MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ một nền kinh tế phát triển sôi động nào, vốn bao giờ cũn
g là nguồn lực khan hiếm. Vì vậy sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là mục tiêu
của bất kỳ nhà quản lý kinh tế nào, dù ở tầm vĩ mô hay vi mô. Tín dụng,
nhất trong nền kinh tế thị trường, là một trong những hình thức sử dụng vốn
có hiệu quả nhất.
Tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng ra đời có ý nghĩa cự
c kỳ quan trọng đối với nền kinh tế. Nó góp phần thúc đẩy quá trình luân chu
yển vổn trong nền kinh tế, giải quyết mâu thuẫn vốn có của quá trình tái sản
xuất xã hội, trong thực tế cùng một lúc có những chủ thể thừa vốn, cũng có
những chủ thể thiếu vốn cần có vốn để đáp ứng những khoản chi tiêu kinh
doanh của mình. Tình trạng này nếu không được giải quyết nhanh thì nó sẽ
làm cho quá trình sản xuất bị ngưng trệ, nền kinh tế kém phát triển. Ngàynay
trong thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, tín dụng dường như
đã đáp ứng được những nhu cầu bức xúc về vốn đó. Chính vì vậy để hiểu rõ
hơn về vấn đề này em xin được Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng
tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý từ năm
2012 đến nay, đề xuất hướng giải quyết để xử lý quản lý đối với các khoản
nợ sau cho vay của tổ chức tín dụng.
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ
chức tín dụng
1. Khái quát hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng
1.1. Khái niệm cho vay của tổ chức tín dụng
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội
loài người có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn. Trong pháp luật
dân sự, hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để
cho người khác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định
với điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người
đó.
(character), tư cách của người đi vay (capacity), khả năng trả nợ (capability),
dòng tiền (cashflow), vốn (capital), điều kiện hoạt động (conditions), tài sản
chung (collectability) và tài sản thế chấp (collateral).
Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: nguyên tắc này đảm
bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời
đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này
thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều
chỉnh theo pháp luật.
Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả
thuận: Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp
bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được
bên cho vay chấp thuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán
cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn.
1.4. Phân loại cho vay của tổ chức tín dụng:
Với sự phát triển không ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân
hàng hiện nay, trong thực tế có rất nhiều hình thức cho vay mà mỗi một tổ
chức tín dụng đã tự xây dựng nên. Ở đây chúng ta chỉ đưa ra một số loại dựa
vào những căn cứ sau đây:
Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay:
Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín dụng
đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là
một năm. Hình thức này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của
khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng
của khách hàng trong một thời hạn ngắn.
Cho vay trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là
với thời gian thỏa thuận là từ trên một năm trở lên. Người đi vay sử dụng
hình thức này để thỏa mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh
doanh, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương
tiện đi lại…
Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay:gồm
lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật,
theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ
cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều
kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời
gian nhất định.
Đặc điểm của hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản.
Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận
cho bên vay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định,
với điều kiện có hoàn trả dựa trên sự tín nhiệm.
Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều
kiện luật định, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện
vay vốn do pháp luật quy định. Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao
giờ cũng là tiền, bao gồm tiền mặt và bút tệ.
Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên
cho vay. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc
càng lớn.
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay
của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở
và tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.
2.2. Chủ thể của hợp đồng tín dụng:
a. Bên cho vay:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng
muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các
điều kiện sau:
Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp.
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín
dụng với khách hàng.
hành, làm cơ sở để các NHTM giảm lãi suất cho vay nhằm khơi thông dòng
tín dụng. Đồng thời, chỉ đạo các NHTM tạo điều kiện thuận lợi để doanh
nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng, đồng thời bảo đảm chất lượng tín
dụng, cơ cấu lại những khoản nợ vay có lãi suất cao trước đây.
Ngày 23/4/2012, NHNN đã ban hành quyết định số 780/QĐ-NHNN cho
phép các tổ chức tín dụng (TCTD) giữ nguyên nhóm nợ như đã được phân
loại theo qui định trước khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ.
Thực hiện Nghị quyết số 48/2013/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường
kỳ tháng 3/2013, NHNN đã đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn về điều
kiện, thủ tục vay vốn để khơi thông dòng tín dụng, ưu tiên cho lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn; ban hành Thông tư số 11/2013/TT-NHNN qui định về
cho vay, hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết số
48/NQ-CP.
Trong những tháng đầu năm 2014, NHNN đã ban hành các chính sách
tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực đặc thù như mô hình cánh đồng mẫu
lớn, mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông
nghiệp, mô hình chuỗi liên kết các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, chương
trình liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải. Đây là
những ngành, lĩnh vực kinh tế có hiệu ứng lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế.
Trong số này có chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông
nghiệp đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
nông nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 14/2014/NQ-CP.
Việc triển khai chương trình được coi là bước đột phá trong định hướng đầu
tư vốn tín dụng cho sản xuất nông nghiệp, hướng sản xuất nông nghiệp sang
sản xuất hàng hóa qui mô lớn, liên kết sản xuất kinh doanh theo chuỗi, gia
tăng giá trị sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu hiệu quả.
Ngoài ra, NHNN cũng tiếp tục triển khai các chương trình tín dụng
đặc thù đối với một số sản phẩm có thế mạnh của Việt Nam như: Cho vay
thu mua tạm trữ lúa gạo, cà phê, đánh bắt xa bờ, hỗ trợ lĩnh vực thủy sản,
chăn nuôi…
nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ; thủ tục cho vay cũng cần phải tiếp
tục nghiên cứu cải tiến.
II. Giải pháp
Đối với NHNN: (i)Cần tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng theo
hướng mở rộng tín dụng đi đôi với hiệu quả, kiểm soát và xử lý nợ xấu; tiếp
tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng, làm cơ sở để các TCTD đẩy
mạnh hoạt động tín dụng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;(ii)Tiếp tục chỉ
đạo các TCTD tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, nhất là lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn. Tiếp tục tháo gỡ vướng mắc về xử lý nợ xấu, hoàn thành
dứt điểm tái cơ cấu những TCTD yếu kém còn lại, định hướng hỗ trợ thoái
vốn của các DNNN, phối hợp giải bài toán “tăng trưởng tín dụng”, bao gồm
cả tín dụng nông nghiệp, nông thôn, hỗ trợ thị trường bất động
sản; (iii) Tăng cường phối hợp với chính sách tài khóa để xử lý nợ đọng xây
dựng cơ bản và nợ ngân sách, xem xét điều chỉnh giảm lãi suất điều hành
thêm 0,5%; định hướng, hỗ trợ các TCTD trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, xử lý những vướng mắc trong giao dịch thanh toán với các đối tác
nước ngoài;(iv) Tiếp tục làm tốt công tác thông tin – tuyên truyền về hoạt
động tiền tệ - ngân hàng.
Đối với các TCTD: Tăng cường cho vay 5 lĩnh vực ưu tiên và tín dụng
bán lẻ; rà soát, đẩy mạnh cho vay theo các chương trình tín dụng đã thiết kế;
tiếp tục rà soát, phân loại nợ theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Thông tư
số 09/2014/TT-NHNN và có giải pháp thích hợp, xem xét bán nợ xấu cho
VAMC; (ii)Tiếp tục tái cơ cấu, giảm chi phí và thủ tục hành chính, làm cơ
sở để tiếp tục giảm lãi suất cho vay; kiểm soát cho vay ngoại tệ trên cơ sở
cân đối được nguồn vốn. Tiếp tục kiểm soát chất lượng, hiệu quả vay vốn,
triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý nợ xấu và kiểm soát nợ xấu
mới; (iii)Đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghệ thông tin và thông tin quản
lý; tăng cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng và bám sát, chia sẻ cùng
khách hàng; khẩn trương áp dụng các thông lệ và chuẩn mức quốc tế về
quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro nhằm nâng cao chất lượng quản trị