Phương hướng và kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình chuẩn bị, thực hiện và quản lý dự án đầu tư tại Trung tâm công nghệ thông tin - Tổng công ty điện lực Việt Nam - Pdf 31


1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.

1.1. Lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư.

1.1.1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư.

1.1.1.1. Khái niệm dự án.

Khái niệm.
Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tuỳ theo mục đích mà nhấn mạnh một khía
cạnh nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách hiểu
“tĩnh” và cách hiểu “động”. Theo cách hiểu thứ nhất “tĩnh” thì dự án là hình
tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt t
ới. Theo cách hiểu
thứ hai “động” có thể định nghĩa dự án như sau:
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một
nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực
riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy theo định nghĩa này thì:
-
Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu
xác định.
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên
một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:
Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ
duy nhất.
Định nghĩ
a này nhấn mạnh hai đặc tính:

thường xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ
nhưng mức độ
tham gia của các bộ phận không giống nhau. Vì mục tiêu
của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ
với các bộ phận quản lý khác.
- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ). Khác
với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không
phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản ph
ẩm
và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất. Lao động đòi hỏi kỹ năng
chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại . . .
- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ
chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức. Dự án “cạnh
tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực,
thi
ết bị... Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai
thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực
hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn,
vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng th
ời gian nhất
định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu
tư phát triển thường có độ rủi ro cao.

Chu kỳ của dự án đầu tư.
Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt
đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt
động.
Ta có thể minh hoạ
chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:

hành các kết quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh). Mỗi giai đoạn lại được chia làm
nhiều bước. Chúng ta có thể sơ đồ hoá như sau: Tiền đầu tư
Đầu tư
Vận hành
kết quả đầu tư
Nghiê
n cứu
phát
hiện
các cơ
hội
đầu tư
Nghiên
cứu
tiền
khả thi
sơ bộ
lựa
chọn
dự án.
Nghiên
cứu
khả thi
( Lập
dự án
BCNC
KT )

lắp
công
trình
Chạy
thử và
nghiệm
thu sử
dụng
Sử
dụng
chưa
hết
công
suất
Sử
dụng
công
suất

mức
độ
cao
nhất.
Công
suất
giảm
dần

thanh
lý.

- Trong giai đoạn thứ 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả. Ở giai đoạn
này 85 đến 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra nằm khê đọng trong
suốt những năm thực hiện đầu tư. Đây là những năm vốn không sinh lời.
Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất
càng lớn. Đến l
ượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều
vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực
hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan
trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét
trong dự án đầu tư.
- Giai đoạn 3: vận hành các k
ết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai
đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự
án. Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính
đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích
hợp, với quy mô tối ư
u thì hiệu quả trong hoạt động của các kết quả này
và mục tiêu của dự án chỉ phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản
lý hoạt động các kết quả đầu tư. Làm tốt các công việc của giai đoạn
chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức
quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu t
ư.
- Thời gian hoạt động của dự án được xác định bởi thời gian vận hành các
kết quả đầu tư.
- Thời gian hoạt động của dự án bị phụ thuộc những nhân tố tác động đến
chu kỳ sống của sản phẩm do dự án tạo ra, hiệu quả của quá trình vận
hành dự án.. .
- Nội dung chủ yếu của giai đoạ
n tiền đầu tư là việc xây dựng dự án đầu
tư.

biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống.
- Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao
gồm: tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và
quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hoá thời hạn thực hiện
cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc).
- Giám sát là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình
hình hoàn thành, giải quyết những vấn để liên quan và thực hiện báo cáo
hiện trạng.
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng
động từ việc lập kế hoạch đến điều ph
ối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi
cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong hình 1.2 6
Mục tiêu cơ bản của các dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn
thành theo yêu cầu và bảo đảm chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt,
đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi. Về mặt toán học, bốn
vấn đề này liên quan với nhau theo công thức sau:
C= f ( P, T, S ).
Trong đó :
C : Chi phí.
P : Hoàn thành công việc ( kết quả )
T : Yếu tố thời gian.
S : Phạm vi dự án.

Phương trình cho thấy, chi phí là một hàm của các yếu tố: hoàn thành công

một dự án, nhưng nói chung đạt được kết quả tốt đối với mục tiêu này phải “hi
sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các nhà
quản lý hi vọng đạt được sự kết hợp tố
t nhất giữa các mục tiêu quản lý dự án. 1.1.1.2.2. Tác dụng của quản lý dự án.

Mặc dù phương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự nỗ lực, tính tập thể và yêu
cầu hợp tác nhưng tác dụng của nó rất lớn. Phương pháp quản lý dự án có
những tác dụng chủ yếu sau đây:
- Liên kết tất cả các hoạt độ

Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước
đối với dự án bao gồm tổng thể các
biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và
kết thúc dự án.
Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, nhà nước mà đại diện là các cơ
quan quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi
phối hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc
phát triển kinh tế – xã hộ
i. Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để
quản lý dự án bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về
tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống
luật pháp, những quy định về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm, tiền lương...

1.1.2.1.2. Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án.

Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quả
n lý các hoạt động cụ thể của dự
án. Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát...
các hoạt động dự án. Quản lý dự án bao gồm hàng loạt vấn đề như: Quản lý
thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán... Quá
trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu t
ư, thực
hiện đầu tư đến giai đoạn vận hành kết quả của dự án.Trong từng giai đoạn, tuy
đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều phải gắn với 3 mục tiêu cơ
bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn thành.

1.1.2.2. Lĩnh vực quản lý dự án.

Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án gồm 9 lĩ
nh vực chính cần được xem


Quản lý nhân lực là việc hướng dẫn, phối hợp những nỗ l
ực của mọi thành
viên tham gia dự án vào việc hoàn thành mục tiêu dự án. Nó cho thấy việc sử
dụng lực lượng lao động của dự án hiệu quả đến mức nào?

1.1.2.2.6. Quản lý thông tin.

Quản lý thông tin là đảm bảo quá trình thông tin thông suốt một cách nhanh
nhất và chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp quản lý khác nhau.
Thông qua quản lý thông tin có thể trả lời được các câu hỏi: Ai cần thông tin về
dự án, mức độ chi tiết và các nhà quản lý dự án c
ần báo cáo cho họ bằng cách
nào?

1.1.2.2.7. Quản lý rủi ro.

Quản lý rủi ro là xác định các yếu tố rủi ro của dự án, lượng hoá mức độ rủi
ro và có kế hoạch đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro.

1.1.2.2.8. Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán.

Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn,
thương lượng, quản lý các hợp đồng và đ
iều hành việc mua bán nguyên vật
liệu, trang thiết bị, dịch vụ,... cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này giải
quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của

10
các tổ chức bên ngoài cung cấp cho dự án, tiến độ cung, chất lượng cung như

là thấp khi bắt đầu dự án, tăng cao hơn vào thời kỳ phát triển, nhưng giảm
nhanh chóng khi dự án bước vào giai đoạn kết thúc. Thứ hai, xác suất hoàn
thành dự án thành công thấp nhất và do
đó rủi ro là cao nhất khi bắt đầu thực
hiện dự án. Xác suất thành công sẽ cao hơn khi dự án bước qua các pha sau.
Thứ ba, khả năng ảnh hưởng của chủ đầu tư tới đặc tính cuối cùng của sản
phẩm dự án và do đó tới chi phí là cao nhất vào thời kỳ bắt đầu và giảm mạnh
khi dự án được tiếp tục trong các pha sau.

1.1.3. Mô hình tổ chức dự án.
Tổ chứ
c là một nhân tố động. Các mô hình tổ chức luôn thay đổi phù hợp
với sự thay đổi của môi trường cạnh tranh, công nghệ và yêu cầu quản lý.
Những năm gần đây mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nói chung và quản
lý dự án nói riêng có những thay đổi tích cực theo hướng phát triển nhiều mô
hình tổ chức mới, năng động và hiệu quả.
Có nhiều mô hình tổ chức quản lý dự án. Tuỳ thuộc mục đ
ích nghiên cứu
mà phân loại các mô hình tổ chức dự án cho phù hợp.

11

1.1.3.1. Căn cứ vào trách nhiệm và quyền hạn về quản lý và điều hành dự
án.

1.1.3.1.1. Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án.
Quản lý dự án theo mô hình chủ đầu tư (chủ dự án) trực tiếp quản lý là hình
thức tổ chức quản lý dự án không đòi hỏi cán bộ chuyên trách quản lý dự án
phải trực tiếp tham gia điều hành dự án mà chủ đầu tư trực tiếp quản lý điều
hành.Các nhà quản lý dự án chuyên nghiệp không chịu trách nhiệm trực tiếp


12
hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều
hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án.
Mọi quyết định của chủ đầu tư về dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện
sẽ được triển khai thông qua chủ nhiệm điều hành dự án. Hình thức này áp
dụng cho những d
ự án quy mô lớn, tính chất phức tạp.
1.1.3.1.3. Mô hình chìa khoá trao tay.

Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay là hình thức tổ chức trong đó
nhà quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư - chủ dự án
mà còn là “chủ” của dự án.
Hình thức tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay áp dụng khi chủ đầu tư
được phép đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án.
Khác với hình thức chủ nhiệm điều hành, giờ đây mọi trách nhiệm được giao
cho nhà quản lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc thực
hiện dự án. Trong một số trường hợp nhà quản lý dự án không chỉ được giao
toàn quyền thực hiện dự án mà còn được phép cho người khác nhận thầu từng
phần việc trong dự án đã trúng thầu. Khi đó họ như một thứ “cai” điều hành dự
Chủ đầu tư - Chủ dự án.
Chủ nhiệm điều hành dự án.
Tổ chức thực hiện
dự án I
Tổ chức thực hiện
dự án II
Lập dự toán

Xây lắp.
...

Hình 1.6. Mô hình tổ chức chìa khoá trao tay.

14
Hình thức tổ chức dự án theo chức năng có đặc điểm là:
- Dự án được đặt vào một phòng chức năng nào đó (tuỳ thuộc vào nhiệm
vụ của dự án).
- Các thành viên của dự án được điều động tạm thời từ các phòng chức
năng khác nhau đến và họ vẫn thuộc quyền quản lý của phòng chức năng
nhưng lại đả
m nhận phần việc chuyên môn liên quan đến dự án.

 Ưu điểm:
- Thứ nhất, linh hoạt trong sử dụng cán bộ. Phòng chức năng có dự án đặt
vào chỉ quản lý hành chính, tạm thời đối với các chuyên gia tham gia
quản lý dự án. Họ sẽ trở về vị trí cũ của mình khi kết thúc dự án.
- Thứ hai, một người có thể tham gia nhiều dự án để sử dụng kiế
n thức
chuyên môn và kinh nghiệm của mình.
 Nhược điểm:
- Đây là cách quản lý không theo yêu cầu khách hàng.
- Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận chức năng nên bộ
phận này thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành
nhiệm vụ chính khác của nó mà không tập trung cố gắng vào việc giải
quyết thoả đáng các vấn đề của dự án. Các b
ộ phận chức năng khác có
trách nhiệm tham gia dự án cũng có tình hình tương tự. Trong một vài
trường hợp, dự án không nhận được ưu tiên cần thiết, vì vậy không đủ

gia giỏi vì nhu cầu dự phòng hơn là đáp ứng nhu cầu thực.

1.1.3.2.3. Tổ chức quản lý dự án dạng ma trận.

Loại hình tổ chức dự án dạng ma trận là sự kết hợp 2 loại hình tổ chức dự án
theo chức năng và dạng chuyên trách dự án.
Giám đốc
Chủ nhiệm
dự án A

Trưởng
phòng
kinh doanh
Chủ
nhiệm dự
án B
Trưởng
phòng tài
chính
...
Tài
chính
Tiếp
thị
Sản
xuất
Tài
chính
Tiếp
thị


1.2. Vai trò và đặc điểm của các dự án công nghệ thông tin.

1.2.1. Vai trò của Công nghệ thông tin.

1.2.1.1. Khái niệm, quá trình phát triển và vai trò của công nghệ thông tin
trong nền kinh tế nước ta.

1.2.1.1.1Khái niệm.

Công nghệ thông tin là sự hoà nhập của công nghệ máy tính với công nghệ
liên lạc viễn thông được thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử.
Sự hình thành của công nghệ thông tin được minh hoạ như ở hình vẽ 1.8.
Liên lạc là công nghệ lâu đời nhất trong số 3 công nghệ kể trên. Các hệ thống
liên lạ
c bằng điện đã phát triển suốt từ những năm 1840. Công nghệ máy tính ra
đời từ những năm 1940, thoạt đầu vì những mục đích quân sự. Công nghệ vi
điện tử bắt đầu từ những năm 1960 và đã sớm dẫn đến sự hội tụ nhanh chóng
của cả 2 công nghệ lâu đời hơn thành một công nghệ mới mà ngày nay chúng ta
gọi là Công nghệ thông tin.

17 Quá trình phát triển.
Trong lịch sử phát triển nhân loại, cho tới cuối thế kỷ thứ XX, loài người đã
trải qua 5 cuộc cách mạng thông tin.
Tiêu chí để phân biệt các cuộc cách mạng thông tin là những thay đổi căn
bản về các công cụ tiếp nhận, lưu trữ, xử lý, truyền thông tin và về khối lượng
thông tin có thể phổ biến được cho mọi người.

18
là các công trình kim tự tháp Ai Cập, các hệ thống thủy lợi, kiến trúc nguy nga
của các thành phố nổi tiếng còn lưu giữ đến ngày nay ở Hy Lạp, La Mã. Nhờ
chữ viết, mà những công trình toán học kiệt xuất của Ơ-cơ-lít, Ac - si – met,
Ptô - lê - mê ... đã được ghi lại.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ hai đã thúc đẩy các cuộc di dân lớn,
những cuộc chinh phục các miền đất mới và khởi đầu quá trình toàn cầu hoá
gi
ữa các nền văn hoá và các nền văn minh, góp phần tạo ra các tiền đề khởi
phát cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, cũng như tạo ra các xung
lực mạnh mẽ để phát triển khoa học công nghệ và giao lưu quốc tế.
Cuộc cách mạng thông tin thứ ba đánh dấu bằng sự ra đời kỹ thuật in, tạo
khả năng chưa từng thấy để thông tin và tri thức truyền bá qua thờ
i gian và
không gian, vượt qua các rào cản ngăn cách giữa các nền văn hoá và văn minh,
tạo ra quá trình toàn cầu hoá mới với tốc độ nhanh gấp nhiều lần, đồng thời góp
phần thúc đẩy nhanh chóng diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất. Nhờ cuộc cách mạng thông tin lần thứ ba, thông tin và tri thức của nhân
loại được nhân bản, xử lý, truyền bá rộng khắp và trở thành tài sản chung của
loài người.
Cuộc cách mạng thông tin thứ tư hình thành trên cơ sở các thiết bị truyền
thông bằng điện và điện tử (điện thoại, điện báo, radio, truyền hình) đã thúc đẩy
sự truyền bá rất nhanh chóng mọi loại hình thông tin và tri thức trên quy mô
toàn cầu. Cuộc cách mạng thông tin này gắn liền với cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ hai và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá lực lượng sản
xuất và phân công lao động trên quy mô quốc tế.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm: Những thành quả của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc
đẩy mạnh mẽ sự xuất hiện cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm với đặc điểm
nổi bật là các hệ thống siêu lộ cao tốc thông tin (super highways), các hạ tầng

n đại.
Việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần
giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy
công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng
cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống củ
a nhân dân,
đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của công nghệ thông tin, cho nên
ngay từ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ
trương vận dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực. Bước sang th
ời kỳ
đổi mới, chủ trương ấy đã được nhấn mạnh và cụ thể hóa trong nhiều nghị
quyết của Đảng và Chính phủ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/3/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và
công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: ”Tập trung sức phát triển một số
ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học...”.
Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành trung ương (khoá VII), ngày 30/7/1994 đã xác
định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ
thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “ứng
dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vự
c kinh tế quốc dân, tạo ra sự
chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế... Hình
thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”. Để
thể chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP
ngày 04/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những
năm 90”.

thông tin, sử dụng thương mại điện tử, coi đó là các biện pháp cơ bản để đổi
mới quản lý, đổi mới công nghệ, cơ cấu lại sản xuất, mở rộng thị trường và
nâng cao năng lực cạnh tranh.”

1.2.1.2. Tình hình ứng dụng và vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt
động của Tổng Công ty điện lực Việt Nam.

1.2.1.2.1. Khái quát tình hình ứng dụ
ng công nghệ thông tin trong hoạt động
của EVN.
Thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, EVN-
với tư cách là một trong những Tổng công ty lớn, đóng vai trò chủ quản, chỉ
đạo và chi phối mọi hoạt động trong toàn ngành điện - đã rất chú trọng phát
triển công tác công nghệ thông tin trong thời gian qua. Trung tâm Công nghệ
thông tin được thành lập làm đầu mối quản lý về công nghệ thông tin cho toàn
Tổng công ty. Một loạt các d
ự án công nghệ thông tin đang và sẽ được triển
khai bằng nguồn hỗ trợ của các tổ chức phát triển như Cơ quan phát triển
thương mại Hoa Kỳ (TDA), Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác phát
triển Thuỵ Điển (SIDA) như dự án Hệ thống thông tin quản lý tài chính kế
toán, Hệ thống thông tin chăm sóc khách hàng, Hệ thống thông tin quản lý
khách hàng, Hệ thống thông tin địa lý, dự án đào tạo về công ngh
ệ thông tin…
Hiện nay, Tổng công ty đang xây dựng và triển khai hệ thống thông tin quản lý
doanh nghiệp thống nhất trong các lĩnh vực sản xuất, truyền tải, phân phối, vận
hành, bảo dưỡng và sửa chữa... Tổng Công ty không chỉ chú trọng đến nâng
cấp cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin như phần cứng, hệ thống mạng... mà còn
thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các chuyên gia
công nghệ thông tin, lập trình viên trong Tổ
ng Công ty bằng các chương trình

của EVN tới các đơn vị trực thuộc. Điều đó giúp cho các cấ
p lãnh đạo
nhanh chóng nắm bắt tình hình hoạt động của các đơn vị từ đó mà có các
quyết định quản lý chính xác và kịp thời. Bên cạnh đó, việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý đã làm giảm bớt gánh nặng của việc
xử lý những thủ tục giấy tờ, giúp EVN tin học hoá được các thủ tục hành
chính, nhờ đó mà tinh giảm được một bộ phận lao động và nâng cao
năng su
ất lao động.
- Nâng cao khả năng, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các
đơn vị sản xuất – kinh doanh trong EVN. Với việc đào tạo nâng cao trình
độ cho đội ngũ cán bộ, kĩ sư, đầu tư mua sắm các trang thiết bị hiện đại
nói chung và việc ứng dụng các sản phẩm của công nghệ thông tin trong
hoạt động sản xuất và kinh doanh nói riêng, các công ty, các đơn vị có
chức năng sản xuấ
t- kinh doanh trực thuộc EVN đã từng bước trưởng
thành về nhiều mặt. Có thể lấy khối tư vấn thiết kế xây dựng điện (bao
gồm các Công ty tư vấn xây dựng điện 1, 2, 3, 4 và Viện Năng Lượng)
làm ví dụ. Nhờ được đầu tư như vậy, các đơn vị này từ chỗ chủ yếu làm
công tác khảo sát thiết kế đến nay đã đảm đương
được hầu hết hơn 15/19
loại hình công tác tư vấn theo thông lệ Việt Nam và Quốc tế từ khâu
chuẩn bị dự án, thực hiện dự án cho đến đưa dự án vào hoạt động. Họ có

22
thể thực hiện được hầu hết các loại hình công tác tư vấn của các công
trình XDCB có tính truyền thống và các công trình lớn, kỹ thuật công
nghệ mới phức tạp sau khi đã hợp tác, làm thầu phụ cho các chuyên gia
nước ngoài, thông qua các dự án đã và đang xây dựng tại Việt Nam.


công nghệ thông tin của mình.

23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUY TRÌNH
CHUẨN BỊ, THỰC HIỆN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
TẠI TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM.

2.1. Giới thiệu chung về Trung tâm Công nghệ thông tin - Tổng Công
ty Điện lực Việt Nam.

2.1.1. Lịch sử hình thành của EVN.IT.

Trung tâm Công Nghệ Thông Tin được thành lập theo quyết định số
108/QĐ-EVN-HĐQT ngày 28/04/2002 trên cơ sở tách bộ phận Nghiên cứu
khoa học Công nghệ và Môi trường ra khỏi Trung tâm Nghiên cứu khoa học
công nghệ Môi trường và máy tính và đổi tên trung tâm này. Sau khi được
thành lập Trung tâm là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong TCT, có tư
cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng để hoạt động, được mở tài khoản
tại Ngân hàng theo phân cấp của TCT. Trung tâm là m
ột đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Điện lực Việt nam (EVN), hoạt động trên
các lĩnh vực công nghệ thông tin, có chức năng là đầu mối tổ chức, chủ trì và
thực hiện các hoạt động Công nghệ Thông tin theo định hướng và chỉ đạo
thống nhất của Tổng công ty trong các đơn vị thành viên của EVN.

2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củ
a EVN.IT.

2.1.2.1. Nhiệm vụ của EVN.IT.

vực này lên mạng diện rộng phục vụ điều hành sản xuất của các cấp lãnh
đạo trong TCT.
- Xây dựng triển khai thực hiện kế ho
ạch phát triển phần cứng và phần
mềm theo yêu cầu của TCT; quản lý vận hành các máy tính chủ nằm
trong mạng (WAN) của các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong TCT.
- Theo yêu cầu của TCT, thẩm định các dự án về công nghệ thông tin của
các đơn vị trực thuộc TCT.
- Thực hiện các dịch vụ tư vấn, thiết kế và lắp đạt các dự án về công nghệ
thông tin của các đơ
n vị trong TCT, tham gia các dịch vụ công nghệ
thông tin trên thị trường công nghệ thông tin trong và ngoài nước.
- Thực hiện việc thiết kế, lắp đặt, quản lý, vận hành và bảo dưỡng hệ
thống máy tính của cơ quan TCT.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý kỹ thuật hệ thống công nghệ thông tin của
các đơn vị trực thuộc theo qui định của TCT.

2.1.2.2. Quyền hạn của EVN.IT.

Có quy
ền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động Tài
chính, được hưởng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ với TCT theo uỷ quyền
phân cấp cụ thể như sau:
2.1.2.2.1. Công tác kế hoạch.
Trên cơ sở kế hoạch được giao, Trung tâm xây dựng kế hoạch 5 năm chia ra
từng năm, lập kế hoạch năm chia ra từng quý bao gồm các kế hoạch về:
- Phát triể
n CNTT.
- Kế hoạch về vật tư thiết bị.
- Kế hoạch lao động tiền lương.

- Xây dựng và tổ chức th
ực hiện Quy chế tổ chức hoạt động của các phòng
ban thuộc Trung tâm.
- Lập các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của công nhân
viên chức.
- Được bổ nhiệm, miễn nhiệm, xếp lương, khen thưởng, kỷ luật và quyết
định nghỉ hưu đối với Trưởng, phó phòng ban trực thuộc.
2.1.2.2.5. Công tác lao động tiền lương
Trung tâm được quyền tuyển chọn lao động theo
đúng quy chế phân cấp của
TCT trong khuôn khổ biên chế, được ký kết hợp đồng lao động và thoả ước lao
động tập thể theo qui định của Luật Lao động.
2.1.2.2.6. Các lĩnh vực khác:
Được tổ chức và tiến hành công tác mua bán vật tư thiết bị với các tổ chức
kinh tế trong và ngoài nước...
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của EVN.IT.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạ
t động đội ngũ cán bộ nhân
viên của Trung tâm được biên chế thành 9 bộ phận gồm 6 phòng, 1 tổ và 2
trung tâm gồm:
1. Ban Giám đốc.
2. Phòng Quản lý dự án.

Trích đoạn TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC VIỆT NAM. Xây dựng Hồ sơ lịch sử dự án. Xây dựng sổ tay dự án.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status