www.Luanvan.Online
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1. Lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư.
1.1.1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư.
1.1.1.1. Khái niệm dự án.
1.1.1.1.1. Khái niệm.
Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tuỳ theo mục đích mà nhấn mạnh một khía
cạnh nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu
“tĩnh” và cách hiểu “động”. Theo cách hiểu thứ nhất “tĩnh” thì dự án là hình
tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu
thứ hai “động” có thể định nghĩa dự án như sau:
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một
nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực
riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy theo định nghĩa này thì:
- Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu
xác định.
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên
một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:
Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ
duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính:
- Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có
điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của
dự án đã đạt được hoặc khi xác định rõ ràng mục tiêu của dự án không
thể đạt được và dự án bị loại bỏ.
- Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản
phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc
dự án khác.
Dù định nghĩa khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của
chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại . . .
- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ
chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức. Dự án “cạnh
tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực,
thiết bị... Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai
thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực
hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn,
vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất
định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu
tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
1.1.1.1.2. Chu kỳ của dự án đầu tư.
Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt
đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt
động.
Ta có thể minh hoạ chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:
Ý đồ về
Ý đồ về
dự án
dự án
đầu tư
đầu tư
Chuẩn bị
đầu tư
Thực
hiện đầu
tư.
các cơ
hội
đầu
tư
Nghiên
cứu
tiền
khả thi
sơ bộ
lựa
chọn
dự án.
Nghiên
cứu
khả thi
( Lập
dự án
BCNC
KT )
Đánh Đàm
giá
phán
và
và
quyết kí kết
định
các
Vận hành
kết quả đầu tư
Sử
Sử
Công
dụng dụng suất
chưa
giảm
công dần và
hết
suất thanh
công
lý.
suất
ở
mức
độ
cao
nhất.
Bảng 1.1. Các bước công việc của một dự án đầu tư.
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến
hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho
nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo
thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trên cơ sở chu kỳ một dự án đầu tư chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét
cơ bản sau đây:
- Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) tạo
tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc
biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai
hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan
trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét
trong dự án đầu tư.
Giai đoạn 3: vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai
đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự
án. Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính
đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích
hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả trong hoạt động của các kết quả này
và mục tiêu của dự án chỉ phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản
lý hoạt động các kết quả đầu tư. Làm tốt các công việc của giai đoạn
chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức
quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư.
Thời gian hoạt động của dự án được xác định bởi thời gian vận hành các
kết quả đầu tư.
Thời gian hoạt động của dự án bị phụ thuộc những nhân tố tác động đến
chu kỳ sống của sản phẩm do dự án tạo ra, hiệu quả của quá trình vận
hành dự án.. .
Nội dung chủ yếu của giai đoạn tiền đầu tư là việc xây dựng dự án đầu
tư.
1.1.1.2. Khái niệm và tác dụng của quản lý dự án.
1.1.1.2.1. Khái niệm.
Phương pháp quản lý dự án lần đầu được áp dụng trong lĩnh vực quân sự
Mỹ vào những năm 1950, đến nay nó nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi vào
các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng và xã hội. Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp quản lý dự án là:
- Nhu cầu ngày càng tăng những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phức tạp,
kỹ nghệ tinh vi, trong khi khách hàng ngày càng khó tính;
- Kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật)
ngày càng tăng.
Lậpkế
kếhoạch.
hoạch.
Lập
Thiếtlập
lậpmục
mụctiêu.
tiêu.
- -Thiết
Mục tiêu cơ bản của các
dự
án
thể
hiện
ở chỗ các công việc phải được hoàn
Điềutra
tranguồn
nguồnlực.
lực.
- -Điều
thành theo yêu cầu và bảo- Xây
đảm dựng
chất lượng,
trong phạm vi chi phí được duyệt,
kếhoạch.
hoạch.
- Xây dựng
kế
đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi. Về mặt toán học, bốn
vấn đề này liên quan với nhau theo công thức sau:
dự
án.
gian.
Sosánh
sánhvới
vớimục
mụctiêu.
tiêu.
gian.
- -So
Báocáo.
cáo.
Phânphối
phốinguồn
nguồnlực.
lực.
- -Báo
- -Phân
Phương
trình
cho
thấy,
chi
phí
là
một
hàm
của
các
yếu
viên
cán
bộ
v
được mở rộng.
nhân viên.
Ba yếu tố cơ bản: Thời gian, chi phí và nhân
hoàn viên.
thiện công việc là những mục
tiêu cơ bản của quản lý dự án và giữa chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Luanvan.online
Hình 1..2. Chu trình quản lý dự
án.
Page 5
www.Luanvan.Online
Không đơn thuần chỉ là hoàn thành kết quả mà thời gian cũng như chi phí để
đạt kết quả đó đều là những yếu tố không kém phần quan trọng. Hình 1.3 trình
bày mối quan hệ giữa 3 mục tiêu cơ bản của quản lý dự án. Tuy mối quan hệ
giữa 3 mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kì đối với cùng
một dự án, nhưng nói chung đạt được kết quả tốt đối với mục tiêu này phải “hi
sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các nhà
quản lý hi vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu quản lý dự án.
Kết quả
Kết quả
mong muốn
1.1.2.1. Quản lý vĩ mô và vi mô đối với dự án.
1.1.2.1.1. Quản lý vĩ mô đối với hoạt động dự án.
Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với dự án bao gồm tổng thể các
biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và
kết thúc dự án.
Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, nhà nước mà đại diện là các cơ
quan quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi
phối hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc
phát triển kinh tế – xã hội. Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để
quản lý dự án bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về
tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống
luật pháp, những quy định về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm, tiền lương...
1.1.2.1.2. Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án.
Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quản lý các hoạt động cụ thể của dự
án. Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát...
các hoạt động dự án. Quản lý dự án bao gồm hàng loạt vấn đề như: Quản lý
thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán... Quá
trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực
hiện đầu tư đến giai đoạn vận hành kết quả của dự án.Trong từng giai đoạn, tuy
đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều phải gắn với 3 mục tiêu cơ
bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn thành.
1.1.2.2. Lĩnh vực quản lý dự án.
Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án gồm 9 lĩnh vực chính cần được xem
xét, nghiên cứu là:
1.1.2.2.1. Quản lý phạm vi.
Quản lý phạm vi là việc xác định, giám sát việc thực hiện mục đích, mục
tiêu của dự án, xác định công việc nào thuộc về dự án và cần phải thực hiện,
công việc nào ngoài phạm vi của dự án.
1.1.2.2.2. Quản lý thời gian.
ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro.
1.1.2.2.8. Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán.
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn,
thương lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật
liệu, trang thiết bị, dịch vụ,... cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này giải
quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của
Luanvan.online
Page 8
www.Luanvan.Online
các tổ chức bên ngoài cung cấp cho dự án, tiến độ cung, chất lượng cung như
thế nào?
1.1.2.2.9. Lập kế hoạch tổng quan.
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình
tự logic, xác định những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian
làm những công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án.
Kế hoạch dự án là việc chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công việc
cụ thể và hoạch định một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm
đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách
chính xác và đầy đủ.
Kế hoạch dự án bao gồm nhiều loại kế hoạch như: kế hoạch tổng thể về dự
án, kế hoạch tiến độ, kế hoạch ngân sách, kế hoạch phân phối nguồn lực...
1.1.2.3. Quản lý theo chu kỳ của dự án.
Dự án là một thực thể thống nhất, thời gian thực hiện dài và có độ bất định
nhất định nên các tổ chức, đơn vị thường chia dự án thành một số giai đoạn để
quản lý thực hiện. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một hoặc
nhiều công việc. Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ dự án. Chu kỳ
dự án xác định điểm bắt đầu, điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án. Chu kỳ
thức tổ chức quản lý dự án không đòi hỏi cán bộ chuyên trách quản lý dự án
phải trực tiếp tham gia điều hành dự án mà chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều
hành.Các nhà quản lý dự án chuyên nghiệp không chịu trách nhiệm trực tiếp
đối với việc thực hiện và kết quả cuối cùng của dự án mà chỉ đóng vai trò cố
vấn, tư vấn cho chủ đầu tư.
Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thường được áp dụng cho các dự
án quy mô nhỏ, đơn giản về kỹ thuật và gần với chuyên môn của chủ dự án,
đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm quản
lý dự án. Chủ đầu tư được lập và sử dụng bộ máy có năng lực chuyên môn của
mình mà không cần lập ban quản lý dự án.
Chủđầu
đầutư
tư–
–Chủ
Chủdự
dự
Chủ
án.
án.
Chuyêngia
giaquản
quảnlýlý
Chuyên
dựán
án(Cố
(Cốvấn)
vấn)
dự
Tổchức
Tổ
hiệndự
dựán
ánnn
hiện
Hình 1.4. Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự
án.
1.1.3.1.2. Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án.
Mô hình tổ chức “Chủ nhiệm điều hành dự án” là mô hình tổ chức trong đó
chủ đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án chuyên ngành làm chủ nhiệm
Luanvan.online
Page 10
www.Luanvan.Online
điều hành hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để điều hành dự án và họ
được đại diện toàn quyền trong mọi hoạt động thực hiện dự án. Chủ nhiệm điều
hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều
hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
Mọi quyết định của chủ đầu tư về dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện
sẽ được triển khai thông qua chủ nhiệm điều hành dự án. Hình thức này áp
dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Chủđầu
đầutư
tư- -Chủ
Chủdự
dựán.
thực
Tổ
hiệndự
dựán
ánIIII
hiện
Thiếtkế
kế
Thiết
......
Xâylắp
lắp
Xây
Hình 1.5. Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án.
1.1.3.1.3. Mô hình chìa khoá trao tay.
Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay là hình thức tổ chức trong đó
nhà quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư - chủ dự án
mà còn là “chủ” của dự án.
Hình thức tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay áp dụng khi chủ đầu tư
được phép đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án.
Khác với hình thức chủ nhiệm điều hành, giờ đây mọi trách nhiệm được giao
cho nhà quản lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc thực
hiện dự án. Trong một số trường hợp nhà quản lý dự án không chỉ được giao
toàn quyền thực hiện dự án mà còn được phép cho người khác nhận thầu từng
Luanvan.online
nhiệmđiều
điềuhhàành
nhddựựán)
án)
(Chủ
Tổchức
chứcthực
thực
Tổ
hiệndự
dựán
ánI I
hiện
Khảosát.
sát.
Khảo
Thiếtkế.
kế.
Thiết
Tổchức
chứcthực
thực
Tổ
hiệndự
dựán
ánII.
-
Ưu điểm:
Thứ nhất, linh hoạt trong sử dụng cán bộ. Phòng chức năng có dự án đặt
vào chỉ quản lý hành chính, tạm thời đối với các chuyên gia tham gia
quản lý dự án. Họ sẽ trở về vị trí cũ của mình khi kết thúc dự án.
Thứ hai, một người có thể tham gia nhiều dự án để sử dụng kiến thức
chuyên môn và kinh nghiệm của mình.
Nhược điểm:
Đây là cách quản lý không theo yêu cầu khách hàng.
Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận chức năng nên bộ
phận này thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành
nhiệm vụ chính khác của nó mà không tập trung cố gắng vào việc giải
quyết thoả đáng các vấn đề của dự án. Các bộ phận chức năng khác có
trách nhiệm tham gia dự án cũng có tình hình tương tự. Trong một vài
trường hợp, dự án không nhận được ưu tiên cần thiết, vì vậy không đủ
phương tiện để hoạt động hoặc bị coi nhẹ.
1.1.3.2.2. Tổ chức chuyên trách quản lý dự án.
Hình thức tổ chức chuyên trách dự án về thực chất là tạo ra một xí nghiệp
con do một chủ nhiệm dự án quản lý. Mô hình tổ chức này có dạng như hình
1.7
Luanvan.online
Page 13
www.Luanvan.Online
Giámđốc
xuất
xuất
Chủ
Chủ
nhiệm
nhiệm
dựán
ánBB
dự
TTàài i
chính
chính
Tiếp
Tiếp
thị
thị
Trưởng
Trưởng
phòngtàtài i
phòng
chính
chính
......
Sản
Page 14
www.Luanvan.Online
Loại hình tổ chức dự án dạng ma trận là sự kết hợp 2 loại hình tổ chức dự án
theo chức năng và dạng chuyên trách dự án.
Ưu điểm:
- Giống như hình thức tổ chức chuyên trách dự án, mô hình tổ chức này
trao quyền cho chủ nhiệm dự án quản lý, thực hiện dự án đúng tiến độ,
đúng yêu cầu kỹ thuật, trong phạm vi chi phí được duyệt.
- Giống như tổ chức dạng chức năng, các tài năng chuyên môn được phân
phối hợp lý cho các dự án khác nhau
- Khắc phục được hạn chế của mô hình quản lý theo chức năng. Khi kết
thúc dự án các nhà chuyên môn này có thể trở về phòng chức năng của
mình.
- Tạo điều kiện phản ứng nhanh hơn, linh hoạt hơn trước yêu cầu của
khách hàng.
Nhược điểm:
- Thứ nhất, nếu quyền quyết định trong quản lý dự án không rõ ràng, hoặc
trái ngược, trùng chéo sẽ ảnh hưởng đến công việc dự án.
- Thứ hai, về lý thuyết, các chủ nhiệm dự án quản lý các quyết định hành
chính, những người đứng đầu bộ phận chức năng ra các quyết định kỹ
thuật. Nhưng trên thực tế, quyền và trách nhiệm khá phức tạp. Do đó kỹ
năng thương lượng là một yếu tố rất quan trọng để đảm bảo thành công
của dự án.
- Thứ ba, mô hình quản lý này vi phạm nguyên tắc tập trung trong quản lý.
Một nhân viên có hai thủ trưởng sẽ gặp khó khăn khi phải quyết định
thực hiện lệnh nào trong trường hợp hai lệnh mâu thuẫn nhau.
1.2. Vai trò và đặc điểm của các dự án công nghệ thông tin.
tin
++Máy
Máytính.
tính.
==Công
Côngnghệ
nghệ
thông
thôngtin.
tin.
Xử
Xửlýlýthông
thôngtin
tin
Quản
Quảnlýlý
thông
thôngtin.
tin.
Hình 1.8. Sự hình thành công nghệ thông tin.
1.2.1.1.2. Quá trình phát triển.
Trong lịch sử phát triển nhân loại, cho tới cuối thế kỷ thứ XX, loài người đã
trải qua 5 cuộc cách mạng thông tin.
Tiêu chí để phân biệt các cuộc cách mạng thông tin là những thay đổi căn
phát cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cũng như tạo ra các xung
lực mạnh mẽ để phát triển khoa học công nghệ và giao lưu quốc tế.
Cuộc cách mạng thông tin thứ ba đánh dấu bằng sự ra đời kỹ thuật in, tạo
khả năng chưa từng thấy để thông tin và tri thức truyền bá qua thời gian và
không gian, vượt qua các rào cản ngăn cách giữa các nền văn hoá và văn minh,
tạo ra quá trình toàn cầu hoá mới với tốc độ nhanh gấp nhiều lần, đồng thời góp
phần thúc đẩy nhanh chóng diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất. Nhờ cuộc cách mạng thông tin lần thứ ba, thông tin và tri thức của nhân
loại được nhân bản, xử lý, truyền bá rộng khắp và trở thành tài sản chung của
loài người.
Cuộc cách mạng thông tin thứ tư hình thành trên cơ sở các thiết bị truyền
thông bằng điện và điện tử (điện thoại, điện báo, radio, truyền hình) đã thúc đẩy
sự truyền bá rất nhanh chóng mọi loại hình thông tin và tri thức trên quy mô
toàn cầu. Cuộc cách mạng thông tin này gắn liền với cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ hai và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá lực lượng sản
xuất và phân công lao động trên quy mô quốc tế.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm: Những thành quả của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc
đẩy mạnh mẽ sự xuất hiện cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm với đặc điểm
nổi bật là các hệ thống siêu lộ cao tốc thông tin (super highways), các hạ tầng
cơ sở thông tin quốc gia (NII – National information infrastructure), hạ tầng cơ
sở thông tin khu vực (RII – Regional information infrastructure) và hạ tầng cơ
sở thông tin toàn cầu (GII – Global information infrastructure). Trong đó, biểu
trưng đặc sắc nhất và nổi bật nhất là mạng Internet.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn
cầu hóa diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học công nghệ,
chính trị, quân sự..., đồng thời đang tạo ra những thách thức mới đối với các
quan niệm truyền thống về tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người.
Mặc dù chưa có thể dự đoán được hết các tác động của mạng Internet đối với
loài người nhưng trên thực tế, cuộc cách mạng thông tin lần này đang mở ra
đổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hóa trong nhiều nghị
quyết của Đảng và Chính phủ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và
công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: ”Tập trung sức phát triển một số
ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học...”. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành trung ương (khoá VII), ngày 30/7/1994 đã xác
định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ
thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “ứng
dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự
chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế... Hình
thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”. Để
thể chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP
ngày 04/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những
năm 90”.
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ những năm 70 công
nghệ thông tin ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng
thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Luanvan.online
Page 18
www.Luanvan.Online
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta nhận định: Công nghệ thông tin Việt Nam
hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt hậu xa
hơn với nhiều nước trên thế giới và khu vực.Việc ứng dụng công nghệ thông
tin chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng to lớn
triển Thuỵ Điển (SIDA) như dự án Hệ thống thông tin quản lý tài chính kế
toán, Hệ thống thông tin chăm sóc khách hàng, Hệ thống thông tin quản lý
khách hàng, Hệ thống thông tin địa lý, dự án đào tạo về công nghệ thông tin…
Hiện nay, Tổng công ty đang xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý
Luanvan.online
Page 19
www.Luanvan.Online
doanh nghiệp thống nhất trong các lĩnh vực sản xuất, truyền tải, phân phối, vận
hành, bảo dưỡng và sửa chữa... Tổng Công ty không chỉ chú trọng đến nâng
cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin như phần cứng, hệ thống mạng... mà
còn thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các chuyên gia
công nghệ thông tin, lập trình viên trong Tổng Công ty bằng các chương trình
đào tạo thường xuyên.
Trong thời gian tới, Tổng Công ty điện lực Việt Nam sẽ xây dựng và áp
dụng đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn công nghệ thông tin trong toàn ngành điện;
sản xuất các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin không chỉ cho ngành
điện mà hướng tới cung cấp cho thị trường công nghệ thông tin Việt Nam. Kết
hợp với các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng cho thị trường
viễn thông Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đang xây dựng các
phần mềm quản lý viễn thông công cộng và khai thác các dịch vụ gia tăng trên
Internet.
1.2.1.2.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động của EVN.
Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của mình, EVN đã thu
được một số thành công sau đây:
- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng suất lao động của đội
ngũ cán bộ công nhân viên. Được đào tạo các kiến thức về công nghệ
thông tin và đồng thời được trang bị các phương tiện làm việc hiện đại đã
làm ví dụ. Nhờ được đầu tư như vậy, các đơn vị này từ chỗ chủ yếu làm
công tác khảo sát thiết kế đến nay đã đảm đương được hầu hết hơn 15/19
loại hình công tác tư vấn theo thông lệ Việt Nam và Quốc tế từ khâu
chuẩn bị dự án, thực hiện dự án cho đến đưa dự án vào hoạt động. Họ có
thể thực hiện được hầu hết các loại hình công tác tư vấn của các công
trình XDCB có tính truyền thống và các công trình lớn, kỹ thuật công
nghệ mới phức tạp sau khi đã hợp tác, làm thầu phụ cho các chuyên gia
nước ngoài, thông qua các dự án đã và đang xây dựng tại Việt Nam.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư các dự án Công nghệ thông tin.
- Thứ nhất, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin đòi hỏi
một số lượng vốn lớn (do chi phí cho đầu tư cho các thiết bị công nghệ
thông tin thường rất lớn) và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư.
- Thứ hai, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin thường
mang lại kết quả là tăng năng suất, tăng hiệu quả thực hiện công việc. Do
đặc thù của các sản phẩm công nghệ thông tin là được tạo ra để trợ giúp
hoạt động sản xuất chính. Vì vậy, việc xác định các chỉ tiêu về hiệu quả
tài chính đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ thông tin là
rất khó khăn.
- Thứ ba, hoạt động đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin thường chịu
rủi ro về mặt công nghệ, tức là kết quả của các hoạt động đầu tư có nhiều
nguy cơ bị lạc hậu hay nói cách khác là các sản phẩm của dự án đầu tư
công nghệ thông tin có hao mòn vô hình lớn. Lí do là ngày nay, công
nghệ thông tin thường xuyên phát triển với tốc độ chóng mặt. Cho nên có
thể nói sản phẩm công nghệ thông tin lạc hậu ngay từ khi nó ra đời.
- Thứ tư, các thành quả của hoạt động đầu tư có giá trị sử dụng không lâu
và đòi hỏi phải thường xuyên được cập nhật, nâng cấp. Cũng do tốc độ
phát triển như vũ bão hiện nay của công nghệ thông tin cho nên muốn
đảm bảo chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn theo kịp mọi
tiến bộ của thời đại, không bị lạc hậu so với các đối thủ cạnh tranh thì
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển công nghệ thông tin chung cho
toàn TCT
- Lập các dự án xây dựng các hệ thống phần mềm thống nhất trình TCT
phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.
- Thiết kế các mạng diện rộng (WAN) của các đơn vị thành viên theo tiêu
chuẩn ngành, cấp phát địa chỉ kết nối mạng (IP); chủ trì việc kết nối với
mạng của TCT.
- Xây dựng, bảo dưỡng, nâng cấp hệ thống mạng diện rộng (WAN) của
TCT; tham gia xây dựng các mạng cục bộ (LAN) của các đơn vị thành
viên để kết nối các mạng hiện có thành mạng diện rộng; thực hiện việc
bảo dưỡng, nâng cấp các phần mềm dùng chung cho TCT.
- Tham gia bộ phận thường trực Ban chỉ đạo công nghệ thông tin của
TCT.
- Xây dựng, bổ sung sửa đổi các tiêu chuẩn về công nghệ theo yêu cầu của
TCT.
Luanvan.online
Page 22
www.Luanvan.Online
- Tham gia xây dựng kế hoạch chương trình, nội dung đào tạo công nghệ
thông tin thống nhất trong TCT và tổ chức thực hiện. Ký kết và thực hiện
hợp đồng đào tạo về công nghệ thông tin cho các đơn vị ngoài TCT.
- Làm đầu mối tổ chức quản lý các hoạt động Internet trong mạng máy
tính của TCT.
- Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới về công nghệ thông tin để phục
vụ cho hoạt động quản lý và điều hành sản xuất của TCT.
- Nghiên cứu và triển khai các chương trình tự động hoá và GIS
(Geography Information System) trong các lĩnh vực: Phát, Truyền tải và
Page 23
www.Luanvan.Online
Trung tâm được TCT giao hoặc uỷ quyền tổ chức thực hiện các dự án đầu
tư phát triển và được TCT giao các nguồn lực để thực hiện dự án theo phân
cấp :
- Lập và trình duyệt kế hoạch chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư.
- Tổ chức thực hiện công tác đấu thầu và thực hiện các bước tiếp theo theo
quy chế phân cấp.
- Được phép huy động vốn và tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính đối
với một số công trình theo phân cấp.
- Được ký kết các hợp đồng kinh tế liên quan đến nhiệm vụ được giao.
2.1.2.2.3. Công tác tài chính kế toán:
Trung tâm có các quyền sau:
- Được TCT cấp chi phí sản xuất theo kế hoạch và các khoản chi phí khác
theo quy chế phân cấp của TCT.
- Được quyền huy động vốn (vay ngân hàng, vay công nhân viên chức...)
liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác để sản xuất kinh doanh
ngoài kế hoạch TCT giao, trình Tổng Công ty phê duyệt và tổ chức thực
hiện.
- Được hình thành các quỹ theo qui định của Nhà nước và của TCT.
2.1.2.2.4. Công tác tổ chức cán bộ và đào tạo
Căn cứ vào mô hình tổ chức đã được TCT duyệt, Trung tâm có các quyền
hạn sau đây:
- Được thành lập, giải thể và tổ chức lại các phòng ban trực thuộc.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện Quy chế tổ chức hoạt động của các phòng
ban thuộc Trung tâm.
- Lập các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của công nhân
Với bộ máy lãnh đạo gọn nhẹ và đội ngũ công nhân viên lành nghề, Trung
tâm có đủ tiềm năng để phát triển nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mà
Tổng Công ty đề ra.
Dưới đây là mô hình tổ chức của Trung tâm:
2.1.3.1. Ban Giám đốc.
Ban Giám đốc gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc phụ trách giúp việc.
Giám đốc là đại diện pháp nhân của Trung tâm trước pháp luật, là người có
quyền hành cao nhất trong Trung tâm, trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp
luật và Tổng Giám đốc về điều hành mọi hoạt động tại Trung tâm.
Các phó giám đốc được giám đốc phân công quản lý điều hành một số lĩnh
vực công tác và chịu trách nhiệm trước pháp luật và giám đốc Trung tâm về
lĩnh vực được giao.
2.1.3.2. Phòng Quản lý dự án.
Chức năng
- Tham mưu cho lãnh đạo Trung tâm xây dựng, tổ chức thực hiện, quản lý
và giám sát các dự án công nghệ thông tin trong toàn bộ EVN theo định
hướng của phát triển Trung tâm và TCT.
- Tham mưu cho lãnh đạo Trung tâm về các hoạt động hợp tác với các đơn
vị làm CNTT trong và ngoài ngành điện.
Nhiệm vụ
- Làm đầu mối kết hợp, triển khai các dự án về CNTT theo chỉ đạo của
TCT.
- Tham gia xây dựng dự toán, kế hoạch thực hiện các dự án CNTT, tổ
chức đấu thầu, xét thầu, đàm phán hợp đồng.
- Quản lý thực hiện triển khai các dự án CNTT.
- Thực hiện các công việc quản lý khác theo chỉ đạo của Trung tâm và
TCT.
- Phối hợp với các phòng chức năng thực hiện việc thanh toán, trình duyệt
quyết toán các dự án CNTT theo đúng tiến độ
- Thực hiện công tác kế hoạch: