Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản qua thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ NGỌC LINH

XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY LÀ
BẤT ĐỘNG SẢN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ NGỌC LINH

XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY LÀ
BẤT ĐỘNG SẢN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Am Hiểu

1

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI

7

SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY LÀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG

1.1.

Khái quát về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự

7

1.1.1. Khái niệm về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

7

1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự

10

1.2.

12

Khái quát về giao dịch bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản


27


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI

32

SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY LÀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA TỔ
CHỨC TÍN DỤNG

2.1.

Quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là
bất động sản

32

2.1.1. Các trường hợp xử lý

32

2.1.2. Phương thức xử lý

34

2.1.3. Thủ tục xử lý

41


2.2.5. Quy định về quyền nắm giữ tài sản bảo đảm là bất động sản
của tổ chức tín dụng

80

Chƣơng 3:THỰC TIỄN XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN

87

VAY LÀ BẤT ĐỘNG SẢN TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN
DỤNG VÀ PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

3.1.

Thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản
tại các tổ chức tín dụng

87

3.1.1. Quy trình xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản tại
các tổ chức tín dụng

87


3.1.2. Khó khăn, vướng mắc thường gặp trong hoạt động xử lý tài
sản bảo đảm tiền vay là bất động sản tại các tổ chức tín dụng

91



BLDS

Bộ luật Dân sự

TCTD

Tổ chức tín dụng


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế càng phát triển, các hoạt động tín dụng càng sôi
động.Trong một nền kinh tế thị trường, vay và cho vay là một nhu cầu tất yếu.
Đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, sự phát triển của các hoạt
động tín dụng nói chung và của hoạt động vay, cho vay nói riêng lại càng
nóng hơn.
Trong những năm gần đây tại Việt Nam, cùng với nhu cầu vay vốn của
hàng chục nghìn doanh nghiệp được thành lập mỗi năm, rất nhiều TCTD đã
được thành lập.Bongbóng bất động sản vỡ đã khiến các TCTD lao đao, nợ
xấu trở thành vấn đề lớn không dễ giải quyết của nền kinh tế. Theo số liệu từ
Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống tại thời điểm tháng
4/2014 là 4,01%. Tuy nhiên, đây mới là con số nợ xấu do các TCTD báo cáo
lên NHNN. Còn theo con số mới đây NHNN đưa ra là khoảng 9%, nếu tính
một cách thận trọng [37]. Bên cạnh các biện pháp vĩ mô của nhà nước, các
biện pháp tái cấu trúc, sáp nhập, hợp nhất,… để tồn tại trong giai đoạn kinh tế
khó khăn, các TCTD cũng dồn lực vào công tác xử lý nợ xấu, trong đó xử lý
tài sản bảo đảmlà biện pháp chủ yếu.
Trong số các tài sản bảo đảmcủa các TCTD hiện nay thì bất động sản
chiếm một tỷ trọng lớn. Theo số liệu tổng kết của Ngân hàng Đầu tư và Phát

nhưng lại chưa được khắc phục.
Từ những vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài “Xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay là bất động sản qua thực tiễn hoạt động của các Tổ chức tín dụng” là đề
tài luận văn của mình. Các vấn đề đưa ra trong luận văn xuất phát từ việc
nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay và tổng kết từ thực tiễn
xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản tại các TCTD, qua đó đề xuất một số
hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là

2


bất động sản nhằm tạo ra một cơ chế phù hợp hơn trong vấn đề này.
2.
2.1.

Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của luận văn là chỉ ra những điểm vướng mắc, bất
cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là
bất động sản trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn
các vụ việc tại các TCTD.
2.2.

Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu tổng quát như trên, luận văn cần đạt một số mục
tiêu cụ thể như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tài sản bảo đảm tiền vay là bất động
sản, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản.

hàng- Thực trạng và giải pháp” của học viên Lê Thu Hiền; luận văn Thạc sĩ
luật học với đề tài: “Những vấn đề pháp lý về bảo lãnh ngân hàng” của
Nguyễn Thành Long,...
Sách chuyên khảo: “Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Nxb Tư pháp 2005 của tác giả
Nguyễn Văn Tuyến chỉ có mục nhỏ viết về bảo lãnh ngân hàng dưới góc độ
hoạt động cấp tín dụng. Sách tham khảo: “Một số suy nghĩ về đảm bảo thực
hiện nghĩa vụ trong Luật Dân sự Việt Nam” Nxb trẻ TP. Hồ Chí Minh của tác
giả Nguyễn Ngọc Điện nghiên cứu chung về các biện pháp đảm bảo,…
Như vậy, dù có rất nhiều công trình khoa học liên quan đến đề tài mà
tác giả đang nghiên cứu nhưng chưa có một đề tài khoa học nào nghiên cứu
riêng về vấn đề xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản tại các tổ chức
tín dụng, đặc biệt là chưa có đề tài nào có sự liên hệ với thực tiễn công tác xử
lý tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng. Vì thế, có thể nói rằng, đề tài mà
tác giả chọn làm luận văn Thạc sĩ luật học là một đề tài mới và độc lập.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4


Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật hiện
hành và các vấn đề phát sinh từ thực tiễn hoạt động xử lý tài sản bảo đảm tiền
vay là bất động sản tại các TCTD.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về
tài sản bảo đảm tiền vay có đối tượng là bất động sản, sự thiếu đồng bộ của hệ
thống pháp luật Việt Nam về vấn đề này và những bất cập gây khó khăn cho
các TCTD trong thực tiễn xử lý, từ đó đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

như xây dựng luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm.
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất
động sản của tổ chức tín dụng.
Chương 2:Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất
động sản của tổ chức tín dụng.
Chương 3:Thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản tại
các tổ chức tín dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật.

6


Chƣơng 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN
VAY LÀ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1. Khái quátvề các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.1.1. Khái niệm về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:
Việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch dân sự
trước hết trên cơ sở sự tự giác của các bên.Nhưng trên thực tế không phải bất
cứ ai tham gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm
chỉnh các nghĩa vụ của mình.Để tạo được thế chủ động cho người có quyền
trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các
bên có thể thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng,
cũng như việc thực hiện nghĩa vụ. Thông qua các biện pháp này người có
quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình tác động trực tiếp đến
tài sản của phía bên kia nhằm làm thỏa mãn quyền lợi của mình, khi đến thời
hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ đó. Pháp luật về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một trong


Ký cược:là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê

một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc vật có giá trị khác (gọi là tài sản
ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
-

Ký quỹ: là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí

quí, đá quý hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân
hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
-

Bảo lãnh:là việc người thứ ba (gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên

có quyền (gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ (gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có
thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được
bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
-

Tín chấp: là việc tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở bảo đảm cho

cá nhân, Hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ
chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định
của Chính phủ
Khi nghiên cứu về khái niệm và bản chất pháp lý của bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự, ở Việt Nam hiện có một vài quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là một biện

dụng uy tín của mình (gọi là bên bảo đảm) để bảo đảm cho việc thực hiện
nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thể khác (gọi là bên được bảo đảm).

9


1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự:
Từ định nghĩa trên đây chúng ta có thể rút ra các đặc trưng cơ bảncủa
các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như sau:
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có mối
quan hệ mang tính chất phụ thuộc vào nghĩa vụ mà nó bảo đảm và luôn gắn
liền với một nghĩa vụ được bảo đảm cụ thể.Một khi xác định được nghĩa vụ
cần bảo đảm là nghĩa vụ gì và cần phải được bảo đảm như thế nào thì các biện
pháp bảo đảm mới được hình thành. Do đó, về nguyên tắc các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xác lập sau hoặc đồng thời với việc xác
lập nghĩa vụ đó.
Thứ hai, phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự
do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, có thể là một phần
hoặc toàn bộ nghĩa vụ. Toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm cả nghĩa vụ
trả lãi và bồi thường thiệt hại.Về nguyên tắc phạm vi bảo đảm của các biện
pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội
dung của quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm; dù trong thực tế người có nghĩa vụ
đưa ra một tài sản có giá trị lớn hơn nhiều lần giá trị của nghĩa vụ để bảo đảm
việc thực hiện nghĩa vụ, vì mục đích cuối cùng của việc bảo đảm đó cũng chỉ
là để người mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi đã xác định.
Thứ ba, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự có tính chất dự phòng
vàchỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ xảy ra. Trong trường
hợp nghĩa vụ được bảo đảm đã được thực hiện một cách đầy đủ thì không cần
áp dụng biện pháp bảo đảm đó. Trong thời gian có hiệu lực của biện pháp bảo

tài sản.Tài sản đem ra bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể là vật (vật
hiện có hoặc hình thành trong tương lai), tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài
sản.Đó có thể là động sản hoặc bất động sản nhưng những tài sản này phải
thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, không phải là đối tượng bị tranh chấp

11


về quyền sở hữu cũng như quyền sử dụng.Tài sản bảo đảm phải là tài sản
được phép tự do lưu thông trên thị trường.
Thứ sáu, các biện pháp bảo đảm có mục đích nâng cao trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ của những người có nghĩa vụ, bảo vệ lợi ích cho bên có
quyền một cách chắc chắn thông qua việc thỏa thuận về một tài sản dự phòng
sẽ được xử lý để khấu trừ nghĩa vụ vi phạm. Thông qua việc áp dụng các biện
pháp bảo đảm bên có quyền sẽ không bị rơi vào thế bị động (phụ thuộc vào
việc thực hiện nghĩa vụ của bên đối tác) mà trở thành chủ động trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các giao dịch dân sự, thương
mại đã ký kết (thông qua việc trực tiếp tác động vào tài sản bảo đảm). Các
biện pháp bảo đảm được đặt ra góp phần tạo nên cơ sở pháp lý an toàn cho
các chủ thể trong giao lưu dân sự, tạo điều kiện củng cố kỷ luật hợp đồng, bảo
đảm sự ổn định và phát triển bình thường của các quan hệ tài sản.
1.2. Khái quát về giao dịch bảo đảm tiền vay và xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay của tổ chức tín dụng:
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm củabảo đảm tiền vay:
1.2.1.1. Khái niệm bảo đảm tiền vay:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ nhận tiền gửi,cấp tín
dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong số các nghiệp vụ của
tổ chức tín dụngthì cho vay là hình thức cấp tín dụng truyền thống và đặc
trưng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một

thay thế bằng Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về giao dịch bảo
đảm. Sau khiNghị định số 178/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi
hành kèm theohết hiệu lực, các văn bản pháp luật hiện nay không có quy định
về khái niệm “Bảo đảm tiền vay”.
Cần phải khẳng định “Bảo đảm tiền vay” không phải là một biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà thực chất chỉ là biện pháp

13


bảođảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của BLDS 2005 trong đó
nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ hoàn trả gốc, lãi và các nghĩa vụ thanh
toán khác phát sinh từ hợp đồng vay tiền.Và như đã nêu ở trên, các văn bản
pháp luật thực định hiện nay cũng không còn định nghĩa và sử dụng khái niệm
“bảo đảm tiền vay”. Tuy nhiên tác giả vẫn sử dụng khái niệm này như một
thuật ngữ trọng tâm và xuyên suốt trong luận văn này bởi cáclý do sau:
Thứ nhất, cho vay chỉ là một trong số rất nhiều hoạt động mà các
TCTDhiện nay đang thực hiện,ngoài cho vay còn rất nhiều hình thức cấp tín
dụng khác như bảo lãnh, chiếu khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,…
Trên thực tế, khi cấp tín dụng theocác hình thức khác, TCTD cũng đều yêu
cầu khách hàng phải giao kết giao dịch bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ
hoàn trả khoản tín dụng màTCTD đã cấp cho khách hàng. Bởi vậy,sử dụng
khái niệm “bảo đảm tiền vay”, tác giả muốn giới hạn phạm vi nghiên cứu của
luận văn là các giao dịch bảo đảm của tổ chức tín dụng với khách hàng xuất
phát từ nghiệp vụ cho vay mà không phải là tất cả các nghiệp vụ cấp tín dụng
nói chung của TCTD.
Thứ hai, tác giả muốn nhấn mạnh đến đối tượng nghiên cứu của luận
văn.Trên thực tế, hợp đồng vay tiền là một giao dịch dân sự rất phổ biến,
không chỉ có TCTD mới được cho vay mà hầu như tất cả các chủ thể dân sự
đều có thể cho vay, tuy nhiên xét về tính thường xuyên, chuyên nghiệp và

Thứ nhất, chủ thể của giao dịch bảo đảm tiền vay luôn có một bên là tổ
chức tín dụng - với tư cách là bên nhận bảo đảm (bên có quyền đòi nợ theo
hợp đồng tín dụng).Do chủ thể nhận thế chấp là tổ chức tín dụng nên việc
phòng tránh rủi ro tín dụng cho chủ thể này là vấn đề hết sức quan trọng, được
pháp luật quan tâm đặc biệt vì mục tiêu giữ vững an toàn của hệ thống ngân
hàng và đảm bảo lợi ích quốc gia.
Thứ hai, nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ hoàn trả tiền vay theo hợp
đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay vốn. Nghĩa vụ này

15


phát sinh từ hợp đồng tín dụng, bao gồm nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí, tiền
phạt và tiền bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
hoặc pháp luật có quy định khác.Bên vaytrong hợp đồng vaycó thể chính là
bên bảo đảm hoặc người thứ ba vay tiền tại TCTD.Thực tế cho thấy, do nghĩa
vụ hoàn trả tiền vay trong hợp đồng tín dụng thường có giá trị lớn và có tính
rủi ro cao nên hầu hết các tổ chức tín dụng khi cho vay đều mong muốn sử
dụng biện pháp bảo đảm tiền vay để phòng tránh rủi ro cho các khoản tín
dụng đã cấp.
Thứ ba, trong quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng,
do tổ chức tín dụng rất coi trọng vai trò, tác dụng của bảo đảm tiền vay nên
hợp đồng bảo đảm thường được các bên (tổ chức tín dụng và bên bảo đảm)
giao kết thành một hợp đồng riêng, tách khỏi hợp đồng tín dụng, với nhiều
điều khoản chi tiết và rất cụ thể. Điều này là cần thiết, vì việc giao kết một
hợp đồng thế chấp riêng rẽ với hợp đồng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho các bên
có cơ hội thỏa thuận chi tiết, cụ thể và đầy đủ hơn về các điều khoản của hợp
đồng bảo đảm tiền vay.Trên cơ sở đó, giúp cho việc thực hiện hợp đồng bảo
đảm và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng bảo đảm tiền vay
cũng dễ dàng, thuận lợi hơn.

ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.Trong Nghị định số
163/2006/NĐ-CP, nhà làm luật không hoàn toàn coi mối quan hệ giữa hợp
đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và
hợp đồng phụ, cụ thể là, Điều 15 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP. Theo quy
định tại điều luật này, nếu áp dụng cho hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
thế chấp tài sản thì có thể hình dung mối tương quan về hiệu lực giữa hai hợp
đồng này (hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm) như sau:
- Trường hợp thứ nhất, có hai khả năng xảy ra:Nếu hợp đồng tín dụng
có nghĩa được bảo đảm bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ bởi
thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên nhưng chưa

17


được thực hiện thì hợp đồng bảo đảm tiền vay bị chấm dứt. Cần lưu ý rằng
theo quy định của điều luật nêu trên thì trong trường hợp này, hợp đồng bảo đảm
tiền vay bị chấm dứt, nghĩa là đã có hiệu lực rồi sau đó mới chấm dứt hiệu lực do
không cần thiết duy trì hiệu lực của hợp đồng bảo đảm tiền vay nữa, chứ không
phải là hợp đồng bảo đảm tiền vay bị vô hiệu ngay từ khi ký kết.
Nếu hợp đồng tín dụng bị vô hiệu hoặc đã có hiệu lực nhưng bị hủy bỏ
bởi thỏa thuận của các bên hoặc bởi ý chí đơn phương của một bên và đã
được thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì hợp đồng bảo đảm tiền vay không
bị đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận chấm dứt hợp
đồng bảo đảm tiền vay này vì thấy không cần thiết phải tiếp tục thực hiện hợp
đồng nữa. Trong trường hợp này, nếu hợp đồng bảo đảm tiền vay không bị
chấm dứt trong khi tổ chức tín dụng đã giải ngân cho khách hàng thì bên nhận
bảo đảm (tổ chức tín dụng) có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi số tiền
đã giải ngân cho khách hàng.
- Trường hợp thứ hai, hợp đồng bảo đảm bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ,
chấm dứt đơn phương sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status