MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Hệ thống tài chính trên thế giới đã xuất hiện và tồn tại gần hai thế kỉ,
ngay từ những ngày đầu, nó đã trở nên được ưa chuộng với những hình thái
còn khá đơn giản và ngày càng có những sự cải tiến để hệ thống tài chính trở
thành kênh lưu thông tiền tệ hiệu quả và tiện ích. Lúc nào cũng thế, từ khi hệ
thống tài chính được nhắc đến và được quan tâm thì nó đã trở thành tâm điểm
của nền kinh tế. Và có những đột phá, những tiến bộ, nhưng có cũng nhiều rắc
rối phát sinh từ nó. Người ta nhắc đến nhiều hơn những thành viên đắc lực
trong hệ thống tài chính - các tổ chức tài chính trung gian,
Nhưng ở Việt Nam thì hệ thống tài chính mới thực sự phát triển mạnh
mẽ và thay đổi diện mạo từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường. Cho tới
nay, nếu hoạt động ngân hàng và thị trường tài chính trên thế giới là điểm
nóng thì ở Việt Nam là bước đầu của sự chuyên nghiệp hóa và đi sâu vào
trong dân chúng. Các tổ chức tài chính trung gian, ngoài chức năng tạo vốn,
cung ứng vốn, và kiểm soát vốn cho nền kinh tế, còn có nhiệm vụ là bằng khả
năng nghiệp vụ của mình, tạo ra và giữ được lòng tin của dân chúng. Nghiên
cứu về các hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian ở Việt Nam giai
đoạn 2003 – 2008 phản ánh kịp thời các hoạt động cơ bản của những “người
dẫn dắt” trong hệ thống tài chính và quá trình phát triển của lĩnh vực tiền tệ,
hoạt động ngân hàng và thị trường tài chính ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề án “ nghiên cứu những hoạt động cơ bản
của các tổ chức tài chính trung gian ở Việt Nam giai đoạn 2003-2008” là
các hoạt động chủ yếu của các tổ chức tài chính trung gian như: ngân hàng
thương mại, công ty bảo hiểm, công ty tài chính… Các tổ chức này đang phát
triển khá mạnh mẽ và ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn tới đời sống của nhân
dân. Dưới sự chỉ đạo bởi các chính sách của nhà nước và các cơ quan chức
năng, các tổ chức tài chính trung gian ở Việt Nam với mục tiêu phát triển xã
hội lành mạnh vì dân sinh xã hội.
Không gian nghiên cứu là Việt Nam: Việt Nam là đất nước đang phát
triển và là nước có tốc độ phát triển cao trong khu vực và trên thế giới. Đất
phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình
thành, tái lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế
nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. Có bốn mối
quan hệ tài chính tài chính:
Quan hệ giữa nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư.
Quan hệ giữa các tổ chức tài chính trung gian với các cơ quan, đơn vị
kinh tế, dân cư với nhau
Quan hệ giữa các quốc gia
1.1.2. Tổ chức tài chính trung gian: các tổ chức tài chính trung gian là
các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn từ người có vốn đến người cần
vốn. Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp- người cần vốn và người
có vốn trao đổi trực tiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài
chính thực hiện dẫn vốn thông qua một cầu nối nghĩa là người cần vốn muốn
có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các ngân hàng, các
công ty chứng khoán, các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty
bảo hiểm, các công ty tài chính. Có thể chia tổ chức tài chính trung gian thành
hai loại: tổ chức ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng.
a,Về ngân hàng, có các loại ngân hàng như: ngân hàng trung ương, ngân
hàng thương mại, ngân hàng phát triển…nhưng chúng ta chỉ nghiên cứu về
ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền
của người gửi và cho vay lại các công ty và cá nhân. Tiền huy động được của
người gửi gọi là “ tài sản nợ” của ngân hàng, tiền cho công ty và cá nhân vay
lại cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu
gọi là “tài sản có” của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động
được và số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng khác, mua trái phiếu gọi là vốn
tự có của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại:
vốn cấp một và vốn cấp hai. Vốn cấp một, còn gọi là nòng cốt, về cơ bản bao
3
gồm vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia cộng với các quỹ chi dự trữ
được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ
Các nghiệp vụ của thị trường tự do được tiến hành bằng việc mua bán
các chứng khoán và lượng giao dịch là rất lớn, vì vậy mà nghiệp vụ này được
4
thực hiện cùng với công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, … việc mua
trên thị trường tự do làm tăng lượng tiền trong lưu thông, do đó, làm tăng cơ
số tiền tệ, còn việc bán trên thị trường tự do làm giảm cơ số tiền tệ.
Ngân hàng trung ương có thể tác động đến khối lượng vay chiết khấu
của ngân hàng thương mại bằng hai cách:
Lãi suất chiết khấu hoặc tác động đến số lượng vay thông qua việc nân
hàng trung ương quản lý cửa sổ chiết khấu. Khi lãi suất chiết tăng thì làm tăng
chi phí vay từ ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại sẽ vay ít hơn
dẫn đến giảm cung ứng tiền tệ. Lãi suất chiết khấu giảm thì làm giảm chi phí
vay từ ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại sẽ vay nhiều hơn dẫn
đến tăng cung ứng tiền tệ. Từ đó mà các ngân hàng trung ương điều chỉnh các
chính sách tiền tệ.
Với dự trữ bắt buộc; ngân hàng trung ương có thể thay đổi dự trữ bắt
buộc đối với ngân hàng thương mại để tác động đến cung ứng tiền tệ. Khi tỉ lệ
dự trữ bắt buộc tăng thì với cùng một lượng tiền huy động được ngân hàng
thương mại sẽ cho vay được với một lượng tiền thấp hơn, lãi suất cho vay sẽ
tăng để đảm bảo chi phí, lợi nhuận của ngân hàng, vì thế sẽ thu hẹp cung ứng
tiền tệ. Nếu dự trữ bắt buộc giảm thì cả chi phí tiền gửi của ngân hàng và chi
phí đi vay của khách hàng cũng giảm nên sẽ tăng cung ứng tiền tệ. Nhưng
công cụ không được khuyên dùng, nó là công cụ quá mạnh để điều tiết kinh tế
vì những thay đổi rất nhỏ trong dự trữ bắt buộc thì cũng dẫn đến những thay
đổi rất lớn về cơ số tiền tệ, đặc biệt là chi phí quản lý sẽ rất tốn kém. Một
điểm bất lợi nữa là nó có thể gây nên mất khả năng thanh khoản với những
ngân hàng có dự trữ vượt mức thấp.
Vai trò thứ hai của các tổ chức tài chính trung gian là giảm chi phí giao
dịch, đó là đặc điểm mà chỉ ở các tổ chức tài chính trung gian mới có:
Thứ nhất là tiết kiệm do quy mô: một giải pháp cho vấn đề chi phí giao
cho vay trong thị trường tài chính.
Vấn đề 4: các ngân hàng là nguồn vốn quan trọng nhất để tài trợ cho các
doanh nghiệp.
Những vấn đề trên chủ yếu do thiếu thông tin cân xứng, dẫn đến sự lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, do các công ty không muốn công bố thông
tin rộng rãi. Tất cả đều nhấn mạnh sự quan trọng của những trung gian tài
chính. Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường
không thể biết tất cả những gì cần biết về bên kia để có quyết định đúng đắn.
Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân
xứng. vấn đề này tạo nên sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức
6
Sự lựa chọn đối nghịch xảy ra trên các thị trường tài chính khi người vay
có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn(tức là những rủi ro
không trả được nợ) là những người tích cực tìm vay nhất và do vậy có nhiều
khả năng được lựa chọn nhất. Do việc lựa chọn đối nghịch dễ có thể là những
món vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ,
những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những
trường hợp có thể trả được nợ.
Rủi ro đạo đức cũng là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra
sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo dức trong các thị trường tài chính
diễn ra
Rủi ro đạo đức cũng là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra
sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính
xảy ra khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực
hiện những hoạt động không tốt ( thiếu đạo đức ) xét theo quan điểm của
người cho vay, bởi vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay
này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác suất trả được vốn nên người
cho vay có thể quyết định thôi không cho vay.
Giải pháp cho vấn đề lựa chọn đối nghịch: nếu không còn vấn đề thông
tin không cân xứng thì vấn đề những quả chanh cũng biến mất. Vì vậy giải
trong đó, những cổ đông mà sở hữu hầu hết vốn cổ phần của công ty này-
những người ủy thác- tách khỏi quản lý. Sự tách biệt này sẽ dẫn đến rủi ro đạo
đức khi những người quản lý có hành động vì lợi ích cá nhân hơn là vì lợi ích
của chủ sở hữu. Các hãng vốn kinh doanh tập trung vốn từ hội viên và dùng
vốn này để giúp các công ty thầu khoán khởi sự các vụ kinh doanh mới. Để
đổi lại cho vay vốn kinh doanh, hãng này nhận một số cổ phần trong vụ kinh
doanh mới đó. Do sự kiểm tra thu nhập và lợi nhuận có ý ngĩa rất quan trọng
để ngăn ngừa rủi ro đạo đức, các hãng vốn kinh doanh có một số người trong
bộ máy quản lý thầu khoán.
Rủi ro đạo đức trong hợp đồng nợ: tức là người đi vay không dùng tiền
đi vay vào việc đã thỏa thuận mà thực hiện những hoạt động rủi ro hơn sẽ dẫn
đến không trả được nợ. Trong trường hợp này, sự trung gian tài chính sẽ hạn
chế vấn đề này bằng những quy định hạn chế và giám sát cưỡng chế.
8
1.3. Hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian:
1.3.1. hoạt động của tổ chức ngân hàng:
a, Hoạt động cơ bản của ngân hàng:
Các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi nguồn vốn
đến những người vay tiền có các cơ hội đầu tư sinh lời, họ cũng giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hữu
hiệu. Chúng ta sẽ xem xét các ngân hàng hoạt động như thế nào và họ thực
hiện các món cho vay như thế nào?
Hoạt động cơ bản của một ngân hàng nói chung là các ngân hàng thu lợi
nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có một số đặc tính (lỏng, rủi ro, lợi tức)
và dùng tiền thu được để mua một số tài sản có đặc tính khác. Như thế, các
ngân hàng cung cấp một dịch vụ chuyển một loại tài sản thành một loại tài sản
khác cho công chúng. Quá trình chuyển các tài sản và cung cấp một loạt dịch
vụ (thanh toán séc, ghi chép sổ sách, phân tích tín dụng…) giống như bất kì
quá trình sản xuất khác trong một hãng kinh doanh. Nếu một ngân hàng tạo ra
những dịch vụ hữu ích với chi phí thấp hơn và có được doanh thu cao hơn
gian( trong đó có các ngân hàng) tránh được sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức, thực ra, nó thông qua các nguyên tắc sàng lọc, giám sát, thiết lập
những mối quan hệ khách hàng lâu dài, các mức tín dụng, yêu cầu thế chấp và
yêu cầu về số dư đền bù, sự hạn chế tín dụng:
Sàng lọc và giám sát:
Lựa chọn đối nghịch trong các thị trường cho vay đòi hỏi rằng các ngân
hàng phải lọc những người mạo hiểm vay tín dụng có triển vọng xấu ra khỏi
những người vay tín dụng có triển vọng tốt, nhờ vậy các món tiền cho vay sẽ
có lợi nhuận cho ngân hàng. Nhằm thực hiện việc sàng lọc một cách có hiệu
quả, các ngân hàng phải tập hợp thông tin tin cậy về những người vay tiền có
hiệu quả. Sàng lọc một cách có hiệu quả và tập hợp thông tin, tạo ra một
nguyên tắc quan trọng trong việc quản lý tiền cho vay. Khi khách hàng đến
vay tiền thì sẽ phải có đầy đủ các thông tin về lợi nhuận và thu nhập của công
ty, tài sản có và tài sản nợ, trình bày các dự án, các vụ kinh doanh để ngân
hàng đánh giá hiệu quả và luồng tiền trong lai, doanh số bán, cách thức sử
dụng món tiền, sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp này. Thậm chí ngân
hàng có thể đến thăm công ty để có một cái nhìn sơ bộ về toàn bộ hoạt động
của công ty. Điều cuối cùng là dù cho vay cá nhân hay cho vay kinh doanh thì
ngân hàng cũng phải tinh tường.
10
Vai trò chuyên môn hóa của việc cho vay: các ngân hàng có thể chuyên
môn hóa cho các hãng địa phương vay hay chủ yếu cho những hãng thuộc một
ngành công nghiệp riêng biệt nào đó vay tiền. Việc chuyên môn hóa lại mang ý
nghĩa là ngân hàng dễ thực hiện tập hợp thông tin về các công ty địa phương và
mức độ tín nhiệm của họ so với việc thực hiện các thông tin tương tự về các
công ty ở xa hay ngân hàng có thể dễ dàng nắm vững hơn những vấn đề của
một ngành công nghiệp và có khả năng dự báo tốt hơn xem liệu các công ty mà
ngân hàng đó cho vay tiền sẽ có khả năng thanh toán tốt không?
Quan hệ khách hàng lâu dài và quy tắc tín dụng: quan hệ khách hàng lâu
dài làm lợi cho các khách hàng cũng như cho ngân hàng đó. Một khách hàng
tiền vay, ngân hàng đó có thể bán vật thế chấp và dùng tiền thu được để bù
lại tổn thất của mình. Một dạng riêng của vật thế chấp bắt buộc là số dư bù.
Ngoài việc có tác dụng như vật thế chấp, các số dư bù giúp tăng được khả
năng món tiền cho vay sẽ được hoàn trả. Số dư bù đóng vai trò là giúp ngân
hàng giám sát người vay và ngăn ngừa được rủi ro đạo đức.
Hạn chế tín dụng: một phương pháp khác để giúp các ngân hàng thành
công trong việc đối phó với lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là việc hạn
chế tín dụng. Những ngân hàng từ chối cho vay mặc dù những người vay sẵn
lòng thanh toán lãi suất đã được công bố, thậm chí cao hơn. Hạn chế tín dụng
có hai dạng: dạng thứ nhất diễn ra khi một ngân hàng từ chối một món cho
vay với số lượng bất kì nào đối với người vay, ngay cả khi người vay sẵn lòng
thanh toán lãi suất, dạng thứ hai diễn ra khi một ngân hàng sẵn lòng cho vay
nhưng hạn chế mức vay đó dưới mức người vay muốn.
c, Quản lý rủi ro lãi suất:
Các ngân hàng này càng quan tâm hơn đến việc họ đối mặt với rủi ro lãi
suất, việc phân tích khoảng cách và phân tích khoảng thời gian tồn tại làm cho
một ngân hàng biết được liệu nó có nhiều tài sản nợ loại nhạy cảm với lãi suất
hơn tài sản có hay không. Các ngân hàng quản lý rủi ro lãi suất không chỉ
bằng cách biến đổi bảng quyết toán tài sản mà còn bằng cách kinh doanh
nghĩa vụ đổi chéo lãi suất các hợp đồng tài chính kì hạn, các hợp đồng chọn
lựa cho các công cụ tài chính.
1.3.2. Hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng:
a, Công ty bảo hiểm:
Các công ty bảo hiểm cũng thực hiện chuyển từ dạng tài sản này sang
dạng tài sản khác như ngân hàng, nhưng điểm khác biệt là công ty bảo hiểm
12
không huy động tiền gửi mà huy động vốn nhờ các phí bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm để đầu tư vào các tài sản có như các trái khoán, cổ phiếu, các
món cho vay. Rồi tương tự như các khoản tiền rút ra trong ngân hàng, thì
công ty bảo hiểm phải chi trả cho những khiếu nại đòi bồi thường theo các
không thực hiện những hoạt động rủi ro làm cho một khiếu nại đòi bồi thường
khó có thể xảy ra
Việc phòng ngừa gian lận: một trong những nguyên tắc quan trọng trong
công ty bảo hiểm là thực hiện những cuộc điều tra ngăn ngừa gian lận, để chỉ
những người có khiếu nại có căn cứ mới được nhận bồi thường
Hủy bỏ bảo hiểm: các công ty bảo hiểm có thể kiềm chế rủi ro đạo đức
nếu họ đe dọa hủy bỏ một hợp đồng khi khách hàng được bảo hiểm có những
hành động mà dễ có khiếu nại đòi bồi thường.
Khoản khấu trừ: là một khoản tiền cố định được khấu bớt từ tổn thất của
người được bảo hiểm khi được thanh toán
Đồng bảo hiểm: khi một người được bảo hiểm cùng gánh chịu một tỉ lệ
tổn thất với công ty bảo hiểm, sự dàn xếp như thế được gọi là đồng bảo hiểm,
có tác dụng làm giảm rủi ro đạo đức.
Những giới hạn của số tiền bảo hiểm: các công ty bảo hiểm phải luôn
đảm bảo rằng tiền bảo hiểm của họ không cao đến mức để rủi ro đạo đức dẫn
đến đến những tổn thất lớn.
b, Công ty tài chính:
Hoạt động bằng cách thu vốn từ phát hành thương phiếu hoặc cổ phiếu
và trái khoán…, rồi sau đó dùng số tiền thu được này để cho vay, đặc biệt
thích hợp với các nhu cầu của các doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hay nói
cách khác, các công ty tài chính huy động vốn bằng vay những khoản tiền lớn
nhưng lại thường cho vay những khoản nhỏ. Quá trình này hoàn toàn khác với
quá trình của ngân hàng thương mại. Một đặc điểm then chốt của công ty tài
chính so với ngân hàng thương mại và các tổ chức tiết kiệm ở chỗ là họ gần
như không bị điều hành. Việc không có các hạn chế giúp cho các công ty tài
chính có thể làm phù hợp các món cho vay của họ với những nhu cầu của
khách hàng một cách tốt hơn. Có ba dạng công ty tài chính: công ty tài chính
bán hàng, công ty tài chính người tiêu dùng, công ty tài chính kinh doanh.
14
Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín
15
dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc
dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống ngân hàng là
quá trình ra đời hàng loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình
sở hữu khác nhau gồm Ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân
hàng liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước
ngoài, Hợp tác xã tín dụng, QTDND, công ty tài chính Trong thời gian này,
4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3)
Ngân hàng Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của
Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt
Nam không ngừng đổi mới và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách
của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên
niên kỷ mới. Những dấu ấn dưới đây liên quan trực tiếp và thúc đẩy quá trình
đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
Năm 1993: Bình thường hoá các mối quan hệ với các tổ chức tài chính
tiền tệ quốc tế (IMF, WB, ADB)
Năm 1995: Quốc hội thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu đối với
hoạt động ngân hàng; thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo.
Năm 1997: Quốc hội khoá X thông qua Luật ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Luật các tổ chức tín dụng (ngày 2/12/1997) và có hiệu lực thi hành từ
1/10/1998; Thành lập Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng Sông cửu long
(Quyết định số 769/TTg, ngày 18/9/1997).
Năm 1999: Thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (ngày 9/11/1999).
Năm 2000: Cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMNN và cơ
cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTMCP.
Năm 2002: Tự do hoá lãi suất cho vay VND của các tổ chức tín dụng -
Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, đời sống.
Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
d. Xét duyệt cho vay, kiểm tra và xử lý
d1, Ngân hàng được quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng
minh phương án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính của mình và của
17
người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; có quyền chấm dứt việc cho
vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khác hàng cung cấp thông tin sai sự
thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
d2, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng
vay, tài sản của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thu
hồi nợ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của
các tổ chức tín dụng; khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng và
người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh
theo quy định của pháp luật.
d3, Ngân hàng được miễn, giảm lãi suất cho vay, phí ngân hàng; gia hạn
nợ; mua bán nợ theo quy định của NHNN.
đ, Bảo lãnh
Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ
chức tín dụng, cá nhân theo quy định của NHNN.
Ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực hiện bảo
lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà
người nhận bảo lãnh là tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định của NHNN.
e, Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác
Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và
các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành. Người
Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép .
Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
h2, Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống
thanh toán liên ngân hàng trong nước. Tham gia các hệ thống thanh toán quốc
tế khi được NHNN cho phép.
i, Các hoạt động khác
Ngân hàng thực hiện các hoạt động khác sau đây:
i1, Dùng Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh
nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
i2, Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín
dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt
19
động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
i3, Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN.
i4, Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị
trường quốc tế khi được NHNN cho phép.
i5, Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên
quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đại lý.
i6, Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc
liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
i7, Cung ứng các dịch vụ:
Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các công ty
trực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật
Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận
cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của luật pháp.
i8, Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh
doanh có liên quan tới hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
hàng Nhà nước;
b, Phát hành chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá;
c, Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước ;
d, Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước;
đ, Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn;
e, Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, giấy tờ có giá;
g, Bảo lãnh ngân hàng;
h, Kinh doanh ngoại hối;
f, Thực hiện dịch vụ thanh toán và dịch vụ ngân quỹ;
i, Mở tài khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước;
k, Đại lý chi trả thẻ tín dụng;
l, Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ;
m, Thực hiện các dịch vụ uỷ thác và quản lý tài sản;
n, Thực hiện các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ.
Nội dung hoạt động cụ thể của từng chi nhánh Ngân hàng nước ngoài
được quy định trong Giấy phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Khi có nhu cầu và được Ngân hàng Nhà nước cho phép, chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài được phép thực hiện các nghiệp vụ khác phù hợp với pháp
21
luật liên quan của Việt Nam.
1.2.4. Nội dung hoạt động chính của các công ty tài chính:
a, Công ty tài chính được huy động vốn từ các nguồn:
Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước;
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có
giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo
quy định của pháp luật hiện hành;
Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong, ngoài nước và các tổ chức tài
chính quốc tế;
nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của
Ngân hàng Nhà nước.
Dịch vụ ngân quỹ: Công ty tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát
tiền mặt cho khách hàng.
h, Công ty tài chính được thực hiện các hoạt động khác sau đây:
Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
khác;
Đầu tư cho các dự án theo hợp đồng;
Tham gia thị trường tiền tệ;
Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng;
Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho
các doanh nghiệp;
Được quyền nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư
của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng;
Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư cho
khách hàng
Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két,
cầm đồ và các dịch vụ khác.
i. Công ty tài chính được thực hiện các nghiệp vụ dưới đây sau khi được
Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cho phép:
Hoạt động ngoại hối;
Hoạt động bao thanh toán;
Các hoạt động khác.
23
1.2.5. Nội dung hoạt động chính của các công ty cho thuê tài chính
a, Công ty cho thuê tài chính được phép huy động vốn từ các nguồn:
Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của các tổ chức, cá nhân.
Vay vốn ngắn, trung và dài hạn của các TCTD trong và ngoài nước.
Phát hành các loại giấy tờ có giá (có kỳ hạn trên một năm khi được