năng và
nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán và tiếng việt có vị trí đặc biệt quan
trọng. Bởi lẽ các kiến thức và kĩ năng sau này của môn toán của tiểu học có
nhiều ứng dụng trong đời sống, cần thiết cho phát triển việc học. Môn toán giúp
học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian trong thế giới
hiện thực , góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ,

diễn đạt, kĩ năng tư duy, kĩ năng suy luận cho học sinh nhằm xuất một số biện
pháp hình thành kĩ năng giải toán cho học sinh lớp một
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp một
3.2 Khách thể nghiên cứu
Giáo viên và học sinh lớp 1 Trường tiểu học Việt Tiến
22 giáo viên và 140 học sinh
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và sử dụng các biện pháp trên cơ sở đảm bảo tính khoa học,
tính thực tiễn và khả thi có thể góp phần nâng ca chất lượng giải toán có lời văn
cho học sinh lớp một. Nếu học sinh nắm được kĩ năng giải toán có lời văn thì
các em sẽ giải chính xác và làm nền tảng cho giải toán có lời văn ở các lớp trên
5.Nhiệm vụ nghiên cứu:
Cơ sở lý luận về việc vận dụng phương pháp dạy học toán có lời văn ở học
sinh lớp 1 trường tiểu học Việt Tiến Vĩnh Bảo Hải Phòng
Thực tiễn của về phương pháp dạy học toán có lời văn ở học sinh lớp một
Đề xuất một số biện pháp nhằm vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy
học toán có lời văn ở học sinh lớp một góp phần nâng cao chất lượng dạy học
6. Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian và khả năng có hạn nên em chỉ đi sâu nghiên cứu vấn đề
sau:”Chương trình toán lớp một mạch kiến thức giải toán có lời văn”
7. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đảm bảo tính chính xác, khoa học khách quan em phối hợp
các phương pháp nghiên cứu sau:

5


-Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái

người học nhằm thực hiện một nội dung dạy học đã được xác định. Dạy giải
toán có lời văn ở lớp 1 là vấn đề khó nên phương pháp dạy học rất cần thiết. Có
rất nhiều các nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy toán như:
-Phương pháp dạy học môn toán ở tiểu học (Nhà xuất bản giáo dục-2008)
-Hướng dẫn giải toán (Nhà xuất bản giáo dục)
-Những lỗi khi giải toán ở tiểu học (Nhà xuất bản giáo dục 2010)
-Phương pháp giải bài toán ở tiểu học – Lê Công Hạnh
-Phương pháp viết nghiên cứu ứng dụng sư phạm
-Sách giáo viên thiết kế môn toán ở lớp một
-Sách giáo khoa lớp 1
-Các đề tài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp của các trường đại học ...
Có vô vàn nghiên cứu liên quan đến toán học và phương pháp dạy học môn
toán ở tiểu học và ở lớp một nhưng chưa có nghiên cứu nào ở trường tiểu học
Việt Tiến. Vậy bài nghiên cứu của em là nghiên cứu phương pháp dạy học toán
có lời văn ở học sinh lớp 1 ở trường tiểu học Việt Tiến
1.2. Bài toán có lời văn
Bài toán có lời văn được hiểu là tình huống có vấn đề trong đó chứa đựng
các dữ kiện ẩn số nhất định, ẩn số được mô tả bằng các tình huống ngôn ngữ .
Việc giải nó chủ thể phải phân tích tình huống ngôn ngữ để tìm kiếm thuật giải
trong đó
Các bài toán có lời văn ở tiểu học chia làm hai dạng : bài toán đơn và bài
toán hợp. Bài toán đơn là bài toán khi giải chỉ có một phép tính . Khi giải tốt các
7


bài toán đơn có thể tổng hợp để giải bài toán hợp . Đối với học sinh lớp một mới
chỉ học bài toán đơn
Giải toán có lời văn là một trong bốn mạch kiến thức cơ bản môn toán 1
( số và phép – đo đại lượng – yếu tố hình học – giải toán có lời văn )
Mục tiêu của daỵ học giải toán có lời văn lớp một nhằm giúp học sinh :

-Ngôn ngữ toán học còn hạn chế, kỹ năng tính toán trình bày thiếu khoa
học chưa chính xác chưa có biện pháp phương pháp học toán, giải toán một cách
máy móc dập khuôn, bắt chước
- Học sinh phần lớn biết giải toán có lời văn có kết quả đúng của bài toán
-Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế
- Trình bày bài còn chưa sạch đẹp
- Một số học sinh chưa chịu khó trong việc làm bài tập về nhà chưa rèn
luyện thêm
-Học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của
các em còn mang tính trực quan là chủ yếu
Một số nguyên nhân dẫn đến việc dạy và học toán có lời văn ở tiểu học
chưa hiệu quả:
*Nguyên nhân từ học sinh:
-Đặc điểm tư duy: Lớp 1 thao tác tổng hợp còn sơ đẳng, khả năng tư duy
còn hạn chế
-Đặc điểm trí nhớ: Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế, trí nhớ trực quan
hình tượng được phát triển hơn từ ngữ logic, học sinh có khả năng ghi nhớ tốt
dặc biệt là ghi nhớ máy móc, chưa biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ nhất là
các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa, tình cảm có ảnh hưởng lớn đến đọ bền vững và
độ nhanh của ghi nhớ. Trẻ nhanh nhớ nhưng rất nhanh quên
-Đặc điểm tri giác : tri giác của các em mang tính không chủ định chỉ biết
nhìn chưa biết qua sát, phụ thuộc và chính đối tương tri giác đượm màu sắc xúc
cảm. Tri giác phản ánh những thuộc tính trực quan, cụ thể của sự vật, hiện
tượng. Tronh phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn
trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫn
các em biết xem xét, biết lắng nghe. Vì khả năng chú ý không củ định mạnh nên
việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho
học sinh. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định
cho giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi kéo sự chú ý của học
sinh.

chữa bài làm của học sinh ...


Phương pháp phát hiện giải quyết vấn đề

Mỗi dạng toán thêm bớt giáo viên có thể biến tấu để có có những bài toán
có vấn đề. Chẳng hạn bài toán “ bớt “ bài toán thêm. Giáo viên có thể tạo tình
huống có vấn đề bằng cách cho sẵn lời giải, học sinh tự đặt phép tính hoặc cho
sẵn phép tính học sinh đặt câu lời giải, cho hình vẽ học sinh đặt lời bài toán và
giải
Với những tình huống khó có thể phối hợp với các phương pháp khác để
giúp học sinh thuận lợi chi việc làm bài như : phương pháp thảo luận nhóm,
phương pháp kiến tạo
Một số hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
-Dạy theo nhóm
10


-Dạy học cá nhân
-Tổ chức trò chơi
- Liên hệ , giải các bài toán thực tế, tích hợp dạy các môn học khác
- Trong quá trình dạy toán có lời văn một việc không thể thiếu giúp cho học
sinh chủ động sáng tạo trong quá trình học tập, phát triển ngôn ngữ, kĩ năng
trình bày, giao tiếp đó chính là những bài toán do học sinh tự liên hệ nêu ra.
Thông qua việc đề toán và giải ngững bài toán thực tế giúp học sinh hiểu sâu
kiến thức hơn
-Tích hợp dạy lồng ghép các môn học khác như : giáo dục đạo đức , giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh
-Giúp học sinh nắm được các bước giải bài toán có lời văn
-Quy trình giải bài toán có lời văn thông thường qua 4 bước

10-3=7
Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, dần thoát li khỏi
hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải đọc và
hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và giải bằng lời chọn phép tính thích hợp
chưa cần viết lời giải
*Mức độ 3:
Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề
bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ yêu cầu hoàn thiện. Tư duy học sinh
từ hình ảnh phát triển thành ngô ngữ, thành chữ viết. Cấu trúc đề toán gồm hai
phần: phần cho biết và phần hỏi
*Mức độ 4 :
SGK ra phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm
quen
Bài giải gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính và đáp số
Cần luyện kĩ cho học sinh phần tóm tắt bài toán. Câu lời giải không bắt
buộc theo mẫu mà để học sinh diễn đạt theo ý hiểu của mình. Hướng dẫn học
sinh làm đúng theo 4 bước đề giải bài toán

12


CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC CỦA TRƯỜNG
TIỂU HỌC VIỆT TIẾN
2.1. Thực trạng về việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 trường
tiểu học Việt Tiến
2.1.1. Vài nét về trương tiểu học Việt Tiến
Trường tiểu học Việt Tiến được thành lập từ năm 1946 tới nay đã được 70 năm.
Trước đây trường gồm 1 khu chính tại Liễu Kinh và 2 khu phụ 1 tại Viên Lang 1
tại Tẩm Thượng nhưng hiện nay đã tập trung về khu chính. Trường gồm 18 lớp
với 27 giáo viên và hai cán bộ quản lí. Các giáo viên của trương hiện nay đều có

*Bảng 1:Ý kiến của giáo viên về mức độ khó khi dạy toán có lời văn ở lớp 1
Mức độ
Rất khó
Khó
Bình thường
Dễ

Tỉ lệ
10%
70%
15%
5%

Đầu tiên giúp học sinh nắm chắc cấu tạo của một bài toán có lời văn. Bài
toán có lời văn gồm hai thành phần chính là những cái đã cho biết và những cần
tìm. Vì khó có thể giải thích cho học sinh bài toán là gì nên mục tiêu đầu tiên là
giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán
+ Cái đã cho( dữ kiện)
+Cái cần tìm ( câu hỏi)
Để làm được việc này toán lớp 1 đã vẽ bốn bức tranh, kèm theo là 4 đề
toán: 2 đề còn thiếu dữ kiện, 1 đề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện và câu
hỏi (biểu thị bằng dấu...). Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán, sau đó
điền số vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi. Từ đó giáo viên giới
thiệu cho học sinh bài toán thường có hai phần những số đã cho và số phải tìm.
Giáo viên hướng dẫn cho các em giải toán có lời văn ở học sinh lớp 1 có 2 dạng
*Dạng thêm-gộp
VD: (118/SGK 1) Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa hỏi tổ
em có bao nhiêu bạn?
Bài 3 (124/SGK 1) Một hộp có 12 bút xanh và 3 bút đỏ. Hỏi hộp đó có tất
cả bao nhiêu cái bút?

Để làm việc này sách toán đã vẽ 4 bức tranh, kèm theo là 4 đề toán : 2 đề
còn thiếu dữ kiện , 1 dề còn thiếu câu hỏi, 1 đề thiếu cả dữ kiện và câu hỏi “biểu
thị bằng dấu ...” Học sinh quan sát tranh rồi nêu miệng đề toán , sau đó điền số
vào chỗ các dữ kiện rồi điền từ vào chỗ câu hỏi ( còn để trống). Từ đó giáo viên
giới thiệu cho các em bài toán thường có hai phần
-Những số đã cho
-Số phải tìm (câu hỏi)
Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “ bài toán có lời văn”
Các loại toán có lời văn trong chương trình củ yếu là hai loại toán : thêm –
bớt thỉnh thoảng có biến tấu một chút :
15


Bài toán có “thêm” thành bài toán gộp , chẳng hạn : “ An có 4 quả bóng ,
Bình có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến
Bài toán “bớt” thành bài toán tìm số hạng chẳng hạn :” Lớp 1A có 35 bạn
trong đó có 20 bạn nữ . Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam ? dạng này ít gặp vì
dạng này hơi khó
Về hình thức trình bày bài giải , học sinh phải trình bày bài giải đầy đủ
theo quy định thống nhất từ lớp 1 đến lớp 5
-Câu lời giải
-Phép tính giải
-Đáp số
Ví dụ : Xét bài toán “ nhà An có 5 con gà mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi
nhà A có tất cả mấy con gà?”
Bài giải
Nhà An có tất cả số con gà là:
5+4=9 (con gà)
Đáp số: 9 con gà
-Về số lượng bài toán trong một tiết học được rút bớt để dành thời gian cho

Tỉ lệ
90%
10%
0%
0%

*Bảng 3:Ý kiến đánh giá của giáo viên về tóm tắt bài toán
Mức độ
Rất quan trọng
Quan trọng
Bình thường
Không quan trọng

Tỉ lệ
80%
20%
0%
0%

*Bảng 4:Giáo viên gợi ý cho học sinh tóm tắt bài toán
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không

Tỉ lệ
95%
5%
0%

Em có bài toán thế nào?
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc đề ở sách giáo khoa , hướng dẫn tóm tắt
đề toán
Có thể lồng “cốt câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ
viết câu lời giải hơn.
*Bảng 6:Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm lời giải của bài toán
Mức độ
Thương xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không cần

Tỉ lệ
95%
5%
0%
0%

*Bảng 7:Giáo viên gợi ý phép tính cho học sinh
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không cần

Tỉ lệ
15%
30%
45%
10%

“Mấy cộng mấy” (5+4=9)
-Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn
học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn( thậm chí khó hơn nhiều) việc chọn
phép tính và ra đáp số. Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với
cách giải loại toán này nên các em rất lúng túng. Thế nào là câu lời giải? Vì
sao phải viết câu lời giải? Không thể giải thích cho học sinh lớp 1 hiểu một
cách thấu đáo nên có thể giúp học sinh bước đầu hiểu và nắm được cách làm.
Giáo viên thường dùng những cách như:
-Đưa ra câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu và cuối để có câu lời giải
hoặc thêm từ là để có câu lời giải
-Đảo cụm từ
-Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt, coi như đó là từ khóa của câu lời
giải

19


Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh tự nêu nhiều câu lời giải khác nhau,
sau đó bàn bạc để chọn câu thích hợp nhất, không bắt buộc các em nhất nhất
viết theo một kiểu
*Bảng 10: Giáo viên cho học sinh làm nháp trước khi làm vào vở
Mức độ
Thương xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không cần

Tỉ lệ
83%
27%

hay giấy kiểm tra.
Rèn lời giải cho học sinh:
Câu lời giải cách lề 1 ô ( hoặc 2 ô) tùy theo số lượng chữ
Phép tính cách lề 2 ô
Đáp số cách lề 3 ô
20


VD:
Bài giải
Đàn vịt có tất cả số con là:
5+4=9 (con)
Đáp số: 9 con vịt
Giáo viên giải thích cho học sinh tại sao từ con lại được đạt trong ngoặc
đơn: Theo cách hiểu sẽ là 5 con+ 4 con = 9 con nhưng viết như vậy dài dong
thiếu khoa học nên cách viết 5+4=9 (con) là cách viết ngắn gọn phù hợp. Trong
đáp số của bài toán thì không có phép tính nên ta ghi đầy đủ: “ Đáp số : 9 con
vịt” mà không cần ngoặc đơn.
*Bảng 13: Tỉ lệ giáo viên cho học sinh kiểm tra lại bài toán:
Mức độ
Thương xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không cần

Tỉ lệ
90%
7%
3%
0%

bằng cụm từ còn lại là
Bài giải
Số gà còn lại là
9-3=6 (con)
Đáp số : 6 con gà
Bài 1 trang 152
Bài toán: Trong bến có .... ô tô, có thêm...... ô tô vào bến.
Hỏi........................................................................................?
Học sinh quan sát tranh và hoàn thiện bài toán và giải bài toán
Đoạn thẳng AB

: 5cm

Đoạn thẳng BC

: 3cm

Cả hai đoạn thẳng: ..... cm?
Học sinh phân tích đề toán tìm ra cái đã cho và cái cần tìm, hình thành câu lời
giải và phép tính. Sau đó trình bày lời giải hoàn chỉnh
Bài giải
Cả hai đoạn thẳng dài là:
5+3=8 (cm)
Đáp số: 8cm
*Bảng 15: Giáo viên cho học sinh làm thêm các bài tập nâng cao mở rộng
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
22

Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Ít
Không

Tỉ lệ
50%
30%
20%
0%

Con đường nhận thức của học sinh tiểu học là:” Từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng trở lại thực tiễn. Đồ dùng thiết bị
dạy học là phương tiện vật chất, phương tiện hữu hình cực kì cần thiết khi dạy
giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 1. Cũng trong một bài toán có lời văn
nếu chỉ dùng lời để dẫn dắt, dùng lời để hướng dẫn học sinh làm bài thì vừa vất
vả tốn công vừa hiệu quả không cao sẽ khó khăn nhiều so với dùng đồ dùng
23


thiết bị, tranh ảnh vật thực để minh họa. Chính vì vậy cần thiết phải sử dụng đồ
dùng thiết bị dạy học để dạy học sinh giải bài toán có lời văn.

24


*Bảng 17: Giáo viên sử dụng giáo án điện tử trong dạy giảo toán có lời văn cho
học sinh lớp 1
Mức độ

Nội dung dạy - học toán qua sử dụng công nghệ thông tin đưa tới cho các
em nhiều kiến thức hơn, giúp các em tích cực hóa trong các hoạt động
nhận thức
Một số học sinh tiếp cận, thực hành sử dụng máy tính sớm.

100% giáo viên áp dụng phương pháp trực quan trong dạy giải toán có lời
văn cho học sinh tiểu học. Giáo viên sử dụng phương pháp trực quan giúp học
sinh tìm hiểu đề bài, tóm tắt đề toán thông qua tranh ảnh, mẫu vật, sơ đồ,... từ đó
học sinh hiểu đề bài hơn, tìm đường lối giải một cách thuận lợi. Đặc biệt trong
sách giáo khoa toán 1 có hai loại tranh vẽ giúp học sinh giải toán có lời văn đó
là: một là loại gợi ra phép cộng hai là gợi ra phép trừ. Như vậy chỉ cần nhìn vào
tranh vẽ học sinh đã có thể định ra được cách giải bài toán. Trong những trường
hợp này bắt buộc giáo viên phải sử dụng tranh vẽ và phương pháp trực quan.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status