ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO PHƯƠNG PHÁP HỌC - Pdf 35

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào ngưỡng cửa đại học là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời của mỗi
con người. Đó cũng là lúc chúng ta phải tự thay đổi chính mình để trở thành
những bạn trẻ tự tin và năng động để thích nghi với môi trường mới – môi
trường đại học đầy gian nan và thử thách. Trong những sự đổi thay ấy, cần có
sự thay đổi về phương pháp học tập bởi đó là yếu tố chính quyết định kết quả
học tập của mỗi sinh viên. Phương pháp học chính là “chìa khóa” của sự
thành công. Cũng vì tầm quan trọng của “chiếc chìa khóa vô hình” ấy mà
nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp học đã ra đời để mang lại cho
học sinh, sinh viên những phương pháp học hiệu quả.
Trong một thế giới bùng nổ thông tin như hiện nay, việc học tập chăm chỉ vẫn
chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không
chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công việc gì. Các
phương pháp luận học tập đã đem lại thành công cho chúng ta trong quá khứ
đang gặp nhiều thách thức. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu chúng ta
không chỉ có kiến thức mà còn có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến
thức. Nếu ví thông tin như các yếu tố đầu vào, còn kiến thức, kỹ năng, thái độ
làm việc là yếu tố đầu ra thì “hộp đen” hay “bộ vi xử lý” chính là bộ não của
chúng ta. Thực tế, chúng ta có thể dành nhiều thời gian để học cách sử dụng
tốt một chiếc máy tính, nhưng lại ít quan tâm đến cơ chế hoạt động, xử lý
thông tin, phân tích, tổng hợp, sáng tạo… của cỗ máy kỳ diệu là bộ não.


Bản đồ tư duy là một hệ thống có tính cách mạng trong việc lập kế hoạch và
ghi chú nhanh những công việc cần làm đã giúp thay đổi cuộc sống của hàng
triệu người trên toàn thế giới. Bản đồ tư duy là một hệ thống kiến thức được
tóm tắt ngắn gọn bằng những “nhánh cây”, những ký hiệu và những hình ảnh
sinh động nhằm mô tả phần kiến thức mà ta muốn biểu thị. Vì đặc điểm ngắn

năng tự học, tự nghiên cứu của người học.
Trong xu hướng đó, Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi
mau lẹ, mạnh mẽ để hòa nhập với nền giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt
là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường.
Tại Nghi quyết của hội nghị TW lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII (21996) có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học” .
Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” .
Hiện nay, học tập theo Bản đồ tư duy là một phương pháp học được

khuyến

khích áp dụng rộng rãi, nhất là đối với sinh viên. Trong xu thế hội nhập của
đất nước, vai trò của phương pháp học này càng trở nên quan trọng trong việc
góp phần nâng cao hiệu quả học tập của người học nói riêng và chất lượng
giáo dục nói chung.


Phương pháp học tập này đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên
cứu, đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình và đã đem lại
những đóng góp to lớn với những thành tựu đáng kể, giúp sinh viên tìm thấy
niềm đam mê, hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy
kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Nhưng nó vẫn còn mang
tính chung chung hoặc chỉ có thể áp dụng cho những đối tượng cụ thể, với
những môn học riêng lẻ.
Trường Đại học Khoa học mới bắt đầu tuyển sinh đào tạo trình độ đại học từ
năm 2002. Hiện chưa có một nghiên cứu nào cụ thể đề cập tới phương pháp

học tập của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học (sẽ được làm
rõ ở chương 3):
+ Những giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy để đổi mới phương pháp học tập
của sinh viên lớp KHQL K8 (gồm: Đổi mới phương pháp lập kế hoạch học
tập. Đổi mới phương pháp ghi chép bài. Đổi mới phương pháp thuyết trình.
Đổi mới phương pháp đọc tài liệu. Đổi mới phương pháp tự học. Đổi mới
phương pháp học nhóm. Đổi mới phương pháp làm đề cương ôn tập).
+ Những khuyến nghị (gồm: Những khuyến nghị liên quan đến sinh viên.
Những khuyến nghị liên quan đến tập thể lớp. Những khuyến nghị liên quan
đến giảng viên. Những khuyến nghị liên quan đến nhà trường).
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu


– Phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8, trường
ĐHKH, Đại học Thái Nguyên
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đối tượng:
– Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp ứng dụng bản đồ tư duy
để nâng cao hiệu quả học tập trong sinh viên lớp Khoa học quản lý K8, Đại
học Khoa học.
Phạm vi không gian: Lớp KHQL K8, trường ĐHKH, Đại học Thái Nguyên.
Phạm vi thời gian:


Thời gian khảo sát số liệu: 2010- 2012



Thời gian thực hiện đề tài: 3/2012- 3/2013

những phương pháp cụ thể sau:
a. Phương pháp quan sát:
Phương pháp quan sát cho phép thu thập kết quả từ việc ghi chép, hoặc
những phương tiện công nghệ cao như: máy ghi âm, quay phim…Nhằm quan
sát thực tế phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8,
trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.
b. Phương pháp thu thập phân tích tài liệu:
– Tài liệu viết: Dựa vào vở ghi, đề cương ôn tập của sinh viên.
– Tài liệu thống kê: Dựa vào những số liệu, bảng thống kê về kết quả học tập
của sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học, Đại học Thái
Nguyên.
c. Phương pháp phỏng vấn sâu:


Đối tượng phỏng vấn: Sinh viên lớp KHQL K8, giáo viên liên quan đến
lớp KHQL K8 trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên.
d. Phương pháp dùng bảng hỏi:
– Đối tượng: Sinh viên lớp KHQL K8, trường Đại học Khoa học
Dự kiến phát 137 phiếu bảng hỏi
=> Mục đích nhằm thăm dò ý kiến, thái độ của sinh viên lớp KHQL K8 về
phương pháp học tập kiểu truyền thống, khảo sát về nhu cầu ứng dụng bản đồ
tư duy vào việc học tập của sinh viên lớp KHQL K8 và đánh giá những mặt
mạnh của việc ứng dụng bản đồ tư duy.
8. Ý nghĩa của đề tài
a. Ý nghĩa về mặt lí luận
– Hoàn thành đề tài cho đóng góp về mặt lí luận: làm phong phú thêm cơ sở
lý thuyết của việc ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập.
b. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
– Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài có thể đưa ra những nhận định
đánh giá về phương pháp học tập truyền thống của sinh viên lớp KHQL K8,

Xô),tập III, tr409). Phương pháp chính là cách thức làm việc của chủ thể,
cách thức này tùy thuộc vào nội dung “Phương pháp là sự vận động bên
trong của nội dung” (Hêghen).


Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là
con đường để đạt mục đích. Theo đó, Phương pháp học tập là con đường để
đạt mục đích học tập.
Theo Lexicon der Padagogik: “Phương pháp giúp để trình bày có lý lẽ vững
vàng một chân lý đã xác định rồi hoặc để vạch ra một con đường tìm tòi một
chân lý mới”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Phương pháp là các cách thức
được sử dụng để tìm kiếm luận cứ và tổ chức luận cứ để chứng minh luận
điểm (luận đề). Phương pháp là cách thức hành động được chủ thể sử dụng
nhằm thực hiện một mục đích nhất định nào đó”.
Như vậy, tóm lại có thể hiểu: “Phương pháp là cách thức, con đường,
phương tiện để đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực
tiễn”.
ii) Khái niệm học tập
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang, nghiên cứu dạy học theo quan điểm quá
trình: “Học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa
học, bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn
diện. Vai trò tự điều khiển của quá trình học thể hiện ở sự tự giác, tích cực,
tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm
khoa học. Học có 2 chức năng kép là lĩnh hội và tự điều khiển”.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ
học: “Học tập là học và luyện tập để hiểu biết và có kỹ năng”.
Như vậy, ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về học tập là: “Học tập
là một loại hình hoạt động được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với


lượng và hiệu quả học tập cao”.Đổi mới phương pháp học tập về bản chất là
sự đổi mới cách thức tổ chức học tập theo quan điểm phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của người học.
* Quan điểm về đổi mới phương pháp học tập
Đổi mới giáo dục nói chung, và đổi mới phương pháp học tập nói riêng là
quy luật tất yếu của chính bản thân người làm công tác giáo dục, của giáo
viên và sinh viên trongđiều kiện mới.
Đổi mới phương pháp học tập là thay đổi, kế thừa các phương pháp học tập
truyền thống và tiếp thu các phương pháp học tập mới một cách linh hoạt,
phù hợp với điều kiện. Hoàn cảnh, để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai
đoạn hiện nay.
Đổi mới không phải thay cái cũ bằng cái mới. Nó là sự kế thừa, sử dụng một
cách có chọn lọc và sáng tạo hệ thống phương pháp học tập truyền thống hiện
còn có giá trị tích cực trong việc hình thành tri thức, rèn luyện kỹ năng, kinh
nghiệm và phát triển thái độ tích cực đối với đời sống, chiếm lĩnh các giá trị
xã hội. Đổi mới phương pháp học tập theo hướng khắc phục những phương
pháp lạc hậu, tăng cường vận dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật,
CNTT, nhằm tạo điều kiện cho người học hoạt động tích cực, độc lập và sáng
tạo.
1.1.2. Khái niệm bản đồ tư duy, lịch sử hình thành, tác dụng và cách thành
lập bản đồ tư duy
a, Khái niệm bản đồ tư duy


Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Bản đồ tư duy (Mindmap) là
phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả
năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng
hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân
nhánh. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ
theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu

tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh,
mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn
đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới
dạng Bản đồ tư duy theo một cách riêng. Do đó, việc lập Bản đồ tư duy phát
huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người”.
b, Lịch sử hình thành bản đồ tư duy
Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (của thế kỉ 20)
bởi Tony Buzan như là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ
dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ
nhớ và dễ ôn tập hơn.
Đến giữa thập niên 70 Peter Russell đã làm việc chung với Tony và họ đã
truyền bá kĩ xảo về giản đồ ý cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học
viện giáo dục
c, Tác dụng (lợi ích) của việc ứng dụng bản đồ tư duy
* Trong cuộc sống:


– Ghi chú: Khi thông tin được gợi ra, Bản đồ tư duy (Mind maps) giúp tổ
chức thông tin theo một hình thức mà dễ dàng được xuất hiện và ghi nhớ.
Được sử dụng để ghi chú tất cả các loại sách vở, bài giảng, hội họp, phỏng
vấn, và đàm thoại.
– Gợi nhớ, hồi tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện từ trong bộ
não thì Mind maps cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay sau khi
nó được sinh ra vào một hệ được tổ chức. Vì thế chẳng cần phải viết cả một
câu. Nó như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì
thế có thể giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn.
– Sáng tạo: Bất cứ khi nào bạn muốn khuyến khích sự sáng tạo, Mind maps
sẽ giúp bạn giải phóng cách suy diễn cổ điển theo phương thức ghi chép sự
kiện theo dòng cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo
luồng tư duy xuất hiện.

dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD:
1). Dùng từ khóa và ý chính; 2). Viết cụm từ, không viết thành câu; 3). Dùng
các từ viết tắt. 4).Có tiêu đề. 5). Đánh số các ý; 6). Liên kết ý nên dùng nét
đứt, mũi tên, số, màu sắc,… 7). Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra
cứu lại dễ dàng. 8). Sử dụng màu sắc để ghi.


– Sử dụng BĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ
sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế
hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ.
Hình 1.4. Bản đồ tư duy tóm lược 5 nội dung của phong trào thi đua “xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các
nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ,… hoặc
cũng có thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy.
Việc sử dụng BĐTD giúp cán bộ quản lí có cái nhìn tổng quát toàn bộ vấn
đề, giúp GV đổi mới PPDH, giúp sinh viên học tập tích cực đó chính là một
trong những cách làm thiết thực triển khai nội dung dạy học có hiệu quả – nội
dung quan trọng nhất trong năm nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát
động.
d, Cách thành lập bản đồ tư duy
Cho dù vẽ bằng tay hay bằng máy chúng ta đều có thể thực hiện theo các
bước sau:
– Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) hoặc
trên máy.
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể


nên

chỉ



tối

đa

một

từ

khóa.

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…
bằng đường kẻ. Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm
hơn.
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong
được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.


+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta
thay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
– Bước 4: Người vẽ có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng
thêm nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn.
1.2. Cơ sở thực tiễn

Công tác xã hội, Du lịch, Báo chí, Luật học, thạc sỹ ngành Toán, Sinh, Tiến
sỹ ngành Hóa Sinh. Các thế hệ cán bộ giảng viên của nhà trường đã góp phần
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ các tỉnh trong cả nước, đặc
biệt là vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Trong thời gian tới, Nhà trường sẽ điều chỉnh xây dựng các chuyên ngành
đào tạo sau đại học theo hướng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế. Chủ
trương của Nhà trường là giữ vững quy mô đào tạo đại học chính quy ở mức
ổn định phù hợp với quy mô ngành nghề. Chú trọng tăng cường đào tạo trình
độ sau đại học với chất lượng cao, đồng thời đáp ứng yêu cầu đào tạo của hệ
không chính quy, văn bằng 2, liên thông với chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô
đào tạo thích hợp. Quy mô sinh viên nhập học trong 3 năm gần đây cho thấy
số lượng đều tăng lên hàng năm.
b, Cơ sở vật chất của nhà trường
Tổng diện tích xây dựng là 3482 m2 gồm: 1563 m2 phòng học, 534 m2 khu
văn phòng, 875 m2 phòng thí nghiệm, 71 m2 thư viện, 02 phòng máy tính với


diện tích 175 m2, Hội trường có diện tích 526 m2, 2110 m2 ký túc xá.
Trường đã được nhận 73.532 m2 đất đã được đền bù giải phóng trong tổng số
21,1 ha đất đã quy hoạch cho trường. Là trường thành viên của Đại học Thái
Nguyên nên trường có thể được sử dụng hệ thống cơ sở vật chất của các đơn
vị thành viên khác trong Đại học Thái Nguyên để phục vụ cho cho quá trình
đào tạo, vì vậy cơ sở vật chất cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo.
Để phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu khoa học, trường đã có một hệ thống các
phòng thí nghiệm thuộc các chuyên ngành: Hoá học; Vật lý; Sinh học; Công
nghệ sinh học; Khoa học Trái đất; Khoa học Môi trường. Các phòng thí
nghiệm của trường đã được cung cấp các trang thiết bị từ các dự án “Dự án
nâng cao chất lượng giáo dục đại học – Mức 2 QIG B”; Các dự án chương
trình mục tiêu năm 2008; năm 2009, Đây là hệ thống các thiết bị thí nghiệm
đồng bộ, đáp ứng được với các chương trình đạo tạo do Bộ GD&ĐT đặt ra.

8
9
10
11
12
13
14

công
01/2010
06/2009
05/2010
05/2010
05/2011
06/2009
01/2011
05/2011
05/2011
05/2014
05/2014
05/2015
05/2015
05/2015

thành
12/2015
06/2010
05/2011
05/2011
05/2012

– Tích cực xây dựng các dự án tăng cường năng lực:

( m2
130.800

6
1
1
3


+ Năm 2010-2011 hoàn thiện dự án và chuẩn bị cơ sở để tiếp nhận trang
thiết bị của dự án tăng cường năng lực cho ngành Khoa học Môi trường với
tổng kinh phí là 3,3 tỷ đồng.
+ Từ 2011-2013: Xây dựng và xin phê duyệt dự án tăng cường năng
lực cho ngành Công nghệ Sinh học với tổng kinh phí là 7.5 tỷ đồng.
+ Từ 2014-2020: Xây dựng và xin phê duyệt dự án thành lập trung tâm thí
nghiệm Vật lý hiện đại bằng nguồn vốn xây dựng cơ bản với kinh phí từ 30
đến 40 tỷ đồng.
– Tăng cường tiết kiệm, tích cực tìm nguồn huy động vốn đề không ngừng bổ
sung, đổi mới trang thiệt bị phục vụ cho mọi hoạt động của nhà trường.
c, Đội ngũ cán bộ giảng viên và sinh viên của nhà trường
* Đội ngũ cán bộ giảng viên
Hiện tại trường gồm có 6 Khoa chuyên môn, 2 Bộ môn với đội ngũ cán bộ
giảng viên trẻ, sáng tạo, nhiệt tình. Có thể thấy: đội ngũ cán bộ giáo viên của
trường không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng. Trình độ của
cán bộ, giáo viên được nâng cao.
Có nhiều giảng viên được cử đi học cao học, nghiên cứu sinh ở trong và
ngoài nước. Tuy nhiên, về mặt số lượng cán bộ giảng viên thì mức tăng qua
các năm là tương đối chậm so với quy mô đào tạo của trường. Nếu 2006 tổng

không cao, nhiều bộ phận sinh viên chưa thích ứng được với hình thức đào
tạo theo tín chỉ, thiếu tính chủ động trong việc học tập và nghiên cứu.
1.2.2. Tổng quan về bộ môn Khoa học quản lý


Được thành lập năm 2006, đến nay, bộ môn KHQL đã và đang đào tạo
khoảng 600 sinh viên hệ chính quy ngành Khoa học Quản lý với 2 chuyên
ngành là Quản lý nguồn nhân lực và Quản lý các vấn đề xã hội và chính sách
xã hội. Dự kiến, trong thời gian tới, bộ môn sẽ đưa thêm 1 số chuyên ngành
mới vào chương trình đào tạo như Quản lý văn hóa – dân tộc và tôn giáo, Bảo
hộ sở hữu trí tuệ, Quản lý khoa học và công nghệ để theo kịp với sự phát
triển của xã hội.
* Đào tạo:
Với mục tiêu đào tạo những cử nhân vững vàng về kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, có khả năng thực hành nghề, chương trình đào tạo của BM được
thiết kế đảm bảo tính mới, cập nhật, mềm dẻo, linh hoạt. Đội ngũ cán bộ trẻ,
năng động, tận tâm với công việc và không ngừng học tập, bồi dưỡng nâng
cao trình độ là một lợi thế để bộ môn KHQL có những bước tiến vượt bậc kể
từ khi thành lập đến nay. Cùng với việc áp dụng những phương pháp giảng
dạy tiên tiến kết hợp trang thiết bị hiện đại, giảng viên của bộ môn đã tạo ra
những tiết học thực sự lý thú và bổ ích với sinh viên.
Bên cạnh hoạt động giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học cũng được bộ
môn chú trọng quan tâm. Hàng năm, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học của
cán bộ, sinh viên được triển khai và nghiệm thu đạt kết quả cao. Nhiều đề tài
trong số đó đã trở thành nguồn học liệu quan trọng cho cán bộ, giảng viên
của ngành trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu.
* Thực tập, thực tế
Theo học ngành Khoa học quản lý, sinh viên còn có nhiều điều kiện, cơ hội
thâm nhập, tìm hiểu thực tiễn quản lý thông qua các chuyến thực tập, thực tế
tại các cơ quan, đơn vị như các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status