Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHNoPTNT tây hà nội - Pdf 35

www.luanvan.online

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................................................1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG........3

1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thơng mại (NHTM)...........................3
1.1.1.
Ngân
hàng
thương
mại

hoạt
động
của
NHTM....................................3
1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.............................................................3
1.1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng.................................................................7
1.1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại....................................12
1.1.2.1. Tín dụng – Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh
tế...........12
1.1.2.2. Các loại hình thức tín dụng..........................................................................14
1.2.
Chất
lượng
tín
dụng
của
ngân

Nội ..........................................................................................................26
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT Tây Hà Nội...................27
2.1.1.3. Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh tại Chi nhánh
NHNo&PTNT Tây Hà Nội .................................................................................32
2.1.2. Thực trạng các doanh nghiệp vừa và nhỏ..............................................36
2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ...39
2.2.1.
Cho
vay
theo

nợ....................................................................................39
2.2.1.1.

nợ
tín
dụng
đến
/
06/2004 .................................................................39
2.2.1.2.

nợ
tính
đến
hết
31/12/2004................................................................41
2.2.2. Chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ....................42

NHÁNH
NHNO&PTNT
TÂY

NỘI....................................................49

Luanvan.online

Page 2


www.luanvan.online
3.1. Định hướng phát triển tín dụng của Chi
nhánh........................................49
3.1.1. Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh năm
2004.................49
3.1.1.1. Tổng nguồn vốn đến 31/12/2004.............................................................49
3.1.1.2. Dư nợ đến 31/12/2004.............................................................................50
3.1.1.3. Kết qủa tài chính.....................................................................................50
3.1.2. Định hướng mục tiêu giải pháp năm
2005...............................................51
3.1.2.1.Định hướng
chung.....................................................................................51
3.1.2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2005...............................................................51
3.1.2.3. Các giải pháp thực hiện.........................................................................52
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trong doanh nghiệp vừa và
nhỏ.......................................................................................................................53
3.2.1. Công tác huy động vốn..............................................................................53
3.2.2 .Công tác tính dụng điều hành hoạt động kinh doanh.............................53
3.2.3.

www.luanvan.online
Với bất cứ một quốc gia nào, bất cứ một nền kinh tế nào thì vốn luôn
là yếu tố hàng đầu quyết định sự tăng trưởng kinh tế.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu sản xuất không đủ tiêu dùng, qua gần 15
năm đổi mới Việt Nam đã và đang từng bước vươn lên, bước đầu khẳng định
được uy tín, chinh phục được mọi thị trường, chiếm lĩnh thị trường lớn, ổn định
góp phần nâng cao vị thế của mình trên chính trường quốc tế. Hiện nay với cơ
chế mở cửa, các thành phần kinh tế hoạt động một cách bình đẳng theo pháp luật.
Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời và phát triển mạnh mẽ. Cùng với nó là sự
cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài đòi
hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới công nghệ, trang thiết bị và mở
rộng sản xuất.
Theo dự tính trong tương lai thì nhu cầu vốn ngày càng tăng nhằm đáp ứng
yêu cầu của sản xuất kinh doanh tạo ra năng lực mới, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp. Để hoạt động kinh doanh phát triển và cạnh tranh
được trên thị trường các doanh nghiệp cần phải đầu tư một lượng vốn không nhỏ,
mà vốn tự có của doanh nghiệp chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu vốn của họ.
Đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ do vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn
là rất cấp thiết. Vì vậy ngân hàng chính là nơi mà các doanh nghiệp này tìm đến
để giải quyết các khâu về vốn.
Tín dụng của các ngân hàng thương mại là một trong những hình thức sử
dụng vốn đối với các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
nói riêng. Tuy nhiên trong những năm qua, vấn đề tín dụng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ gặp không ít những khó khăn và tồn tại như: sự an toàn, chất
lượng, hiệu quả... đặc biệt là vấn đề chất lượng của các khoản tín dụng. Đây là
mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trong đó có Chi nhánh NHNo&PTNT
Tây Hà Nội. Nâng cao chất lượng tín dụng luôn là một vấn đề cấp thiết và quan
Luanvan.online

Page 4

1.1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển.
Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Quá trình phát triển kinh tế kinh tế là điều kiện
và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống
ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ
vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ
kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi tiền tại các
cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại. Người làm nghề đúc tiền, đổi tiền, thực
hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi nhuận
thu được là chênh lệch giá mua-bán.
Người làm nghề đổi tiền thường là người giàu, trước đó có thể đã làm
nghề cho vay nặng lãi. Họ thường có két tốt để cất giữ đảm bảo an toàn. Do yêu
cầu cất trữ tiền của các lãnh chúa, các nhà buôn... nhiều người làm nghề đổi tiền
thực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ. Thực hiện cất trữ hộ làm tăng thu nhập,
tăng khả năng đa dạng hoá loại tiền, tăng qui mô tài sản của người kinh doanh
tiền tệ. Việc cất trữ hộ nhiều người khác là đièu kiện để thực hiên thanh toán hộ
và thanh toán không dùng tiền mặt. Với những ưu điểm của mình thanh toán
không dùng tiền mặt đă thu hút các thương gia gửi tiền nhiều hơn.
Trong đIều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng) các chủ cửa
hàngvàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền. Những ngân hàng loại
này gọi là ngân hàng của những thợ vàng.
Luanvan.online

Page 6


www.luanvan.online
Nghề ngân hàng cũng được bắt đầu từ người cho vay nặng lãi. Một số
người cho vay nặng lãi đã thực hiện cả nghiệp vụ đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh

www.luanvan.online
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một số định nghĩa dựa trện các hoạt
động chủ yếu. Ví dụ, Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ghi “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Hình thức ngân hàng đầu tiên- ngân hàng của các thợ vàng, hoặc
ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi- thực hiện cho vay với các cá nhân,
chủ yếu của các người giàu như: quan lại, địa chủ... nhằm mục đích phục vụ
tiêu dùng. Nhiều chủ ngân hàng lớn còn mở rộng cho vay đối với vua chúa,
nhằm tài trợ một phần cho chi tiêu trong chiến tranh. Hình thức cho vay chủ
yếu là thấu chi- tức là cho khách hàng chi nhiều hơn số tiền gửi tại ngân hàng,
một hình thức cho vay có nhiều rủi ro. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều
chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi (lưu thông thay vàng
bạc), phát hành tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân
hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh toán, ảnh
hưởng xấu đến hoạt động mua bán. Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà buôn
không thể sử dụng nguồn vay này. Trước tình hình đó những nhà buôn tự thành
lập ngân hàng gọi là ngân hàng thương mại. Như vậy ngân hàng thương mại
được hình thành xuất phát từ tư bản thương nghiệp, và gắn liền với qúa trình luân
chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các
nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động tiể gửi, thanh toán, cất trữ
hộ và cho vay. Tuy nhiên, đIểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và các nhà
buôn vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các khoản cho vay
ngắn hạn, dựa trên quá trình luân chuyển của hàng hoá với lãi suất phải thấp hơn
lợi nhuận tạo ra do sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an toàn, ngân hàng thương mại

Luanvan.online


Luanvan.online

Page 9


www.luanvan.online
bản của ngân hàng. Thanh toán điện tử thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy
nhanh tốc độ, tính thuận tiện an toàn trong thanh toán. Các loại thẻ đang thay thế
dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ, dịch vụ ngân hàng đang tạo ra các tiện
ích ngày càng lớn cho dân chúng.
Quá trình phát triển của các ngân hàng không những làm gia tăng số lượng
các ngân hàng mà còn làm tăng qui mô của mỗi ngân hàng. Tích tụ và tập trung
vốn đã tạo ra các công ty ngân hàng cực lớn với số vốn tự có hàng tỷ đô la Mỹ,
tổng tài sản hàng trăm tỷ đô la Mỹ, đủ sức tài trợ cho các ngành công nghiệp và
dịch vụ mũi nhọn toàn cầu.
Quá trình phát triển của ngân hàng đã tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày
càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng. Các hoạt
động ngân hàng xuyên quốc gia và đa quốc gia đã và đang được thúc đẩy hình
thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngân hàng nhằm tạo ra những chính
sách nhằm thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống ngân hàng trong mỗi
quốc gia, khu vực và quốc tế.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng
hoảng và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn
thất rất lớn cho nền kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói các vụ sụp đổ
ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển ngân hàng. Các
nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lý để quản lý sự
sụp đổ và mở đường cho sự phát triển của khu vực ngân hàng.
1.1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các

hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng
(là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh
doanh.
* Cho vay tiêu dùng
Luanvan.online

Page 11


www.luanvan.online
Tronggiai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với
cá nhân và hộ gia đình bơỉ vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ
nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh
trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách
hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành
một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền
kinh tế phát triển
*Tài trợ cho dự án.
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn: Tài trợ xây dựng nhà
máy, phát triển ngành công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư
vào đất.
d). Bảo quản tài sản hộ
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và tài sản
khác cho khách hàng trong két ( vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân
hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ
quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Dịch
vụ này phát triển cùng vời nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá
cho khách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ...
e) .Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.

khoản cho vay của ngân hàng. Ngày nay, chính phủ dành quyền cấp phép hoạt
động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập
với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của
chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính
phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động
được.
h). Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do
ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo
lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng
Luanvan.online

Page 13


www.luanvan.online
đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của
mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ
chức tín dụng khác ...
i). Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing)
Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn. Nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê khách hàng có thể
mua( do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng tích cực cho
khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp
đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều
kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc100% giá trị của tài sản cho thuê. Do
vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp
vào tín dụng trung và dài hạn.
j). Cung cấp dịc vụ uỷ thác và tư vấn.
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên

hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung
cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát
hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Tín dụng – Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế.
- Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay
và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất
định. Hay nói một cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối
quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyền sử dụng
một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với
những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và
thu hồi.
Trong quan hệ mua bán chịu, thông thường giá bán chịu hàng hoá cao hơn giá
bán trao tiền ngay, phần chênh lệch này chính là lãi của hàng hoá đem bán chịu.
Quan hệ mua bán chịu chỉ diễn ra giữa các đơn vị liên quan trực tiếp với nhau.
Vì vậy nó không đáp ứng được nhu cầu vay mượn ngày càng tăng của nền sản
Luanvan.online

Page 15


www.luanvan.online
xuất hàng hoá. Mặt khác, do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất,
xã hội thường xuyên xuất hiện hiện tượng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá
nhân này và nhu cầu thiếu vốn ở các tổ chức cá nhân khác. Hiện tượng thừa thiếu
vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian sử dụng vốn của tổ chức hay cá
nhân đó. Trong khi đó số lượng các khoản thu nhập và chi tiêu ở các tổ chức cá
nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục. Vậy để
khắc phục tình trạng này thì chỉ có ngân hàng – một tổ chức chuyên kinh doanh
tiền tệ mới có khả năng giải quyết được những mâu thuẫn đó.

được nhau và bên đối tác sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn thì kế hoạch sẽ trở thành
hiện thực. Tuy nhiên, khả năng gặp mặt giữa hai bên có xảy ra không? Trong
nền kinh tế thị trường, hàng ngày hàng giờ không biết xảy ra bao nhiêu mối quan
hệ như vậy. Nó đã hình thành nên: một bên là những người có tiền tích luỹ, có
khả năng cung cấp và phía bên kia là những người có nhu cầu vay cho đầu tư
phát triển. Như vậy nảy sinh vấn đề là làm như thế nào để họ có thể tìm gặp được
nhau và làm thế nào để cùng một lúc thoả mãn được nhu cầu vốn đa dạng và to
lớn trong khi các nguồn tiết kiệm còn đang nằm phân tán trong xã hội. Không
phải bất kì ai cũng có khả năng hoặc đầu tư vay vốn trên thị trường tài chính,
ngoài ra khi giao dịch trên thị trường tài chính đòi hỏi chi phí về tiền bạc và thời
gian rất lớn. Do đó các ngân hàng thương mại với chức năng cơ bản là trung gian
tài chính, hoạt động như một chiếc cầu nối liền giữa khả năng cung ứng và nhu
cầu về vốn tiền tệ trong xã hội đã cơ bản giải quyết được những vấn đề nẩy sinh
trên. Đồng thời với tư cách là một trung gian, tín dụng ngân hàng đóng vai trò là
người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và một bên là người có nhu
cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường bằng những biện pháp kinh tế năng
động và áp dụng các phương pháp kĩ thuật theo hướng hiện đại tiên tiến, ngân
hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn vốn tiền tệ tiết kiệm dự trữ trong
xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc phù hợp với nhu cầu vốn trong sản
xuất kinh doanh. Chính nhờ có tín dụng ngân hàng mà những đồng tiền tạm thời
nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiền phân tán thành nguồn
vốn tập trung phục vụ cho nhu cầu kinh doanh. Qua đó thúc đầy hoạt động sản
xuất kinh doanh giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển.
1.1.2.2. Các loại hình thức tín dụng

Luanvan.online

Page 17



-

Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và

xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp
thương mại và dịch vụ.
-

Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ xung

vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
- Cho vay Nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động, ...
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải
các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng
tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
- Thuê mua và các loại tín dụng khác.
c). Phân loại theo căn cứ đảm bảo.
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối vói
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh,
quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn
thu nợ bổ xung.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách
hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo
đảm. Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai,
bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay
trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.

được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau.

Luanvan.online

Page 20


www.luanvan.online
Hai là cho vay bằng tài sản - loại này được áp dụng phổ biến dưới hình thức
tài trợ thuê mua.
h). Phân loại theo thành phần kinh tế.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tê ngoài quốc doanh.
1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi
là tín dụng ngân hàng).
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hưởng theo nhiều nghĩa khác
nhau: ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật
ngữ tín dụng nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiêu theo
các nghĩa sau:
+ Xét trên góc độ dịch chuyển quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm
sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp dịch
chuyển quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
+ Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên
cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể. Như một công ty công nghiệp hoặc thương mại
bán hàng trả chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán hàng
chuyển giao hàng cho bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận
bên mua phải trả tiền cho bên bán. Phổ biến hơn cả là giao dịch của ngân hàng và

này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
+ Giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài gốc. Để thực hiện được nguyên
tắc này phải xác định lãi xuất danh nghĩa lơn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách
khác lãi xuất thực phải dương (Lãi suất thực = Lãi xuất danh nghĩa- Tỷ lệ lạm
phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên
Luanvan.online

Page 22


www.luanvan.online
trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệ lạm phát,
ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.
+ Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết
hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín
dụng như hợp động tín dụng, khế ước... thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi
vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.2.2.1. Hoạt động tín dụng xét ở góc độ hoạt động của ngân hàng
Các khoản tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt khi hiệu quả sử dụng
vốn cao, an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể sử dụng đồng thời
mang lại một mức lợi nhuận nào cho ngân hàng. Dưới đây là một số chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng đối với ngân hàng:
a) Các chỉ tiêu về an toàn tín dụng và mức độ rủi ro
- Tỷ lệ nợ quá hạn.
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn là phần còn lại mà đến hạn hoặc có thêm thời gian gia hạn vẫn

Tổng dư nợ đến kỳ hạn
Tỷ lệ cho vay =
Tổng lượng vốn huy động tích lũy
Tỷ lệ này cho biết khả năng ngân hàng tận dụng nguồn vốn huy động trong
hoạt động tín dụng.
- Cơ cấu cho vay theo mức lãi suất và lãi suất cho vay bình quân. Chỉ tiêu
này cho thấy được mức lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng. Nói chung, lãi
suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân thì ngân hàng
mới hoạt động và có lãi.
- Vòng quay vốn tín dụng trong năm
Dư nợ trong năm
Vòng quay vốn tín dụng trong năm =
Luanvan.online

Page 24


www.luanvan.online
Dư nợ bình quân năm
Chỉ tiêu này cho ta biết một đồng vốn của ngân hàng được cho vay bao
nhiêu lần trong năm. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ ngân hàng thu
được nhiều nợ và chứng tỏ rằng nguồn vốn mà ngân hàng đã đầu tư vào hoạt
động kinh doanh có hiệu quả.
c) Các chỉ tiêu về doanh lợi
- Tổng doanh thu của ngân hàng từ hoạt động tín dụng
- Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động tín dụng của ngân hàng và từ trong
hoạt động kinh doanh khác.
- Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của ngân hàng.
1.2.2.2. Chất lượng tín dụng ngân hàng dưới góc độ họat động của doanh
nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status