ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----o0o----
LÊ MINH KHÁNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ CỦA CÁC TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ
THUỘC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-----o0o----
LÊ MINH KHÁNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ CỦA CÁC TỔ CHỨC, ĐƠN VỊ
THUỘC GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM THỊ HỒNG ĐIỆP
quan tâm động viên của gia đình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã giúp đỡ tôi, các tác
giả mà tôi đã tham khảo, trích dẫn những nghiên cứu, tư liệu của họ, cũng như
sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế, các thành
viên trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp. Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ
bảo tận tình không thể thiếu của giáo viên hướng dẫn khoa học là PGS.TS.
Phạm Thị Hồng Điệp.
Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu bao gồm nhiều nội dung, thời gian nghiên
cứu hạn hẹp cùng với những hạn chế về năng lực bản thân cũng như tài liệu
tham khảo, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định trong luận văn.
Vì vậy, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp các thầy cô giáo và bạn
bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn./.
MỤC LỤC
Trang:
Danh mục hình
i
MỞ ĐẦU
01
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và
05
thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của các
tổ chức tôn giáo
một số quốc gia, vùng lãnh thổ và bài học cho Việt Nam.
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động
37
kinh tế của Phật giáo ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
45
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
48
2.1. Phương pháp luận
48
2.2. Các phương pháp cụ thể
48
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
48
2.2.2. Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu
50
71
3.2.2. Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật liên
74
quan đến quản lý các hoạt động kinh tế của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam.
3.2.3. Giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với hoạt động
79
kinh tế Phật giáo của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội
Phật giáo Việt Nam
3.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
80
tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam
3.3.1. Những mặt đạt được
80
3.3.2. Những mặt còn hạn chế
81
3.3.3. Nguyên nhân
động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo
Việt Nam
4.3.1. Về định hướng, quy hoạch, tạo hành lang pháp lý
94
4.3.2. Về tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật liên
96
quan đến quản lý các hoạt động kinh tế của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam
4.3.3. Về giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với hoạt
98
động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật
giáo Việt Nam.
KẾT LUẬN
101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
103
DANH MỤC HÌNH
nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước. Hiện nay, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam là một tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt
Nam trong quan hệ đối nội và đối ngoại và điều hành các hoạt động Phật giáo
trong cả nước, hoạt động theo phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ
nghĩa xã hội”. Tiếp nối truyền thống của Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam luôn khẳng định được sự đồng hành cùng dân tộc, trong quá
trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Kinh tế và tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng là hai lĩnh vực xã hội
khác nhau, nhưng chúng có quan hệ tương tác lẫn nhau: các hoạt động kinh tế
tạo cho Phật giáo có những cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động của
mình, ngược lại Phật giáo cũng giúp cho kinh tế phát triển lành mạnh, ổn định
(tác động về đạo đức kinh doanh, môi trường trong sản xuất kinh doanh….).
Ở Việt Nam, tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng là lĩnh vực nhạy
cảm, thường được các thế lực xấu ở trong và ngoài nước khai thác, lợi dụng
để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Vậy, khi Phật giáo thông qua các tổ chức,
đơn vị trực thuộc tham gia vào các hoạt động kinh tế thì nhà nước sẽ quản lý
1
như thế nào? Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu rõ về quản lý nhà
nước đối với hoạt động kinh tế của các tổ chức tôn giáo nói chung và Giáo hội
Phật giáo nói riêng, trong khi thực tế Giáo hội Phật giáo Việt Nam thông qua
các tổ chức, đơn vị trực thuộc đã có hoạt động kinh tế để tạo nguồn thu phục
vụ cho hoạt động của mình như: thành lập các trung tâm ngoại ngữ, thành lập
công ty, hoạt động kinh tế chùa… Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà
nước đối với hoạt động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật
giáo Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của
Đảng ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn
giáo. Đây là Nghị quyết đầu tiên công khai về công tác tôn giáo của Đảng ta)
đến năm 2014.
+ Các hoạt động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật
giáo Việt Nam có đem lại nguồn thu.
4. Đóng góp mới của Luận văn
- Góp phần làm rõ tình hình hoạt động kinh tế và quản lý nhà nước đối
với hoạt động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, góp phần giúp
cơ quan chức năng quản lý tốt hơn hoạt động này của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam và thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về
Công tác tôn giáo.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được chia
thành 04 chương và 11 tiết.
3
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của các tổ chức tôn giáo.
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế của
các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với hoạt động kinh tế của các tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.
5
- Viện Nghiên cứu Tôn giáo, 2008. Phật giáo với văn hóa - xã hội Việt
Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học
xã hội. Trong cuốn sách này mới chỉ có một số bài viết về mối quan hệ của
Phật giáo đối với kinh tế.
- Thích Tâm Đức, 2008. Kinh tế Phật giáo giải pháp toàn diện: Phật
giáo nhập thế và phát triển. Hà Nội: Nhà xuất bản Tôn giáo. Bài viết này mới
chỉ nêu được một phần vai trò của Phật giáo trong kinh tế và những cảnh báo
của Đức Phật trong hoạt động kinh tế của Phật giáo.
- Nguyên Cẩn, 2008. Vai trò của Phật giáo trong việc xây dựng một nền
kinh tế nhân bản Việt Nam: Phật giáo nhập thế và phát triển. Hà Nội: Nhà
xuất bản Tôn giáo. Bài viết này mới nêu sơ qua được những vấn đề xây dựng
kinh tế nhân bản ở Việt Nam và Phật giáo có thể đóng góp được gì cho tính
nhân bản của nền kinh tế.
-
Minh
Chi,
Đạo
2000.
Phật
và
cũng ý thức được sự chi phối của kinh tế đối với đời sống xã hội con người và
việc sử dụng vật chất (kinh tế) chỉ là phương tiện phục vụ đời sống xã hội,
chứ không phải nô lệ hoá con người, biến chúng ta thành những môn đồ chủ
nghĩa vật chất. Như vậy, giáo dục về kinh tế xã hội là một đề tài quan trọng đã
được Phật giáo quan tâm từ lâu.
- Peter Harvey, 2000. Đạo đức kinh tế theo quan điểm Phật giáo
(Chương 5 trong tác phẩm An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations,
Values and Issues; trang 187-238). Dịch từ tiếng Anh. Người dịch Đỗ Kim
Thêm, 2008 < Website Hoalinhthoai.com © 2008 – 2014>. Ở đây, tác giả đưa
ra có triết lý của Phật giáo như: từ, bi, hỷ, xả… áp dụng trong hoạt động kinh
tế sẽ có tác dụng để các hoạt động kinh tế phát triển bền vững.
- Thích Quang Thạnh, 2008. Hoằng pháp trong thời hội nhập, một
phương diện kinh tế: Phật giáo nhập thế và phát triển. Hà Nội: Nhà xuất bản
Tôn giáo. Bài viết này, tác giả mới chỉ nêu ra được mối quan hệ giữa Hoằng
pháp (một chức năng truyền đạo của Phật giáo) với vấn đề tài chính để thực
hiện việc hoằng pháp.
7
- Ngô Hữu Thảo, 2015. Phát huy những giá trị văn hóa Phật giáo trong
lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Công tác tôn giáo, số 1 + 2.
Bài viết này đề cập đến một số nội dung cơ bản của “Kinh tế học Phật giáo”
theo quan điểm của GS,TS.S.R.Batt, Phân khoa Triết học, Đại học Delhi, Ấn
Độ và kinh sách Phật giáo cho thấy có nhiều giá trị của Phật giáo có thể vận
dụng trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy cho sự tiến bộ của kinh tế ở nhiều
góc độ khác nhau, như: chọn nghề nghiệp, tăng trưởng kinh tế phải là một sự
cân bằng giữa tiêu thụ vật chất và phát triển tinh thần… Từ đó, nhìn lại Việt
Nam thì Kinh tế học Phật giáo mới đang còn mới mẻ, mặc dù một số phật tử,
doanh nghiệp đã bước đầu có sự vận dụng, định hướng trong sản xuất, kinh
của các tổ chức tôn giáo
1.2.1. Những vấn đề chung về hoạt động kinh tế của các tổ chức tôn
giáo
1.2.1.1. Một số khái niệm liên quan
a. Hoạt động kinh tế của tổ chức tôn giáo
“Kinh tế là một phạm trù chỉ quan hệ giữa người và người trong quá
trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, dựa trên sở hữu và lợi ích kinh tế chi
phối. Phạm trù này chứa đựng các khía cạnh hoạt động kinh tế tiết kiệm và
hiệu quả, dựa trên sự so sánh các yếu tố đầu và và đầu ra, các lĩnh vực sản
xuất, phân phối lưu thông và tiêu dùng của cả. Kinh tế là mặt xã hội của sản
xuất nên nó có tính giai cấp, tính chính trị, tính hiệu quả và tính tăng trưởng
bền vững” (Phan Huy Đường, 2015, trang 64).
“Hoạt động kinh tế là hoạt động sản xuất, kinh doanh của con người
nhằm tìm kiếm lợi ích kinh tế của mình. Nếu là một khái niệm chỉ mối liên hệ
xã hội của con người trong quá trình tái sản xuất xã hội dựa trên sở hữu và lợi
ích kinh tế thì hoạt động kinh tế là khái niệm chỉ rõ hoạt động của con người,
của các chủ thể kinh tế nhằm nhằm đạt được lợi ích kinh tế.
9
Hoạt động kinh tế là hoạt động cơ bản bao quát rất rộng, nó gắn chặt
với hoạt động sinh tồn nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con
người ngày càng tăng cao, là hoạt động vì lợi ích của con người, bảo đảm cho
con người ngày càng phát triển toàn diện, thực sự tự do, hạnh phúc và giàu có.
Nó có tính đặc thù riêng khác với hoạt động chính trị, xã hội…” (Phan Huy
Đường, 2015, trang 64, 67).
Vấn đề Kinh tế tôn giáo vẫn là điều còn mới mẻ, kể cả trong một số tôn
giáo, trong đó có Phật giáo. Bởi từ lâu phần đông mọi người trong xã hội đều
nghĩ rằng: tôn giáo tiêu biểu cho tinh thần tín ngưỡng mang tính thiêng liêng
cách tiếp cận đối với kinh tế học này không dựa trên lý thuyết và mô hình mà
dựa trên sức mạnh của sự cảm quan, sự thấu hiểu và sự kiềm chế.
Trong thực tế, sự tham gia hoạt động kinh tế của các tổ chức tôn giáo
thuộc một số tôn giáo để tạo nguồn thu bằng nhiều cách như: góp vốn vào các
công ty, cho thuê nhà ở, trụ sở làm việc, bãi đỗ xe, nhà máy, mua cổ phiếu,
thành lập các công ty... đã có ở nhiều nước, như:
+ Ở Hoa Kỳ: một số tổ chức tôn giáo thuộc một số tôn giáo như Công
giáo, Tin lành, Do Thái giáo, cũng như một số tổ chức tôn giáo mới đã dùng
nguồn tài chính có được để mua cổ phiếu, thuê nhà ở, trụ sở làm việc, bãi đỗ
xe, nhà máy, sở hữu một số công ty lớn…
“Nguồn tài chính quan trọng nhất của các tổ chức tôn giáo là tiền lạc
quyên... Có trong tay số tiền lớn như vậy, các nhà hoạt động tôn giáo không
chỉ dùng chúng để chi cho bộ máy của Giáo hội, xây dựng nhà thờ và các
công trình liên quan, trả lương giảng viên trong các trường của Giáo hội, mà
còn dùng để mua cổ phiếu của ngân hàng, của các xí nghiệp công nghiệp, của
các hãng bảo hiểm. Doanh lợi thu được từ các hoạt động tài chính này là
không nhỏ. Tiền lạc quyên không phải nguồn thu tài chính duy nhất của các
giáo hội. Họ còn các nguồn thu khác như tiền cho thuê nhà ở, trụ sở làm việc,
bãi đỗ xe, nhà máy, cổ phiếu. Ví dụ, Giáo hội ở Ohio sở hữu cả một trung tâm
11
thương mại, một hãng điện tử, một công ty sản xuất dây thép và lưới thép”
(Nguyễn Văn Dũng, 2009. Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 02, trang 41).
+ Ở Italia: Các nhà thờ của Công giáo đều cho cho thuê đất, thuê bất
động sản… để tạo nguồn thu.
Đặc biệt Vatican (Công giáo) được coi là một trong những thế lực kinh
tế lớn ở Châu Âu, có nguồn tài chính khổng lồ thu được từ từ các công ty tư
bản ở các nước Âu, Mỹ mà Vatican có cổ phần. Ngoài ra, Vatican còn có lợi
nhà tu hành Phật giáo làm kinh tế, làm lao động nhưng không tách rời thanh
quy nhà chùa, không lao theo thế sự không để tiền tình danh lợi chi phối.
Đến cuối thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, xã hội tiến lên một tầm cao mới công nghiệp, công nghệ khoa học điện tử. Phật giáo tại các nước giàu có như:
Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc), Anh, Pháp, Đức, Mỹ… đã có những bước
chuyển mình thích nghi với xu hướng tiến bộ của xã hội. Các tổ chức Phật
giáo cũng hình thành những công ty kinh doanh để tạo nguồn kinh phí hỗ trợ
các hoạt động của Giáo hội, nhất là những hoạt động từ thiện và hỗ trợ phát
triển hoằng pháp đưa đạo vào đời. Bên cạnh đó, một số cơ sở Phật giáo cũng
bắt đầu đổi hình thức tự cúng dường theo tâm của mỗi người khi tham gia các
hoạt động tâm linh, như: dâng sao, giải hạn, thuyết giảng… bằng hình thức có
thu tiền theo một mức nhất định thông qua các hoạt động tâm linh này.
Từ những vấn đề trên, trong luận văn này, thuật ngữ hoạt động kinh tế
của tổ chức tôn giáo được hiểu là những hoạt động kinh doanh, sản xuất đem
lại nguồn thu cho tổ chức tôn giáo hoặc những hoạt động mang tính tâm linh
có thu tiền của một số tổ chức tôn giáo.
b. Tổ chức, đơn vị thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Khái niệm “Tổ chức” được nhiều ngành khoa học sử dụng với ý nghĩa
không giống nhau, ngay cả trong những chuyên ngành khoa học có giao thoa
về đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Dưới góc độ khoa học quản lý, khái niệm
về “Tổ chức” có thể được hiểu theo một số chuyên ngành như sau:
13
- Theo lý thuyết quản trị công, để hình thành tổ chức phải có từ hai
người trở lên (điều kiện về chủ thể) và các hoạt động của họ được kết hợp với
nhau một cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể
và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể)
khi nhận thức về khái niệm tổ chức.
- Luật học (khoa học luật dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt
giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà
nước công nhận”. (Khoản 3, Điều 3 Pháp lệnh). Hiện, Việt Nam có 38 tổ chức
tôn giáo và một pháp môn tu hành được nhà nước cấp đăng ký hoạt động tôn
giáo và công nhận tổ chức tôn giáo, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
“Tổ chức tôn giáo cơ sở là đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo bao gồm
ban hộ tự hoặc ban quản trị chùa của đạo Phật, giáo xứ của đạo Công giáo, chi
hội của đạo Tin lành, họ đạo của đạo Cao đài, ban trị sự xã, phường, thị trấn
của Phật giáo Hoà hảo và đơn vị cơ sở của tổ chức tôn giáo khác” (Khoản 4,
Điều 3 Pháp lệnh).
“Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt
động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo
được Nhà nước công nhận” (Khoản 7, Điều 3 Pháp lệnh)
Theo quy định của Hiến chương sửa đổi lần V được thông qua tại Đại
hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VII (2012 - 2017) và đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam
vẫn có 03 cấp hành chính đạo:
- Cấp Trung ương: Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự Giáo hội
Phật giáo Việt Nam.
+ Hội đồng Chứng minh có Thường trực Hội đồng Chứng minh và có
thể thành lập Văn phòng.
+ Hội đồng Trị sự có Ban Thường trực, 02 văn phòng giúp việc và 13
ban, ngành, viện chuyên môn. Cụ thể: Văn phòng 1; Văn phòng 2; Ban Tăng
15
sự Trung ương; Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương; Ban Hướng dẫn Phật tử
Trung ương; Ban Hoằng pháp Trung ương; Ban Nghi lễ Trung ương; Ban
Văn hóa Trung ương; Ban Kinh tế Tài chính Trung ương; Ban Từ thiện Xã
hội Trung ương; Ban Phật giáo quốc tế Trung ương; Ban Pháp chế Trung
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các trường, lớp đào tạo chức sắc, nhà tu
hành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam”.
1.2.1.2. Vai trò của tôn giáo trong hoạt động kinh tế
a. Đạo đức kinh doanh
Theo quan niệm trong kinh doanh: “thương trường là chiến trường”,
“kinh doanh phải có lợi nhuận”, nơi diễn ra cuộc đấu tranh khốc liệt và không
khoan nhượng, đó là quy luật tất yếu trong hoạt động kinh doanh phải thực
hiện. Do đó, hầu hết các giới doanh nghiệp khi bước vào thương trường đều
phải tận dụng đầu óc tính toán, cạnh tranh, thủ đoạn và mưu mô của mình để
đánh đổ những đối thủ nhằm duy trì và phát triển việc kinh doanh của chính
mình trong xã hội.
Mặt khác, trong thời đại phát triển khoa học ngày nay, con người càng
trở lên bận rộn, mệt mỏi và chịu nhiều áp lực khi phải đối diện với những
thách thức, những trở ngại và những sự cạnh tranh tất yếu mà cuộc sống mang
lại. Họ phải đồng hành theo nhịp sống hiện đại của xã hội nhằm thỏa mãn nhu
cầu sống cho chính mình. Vì vậy, tư tưởng đạo đức con người ngày càng
xuống cấp trầm trọng trước cuộc sống văn minh, vật chất phức tạp.
Đa số các tôn giáo đề cao sự từ bi, đề cao lòng nhân ái, tình thương,
hướng con người đến những giá trị nhân bản, góp phần tích cực vào việc hoàn
thiện đạo đức cá nhân, như: mục đích của Phật giáo là nhằm đem lại lợi ích,
làm giảm khổ đau và mang lại sự bình an nội tâm cho con người, với giáo lý
“Nhân quả và nghiệp báo”, lời răn dạy trong kinh Phật là phải "Sống lương
thiện"; Công giáo có mười điều răn của Thiên chúa… Do đó, những giáo lý,
luật lễ của tôn giáo sẽ có tác dụng hướng dẫn cho cách ứng xử của các doanh
17