tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của nhtm nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô - Pdf 23

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN


TRầN ĐứC TOảN
TĂNG CƯờNG QUảN Lý NHà NƯớC
ĐốI VớI HOạT ĐộNG KINH DOANH CủA NHTM
NHằM KIềM CHế LạM PHáT, ổN ĐịNH KINH Tế Vĩ MÔ
Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYễN THANH Hà
Hµ néi, n¨m 2011
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
trong đó có sự hỗ trợ của thầy hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Thanh Hà
và những người tôi đã cảm ơn trong luận văn này.
Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực
và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào.
Nam Định, ngày 25 tháng 12 năm 2011
Tác giả
Trần Đức Toản
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy PGS.TS
Nguyễn Thanh Hà – Trưởng phòng Tổng hợp trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã
tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
thạc sỹ.
Xin phép cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô thuộc
Khoa Kế hoạch và Phát triển; quý thầy, cô thuộc Viện Đào tạo sau đại học và các
bạn học viên lớp Cao học Kinh tế phát triển 18L (khóa 2009-2011) trường Đại học
Kinh tế Quốc dân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi suốt thời gian học vừa qua.

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1: Doanh số cho vay của các NH chia theo một số tiêu thức Error:
Reference source not found
Bảng 2.2: Nguồn vốn và dư nợ thời điểm 31/12/2010, số liệu của 1 số NHTM
Error: Reference source not found
Bảng 3.1: Mẫu báo cáo cho vay ngoại tệ (tháng /2011) Error: Reference
source not found
Bảng 3.3: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND áp dụng theo QĐ
379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 (áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 3/2009), tỷ
lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng USD áp dụng theo QĐ
1925/QĐ-NHNN ngày 26/8/2011(áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 9/2011)
Error: Reference source not found
HÌNH VẼ
1.2 Quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của NHTM trong kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế 15
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam 29
PHẦN PHỤ LỤC 90
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN


TRầN ĐứC TOảN
TĂNG CƯờNG QUảN Lý NHà NƯớC
ĐốI VớI HOạT ĐộNG KINH DOANH CủA NHTM
NHằM KIềM CHế LạM PHáT, ổN ĐịNH KINH Tế Vĩ MÔ
Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN
Hµ néi, n¨m 2011
ii
LỜI MỞ ĐẦU
Được kế thừa từ hệ thống Ngân hàng Đông Dương thời Pháp tuy nhiên

tế vĩ mô
Hoạt động của NHTM giữa vai trò quan trọng chính sách tiền tệ của Nhà
nước với các công cụ điều tiết kinh tế chính, NHTM có chức năng rất quan
trọng là chức năng tạo tiền, với nhân tố ảnh hưởng tới mức cung tiền của hệ
thống NHTM nói chung là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Thông qua 2 chức năng tín
dụng và chức năng thanh toán, NHTM giúp cho hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt trở nên phổ biến và tạo ra lượng tiền thực tế gấp nhiều lần
lượng tiền do quốc gia đó in ra và lưu hành trên thị trường. Với một nền kinh
tế mà tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào tín dụng như Việt Nam hiện nay thì
các hoạt động kinh doanh của các NHTM tác động rất lớn tới hiệu quả của
các chính sách điều chỉnh kinh tế của Nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp tới sự
phát triển ổn định của kinh tế Việt Nam.
1.2 Quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
Quản lý của Nhà nước với hoạt động kinh doanh của NHTM là sự can thiệp,
điều hành vào các hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm đạt được mục tiêu kinh
tế đã đặt ra. Các công cụ quản lý của Nhà nước đối với NHTM bao gồm:
-Công cụ luật chính sách, hiện nay Luật các tổ chức tín dụng
47/2010/QĐ12 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2011 là văn bản luật cao nhất, ngoài ra các Bộ, cơ quan ngang bộ
dưới sự điều hành của Nhà nước ban hành các văn bản quy định riêng trong
lĩnh vực của mình để ràng buộc hoạt động kinh doanh của NH.
-Công cụ kiểm soát giám soát hoạt động kinh doanh của các NHTM bằng hệ
thống các báo cáo tín dụng, dịch vụ, hoạt động thanh tra giám sát của các cơ quan
có thẩm quyền của NHNN, thanh tra chính phủ và giám sát chéo giữa các NH
-Các công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nước đối với hoạt động kinh
ii
doanh của các NHTM: công cụ tái cấp vốn, công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
nghiệp vụ thị trường mở, công cụ lãi suất chiết khấu, công cụ hạn mức tín
dụng, công cụ tỷ giá hối đoái.

lượng các sản phẩm dịch vụ tín dụng theo kịp thông lệ Quốc tế.
Về ngoại hối hoạt động mua bán, cho vay ngoại tệ của các NHTM đã
giúp hỗ trợ các Doanh nghiệp trong nước thuận tiện và chủ động trong việc
giao dịch thanh toán với các đối tác nước ngoài, thúc đẩy việc xuất nhập khẩu
phát triển. Các NHTM Việt nam đã liên kết với nhiều tổ chức cung cấp dịch
vụ chuyển tiền nhanh toàn cầu giúp cho việc chuyển tiền thanh toán nhanh
chóng kịp thời, chi phí thấp.
Cùng với sự phát triển kinh tế Việt Nam, các NHTM là nguồn cung cấp
vốn, các sản phẩm bảo lãnh hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là
công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, thúc đẩy quá trình tích tụ, tập
trung vốn và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Với thực tế của Việt nam
hiện nay các Doanh nghiệp hầu hết đều là các DN vừa và nhỏ, vốn ít hoạt động
chủ yếu nhờ nguồn vốn chiếm dụng từ thương mại và vốn vay Ngân hàng thì
sự hỗ trợ tài chính từ các NHTM như hiện nay là điều hết sức cần thiết.
Tuy nhiên hoạt động kinh doanh của các NHTM vẫn theo tâm lý số
đông, chưa có chiến lược lâu dài, dễ dàng bị cuốn vào vòng xoáy đầu tư vào
các ngành nghề nóng trong khi khả năng thẩm định rủi ro còn nhiều hạn chế
(Tiêu biểu là các lĩnh vực đầu tư cho vay BĐS, chứng khoán). Thông tin trao
đổi giữa các NHTM còn nhiều hạn chế hoặc không có sự hợp tác.
Sự bùng nổ số lượng các NHTM ở Việt Nam trong những năm gần đây
cũng đi kèm theo hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng không
nhỏ tới sự ổn định của thị trường tài chính và hiệu quả của các chính sách
quản lý kinh tế của Nhà nước.
2.2 Đánh giá các thực trạng và tác động của quản lý Nhà nước với các
hoạt động của các NHTM ở Việt Nam hiện nay trong nhiệm vụ chống
lạm phát, ổn định kinh tế
2.2.1. Đánh giá thực trạng hoạt kinh doanh của NHTM ở Việt nam hiện nay
2.2.1.1 Các thành tựu đạt được các năm gần đây của NHTM
Trong các năm gần đây hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã không ngừng
iv

về nghiệp vụ, hạn chế về chuyên môn
v
- Hạn chế trong nghiệp vụ thẩm định rủi ro: tỷ lệ nợ xấu của các Ngân
hàng Thương mại Nhà nước cao với các NHTM cổ phần, như Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỷ lệ nợ xấu là 6.67%, Ngân hàng
Vietinbank là 3.47 trong khi các NHTM cổ phần khác tỷ lệ nợ xấu chỉ khoảng
từ 2,9%, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành là 3.04%. Tỷ lệ nợ xấu tập trung phần lớn tại
2 thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
- Thiếu sự hợp tác giữa các NH, giữa các NH với cơ quan hữu quan
(Sở tài nguyên, sở tư pháp, cơ quan Công an, Toà án, Trung tâm bán đấu giá
tài sản, trung tâm định giá tài sản…) Các NH chưa có sự gắn kết trong hoạt
động và thường xảy ra tình trạng che dấu thông tin khách hàng. Về hoạt động
tín dụng huy động vốn, thường xuyên xảy ra tình trạng có NH thừa vốn nhưng
không đẩy tín dụng ra được vì hạn chế trần tăng trưởng tín dụng 20% trong
khi có Ngân hàng cho vay vượt quá vốn huy động và buộc phải dừng hoặc
huy động tiền từ thị trường 2 đẩy sang thị trường 1, điều này là trái pháp luật.
- Khung pháp luật chưa đầy đủ cả về quy định hoạt động lẫn sự hỗ trợ
trong quá trình hoạt động do đó phát sinh nhiều vấn đề trong hoạt động Ngân
hàng
Các hoạt động kinh doanh của NHTM ảnh hưởng tới nền kinh tế
- Tha hoá đạo đức, ảnh hưởng tới cạnh tranh lành mạnh, mặt khác gây
ra tiêu cực lớn cho xã hội và thiệt hại cho ngành. Sự bùng nổ nhanh chóng về
quy mô của các NHTM gần đây gắn liền với sự gia tăng các nguy cơ về rủi ro
tác nghiệp với các vi phạm về đạo đức của CB NH.
- Thiếu tính chuyên nghiệp, kinh doanh tự phát: đó là cạnh tranh lãi
suất, Kinh doanh ngoại tệ tự phát làm thị trường ngoại tệ náo động, gây sức
ép cho quản lý ngoại hối, đầu tư theo thị hiếu số đông, thiếu tầm nhìn vĩ mô
(Tiêu biểu như ngành đóng tàu, BĐS v.v )
2.2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước với hoạt động của các NHTM nhằm
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

quyết các biến động kinh tế.
- Hệ thống kiểm tra giám sát chưa hoàn thiện, thừa số lượng nhưng hạn
chế về chất lượng.
- Quy định, luật pháp chưa rõ ràng, đầy lỗ hổng
- Các NHTM thường là các tổ chức kinh tế lớn, có tiếng nói và có khả
vii
năng can thiệp vào các chính sách, chính vì vậy mà các chính sách, các cải
cách do Chính phủ đưa ra thường bị giảm hiệu lực (Đơn cử như việc lãi suất
đi đêm vượt 14% của các NHTM vừa qua hoặc tỷ trọng cho vay phi sản xuất
của nhiều NHTM vẫn đang vượt mức 20% và đến 31/12/2011 khó có thể đảm
bảo giới hạn)
- Mức độ phát triển của các NHTM về trình độ nghiệp vụ lẫn công
nghệ vẫn chậm phát triển so với khu vực và thế giới, do đó ở một mức độ nào
đó các NHTM chưa thể hỗ trợ Chính phủ trong việc thực thi các chính sách
để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTM TRONG VIỆC KIỀM CHẾ
LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ
3.1 Phương hướng nâng cao vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế vĩ mô
Nâng cao vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế vĩ mô thực tế là nâng
cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu
kinh tế đặt ra với các mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn.
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI diễn
ra vào tháng 10 năm 2011 đã nhất trí cao về định hướng các giải pháp chủ yếu
mà cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức
thực hiện, tạo sự chuyển biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng,
cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Hội
nghị Trung ương lần này đã xem xét và quyết định là phải tái cơ cấu nền kinh
tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đây là nhiệm vụ rất lớn và phức tạp,
đòi hỏi phải được triển khai thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, các lĩnh

kinh doanh của các NHTM với các mục tiêu đặt ra
Các nhóm giải pháp được tác giả trình bày vào 3 nhóm, trong đó quan
trọng nhất là nhóm giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về luật và chính
sách, cùng với các biện pháp giám sát, cơ chế kiểm tra thưởng phạt.
Nhóm giải pháp sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế được đưa ra với
mục đích hỗ trợ, là biện pháp kỹ thuật tác động tới lượng cung tiền mặt trong
lưu thông và cuối cùng là tác động tới chỉ số lạm phát.
3.2.1 Nhóm giải pháp về luật và chính sách
Về vấn đề tăng trưởng tín dụng của các NHTM
ix
Trong thời điểm hiện nay thì cần hạn chế tín dụng phi sản xuất để ưu
tiên cho các ngành SX tạo ra của cải nhưng về lâu dài khi nền kinh tế phát
triển ổn định, thì tín dụng phi sản xuất vẫn cần phát triển để kích thích cho
nền kinh tế phát triển, nâng cao chất lượng đời sống của người dân.
Vấn đề tăng trưởng tín dụng cần hạn chế tăng trưởng tín dụng quá nóng
ở một số ngành trong khi bỏ qua các ngành nông nghiệp, các khu vực kinh tế
kém phát triển (khu vực nông thôn, miền núi, khu vực có tầm chiến lược quốc
phòng v.v ) tức là cần vạch ra rõ sự cần thiết với các NHTM trong việc đầu
tư vào các các ngành, các khu vực kinh tế chiến lược về an ninh chính trị, ổn
định và duy trì công bằng xã hội về lâu dài.
Vấn đề tăng trưởng tín dụng cần gắn với kế hoạch chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế của Chính phủ hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Đó là ưu tiên tăng
trưởng các các ngành Công nghiệp xanh, phát triển nông nghiệp theo hướng
hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Cần có các quy định chặt chẽ hơn nữa trong vấn đề thẩm định rủi ro tín
dụng và rủi ro thanh khoản, khi các Ngân hàng đã tăng cường chất lượng tín
dụng đương nhiên vấn đề tăng trưởng tín dụng Nhà nước sẽ không cần quản
lý quá chặn chẽ.
Về vấn đề quản lý thị trường vàng thông qua các NHTM
Các giải pháp quản lý thị trường vàng thông qua các Ngân hàng thương

+ Tiếp tục mở rộng và quản lý chặt chẽ mạng lưới thu đổi ngoại tệ của
các Ngân hàng tránh việc tuồn ngoại tệ ra thị trường chợ đen
+ Đa dạng hóa cơ cấu dự trữ ngoại hối và tăng cường công tác quản trị
rủi ro tỷ giá và lãi suất.
+ Khuyến khích việc cho vay ngoại tệ đối với các ngành xuất siêu bằng
các biện pháp hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế v.v
+ Song hành với việc sử dụng công cụ tỷ giá làm công cụ hỗ trợ xuất
khẩu, chúng ta vẫn phải chú trọng đến phát triển dựa vào năng suất lao động
hàm lượng chất xám trong sản phẩm và chất lượng sản phẩm làm nền tảng
của việc cạnh tranh xuất khẩu, đó mới thực sự là yếu tố phát triển bền vững.
+ Các Ngân hàng cần ấn định tỷ giá mua, bán của đồng Việt Nam đối
với đô la Mỹ theo đúng quy định Ngân hàng Nhà nước trong hệ thống của tổ
chức tín dụng; chủ động hoàn thiện quy định nội bộ và áp dụng các biện pháp
xi
phòng ngừa rủi ro cần thiết trong kinh doanh ngoại tệ.
Đến vấn đề quản lý tín dụng bất động sản
Với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế nhất là thời điểm hiện
nay Chính phủ cần thắt chặt hơn nữa việc cho vay lĩnh vực BDS, yêu cầu cân
nhắc trong xét duyệt mức giải ngân các dự án BĐS. Có thể bắt buộc mức vốn
tự có trong các dự án cho vay BĐS của người vay lên từ 50 - 70% (Hiện nay
các Ngân hàng đang áp dụng mức vốn tự có của khách hàng trong các dự án
cho vay BĐS từ 20 - 30%). Song song với thắt chặt tín dụng BĐS là quản lý
các nguồn đầu tư vốn từ nước ngoài vào BĐS với nguồn để tránh việc giới
đầu tư nước ngoài trục lợi do thao túng BĐS. Khuyến khích dành các nguồn
lực này cho các lĩnh vực quan trọng khác.
Trong dài hạn, sau khi khủng hoảng kinh tế thế giới và trong nước kết thúc,
vấn đề quản lý tín dụng BĐS vẫn cần thắt chặt và giới hạn để tránh đầu cơ.
Về vấn đề khả năng thanh khoản của các NHTM,
Để giảm thiểu rủi ro thanh khoản, góp phần ổn định thị trường vốn trước
hết cần ổn định tâm lý của người gửi

+ Đình chỉ hoặc miễn nhiệm chức vụ của người quản lý, người điều
hành của TCTD.
Về phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh
kiểm tra giám sát hoạt động tài chính của các NHTM, Nhà nước cần:
- Gắn kết mục tiêu vĩ mô với mục tiêu thanh, kiểm tra giám sát hoạt
động của các NHTM, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra với cơ
quan thuế, với các cơ quan Chính phủ có liên quan.
- Nâng cao chất lượng nhân sự cả về đạo đức lẫn chuyên môn bộ máy
thanh tra, giám sát cần tinh giản.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tránh chồng chéo giữa các văn bản các
quy định.
3.2.3 Nhóm giải pháp sử dụng các công cụ điều tiết kinh tế
Về cơ bản, Nhà nước thực hiện công cụ tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, nghiệp vụ thị trường mở, công cụ hạn mức tín dụng, kể cả lãi suất chiết
khấu đều nhằm mục đích cuối thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông, dù là
ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp.
Về cơ bản Nhà nước cần quan tâm tới các giải pháp điều chỉnh
xiii
lượng cung tiền trong lưu thông:
Lượng cung tiền trong lưu thông phụ thuộc vào một hệ số rất quan
trọng đó là hệ số nhân tiền tệ (m), hầu hết các công cụ của chính sách tiền tệ
đều xoay quanh việc điều chỉnh hệ số này.
Trong trường hợp kinh tế diễn ra lạm phát, thiểu phát hay giảm phát,
Chính phủ sẽ tiến hành các biện pháp làm thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều
chỉnh lượng tiền cung ra trên thị trường (Điều chỉnh M) bằng các chính sách
chi tiêu công hoặc thay đổi vốn hoạt động cho các NHTM (Bằng các nghiệp
vụ thị trường mở, giới hạn hạn mức tín dụng hoạt động của các NH). Trên
thực tế, việc đề xuất các chính sách rất phức tạp và phải cân nhắc tới nhiều
khía cạnh do nó có thể gây ra nhiều phản ứng trái chiều.
• Với công cụ tái cấp vốn: Các NHTM hiện nay chủ yếu hoạt động hạch

Đây là công cụ hỗ trợ cho nghiệp vụ thị trường mở đã nêu ở trên. Bằng
công cụ này, NHTW điều tiết lượng tiền vay của các NHTM để đạt mục đích
quản lý lượng tiền cung ra thị trường thông qua thị trường mở.
Cần cân nhắc kỹ việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu kết hợp với việc điều
chỉnh giới hạn tín dụng của các Ngân hàng.
Nếu lãi suất chiết khấu thấp sẽ kích thích tăng trưởng tín dụng (Chi phí
vay vốn giảm) làm cung tiền trong lưu thông tăng, giảm lãi suất chiết khấu sẽ
là động thái tác động tới việc giảm lãi suất huy động và góp phần giảm lãi
suất cả cho vay, từ đó kích thích cho sản xuất. Vì vậy cần có giới hạn tín
dụng để hạn chế tăng trưởng tín dụng. Đây là biện pháp kết hợp giữa sử dụng
công cụ giới hạn tín dụng với công cụ lãi suất chiết khấu
Để giảm lãi suất huy động xuống thì Chính phủ phải thực hiện được
các yêu cầu sau:
+ Sử dụng các biện pháp chế tài để khống chế các trường hợp vượt rào
lãi suất
+ Có được sự đồng thuận của các tổ chức tín dụng, sự hợp tác của các tổ
chức kinh tế trong việc hạ lãi suất huy động vốn, sự đồng thuận này có được qua
sự nghiêm minh của luật pháp, các quy định phù hợp với lợi ích của NH.
+ Kiểm soát được thị trường vàng, thị trường ngoại hối, thị trường BĐS
và thị trường chứng khoán, tránh tình trạng đầu cơ trục lợi, đẩy giá là nguyên
nhân xâu xa làm nguồn vốn huy động bị hút vào.
xv
• Công cụ hạn mức tín dụng:
Với mục tiêu kiềm chế lạm phát hiện nay, Công cụ hạn mức tín dụng
cần được xây dựng cụ thể tới từng ngành, từng lĩnh vực ưu tiên trước hết vốn
tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, nông thôn, công
nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp xuất khẩu chủ lực.
Hạn chế tăng trưởng tín dụng các ngành phi sản xuất, các ngành công nghiệp
khai thác tài nguyên khoáng sản (Vì mục tiêu phát triển bền vững)
KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status