TÓM TẮT
Các loài cá bống họ Eleotridae ở vùng đồng bằng sông Cửu Long khá đa
dạng về thành phần loài và phong phú về sản lƣợng; trong đó, có một số loài có
giá trị kinh tế cao. Do đó, đề tài nghiên cứu về thành phần loài thuộc họ
Eleotridae và đặc điểm dinh dƣỡng, sinh sản của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) trên sông Hậu đã đƣợc
thực hiện từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 12 năm 2014. Đề tài đƣợc thực hiện
nhằm xây dựng cơ sở khoa học để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, định hƣớng nghiên
cứu sản xuất giống và phát triển thành đối tƣợng nuôi. Đề tài nghiên cứu gồm 4
nội dung: i) xác định một số chỉ tiêu sinh thái: nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy,
độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du và động vật đáy trên tuyến sông Hậu; ii)
xác định thành phần loài và mức độ phong phú của cá bống họ Eleotridae trên
tuyến sông Hậu; iii) nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng cá bống trứng (E.
melanosoma) và bống dừa (O. urophthalmus); và iv) nghiên cứu đặc điểm sinh
học sinh sản cá bống trứng (E. melanosoma) và bống dừa (O. urophthalmus).
Các yếu tố sinh thái đƣợc khảo sát ở đầu nguồn (An Giang), giữa nguồn
(Cần Thơ) và cuối nguồn (Sóc Trăng) trên tuyến sông Hậu, mỗi khu vực thu 5
điểm đại diện. Kết quả cho thấy pH ở giữa nguồn (mùa mƣa: 7,6; mùa khô: 7,8)
thấp hơn đầu nguồn (mùa mƣa: 7,9; mùa khô: 8,0) và cuối nguồn (mùa mƣa: 7,7;
mùa khô: 8,1). Nhiệt độ ít biến động ở ba khu vực (mùa mƣa: 29,1-29,6oC; mùa
khô: 29,4-30,9oC). Độ mặn chỉ ghi nhận đƣợc ở cuối nguồn, mùa mƣa (0-7,6‰)
thấp hơn mùa khô (2-10,8‰). Tốc độ dòng chảy mùa mƣa (0,5-1,1 km/giờ) cao
hơn mùa khô (0,4-0,6 km/giờ). Độ sâu đầu nguồn từ 4,3 đến 10,7 m, giữa nguồn
từ 6,2 đến 14,4 m và cuối nguồn từ 5,5 đến 10,0 m. Thực vật phù du ở đầu nguồn
có 31 loài, giữa nguồn có 22 loài, cuối nguồn là 15 loài. Động vật phù du đầu
nguồn có 33 loài, giữa nguồn là 35 loài, cuối nguồn có 68 loài. Động vật đáy đầu
nguồn có 17 loài, giữa nguồn 23 loài, cuối nguồn 17 loài.
Có 5 loài cá bống họ Eleotridae đƣợc xác định trên tuyến sông Hậu gồm:
cá bống trứng (Eleotris melanosoma Bleeker, 1853), bống dừa (Oxyeleotris
urophthalmus Bleeker, 1853), bống tƣợng (Oxyeleotris marmorata Bleeker,
dừa là hai loài có tiềm năng phát triển thành đối tƣợng nuôi vì mùa vụ sinh sản
của chúng khá dài và sức sinh sản cũng tƣơng đối cao.
Từ khoá: Eleotridae, Cá bống trứng, Cá bống dừa, Sinh thái, Đặc điểm sinh học.
xiii
ABSTRACT
Gobies of Eleotridae in the Mekong Delta are diverse and abundance, of
which there are several high commercal species. Therefore, a study on species
composition of Eleotridae and biological characteristics of Eleotris melanosoma
and Oxyeleotris urophthalmus on the Bassac river was conducted from August
2012 to December 2014. The study was carried out in order to update scientific
basis for fisheries resources management, artificial breeding and aquaculture
development. There are 4 contents in the study: i) to identify some ecological
parameters such as temperature, pH, salinity, currents, depth, phytoplankton,
zooplankton and zoobenthos; ii) to determine species composition and abundance
of Eleotridae; iii) to study on the nutritional characteristics of Eleotris
melanosoma and Oxyeleotris urophthalmus; iv) to study on reproductive biology
of E. melanosoma and O. urophthalmus.
The ecological parameters were measured in three locations of the Bassac
river such as An Giang Province (upstream), Can Tho City (midstream) and Soc
Trang Province (downstream), with 5 sampling sites in each location. Results
showed that pH in the midstream (rainy season: 7.6 and dry season: 7.8) is lower
than the upstream (rainy season: 7.9 and dry season: 8.0) and the downstream
(rainy season: 7.7 and dry season: 8.1). Temperature slightly different in the three
locations (rainy season: 29.1-29.6oC and dry season: 29.4-30.9oC). In
downstream, salinity fluctuated from 0 to 7.6 ‰ in rainy season, and from 2 to
10.8 ‰ in dry season. Water current in rainy season (0.5 to 1.1 km/h) was higher
than that in dry season (0.4-0.6 km/h). Water depth fluctuated from 4.3 to 10.7 m
season occurred from May to October with spawning peak from May to July.
Absolute fecundity of E. melanosoma ranged from 2,981 to 19,520 eggs/female
and O. urophthalmus from 1,290 to 9,999 eggs/female. Relative fecundity of E.
melanosoma and O. urophthalmus was from 49-930 and 44-77 eggs per gram of
female, respectively. Length at first maturity (Lm) of male and female E.
melanosoma were 8.62 cm and 7.79 cm, respectively; and those of O.
urophthalmus were 11.36 cm and 7.96 cm, respectively.
The results indicated that there are five species of Eleotridae in the Bassac
river, all of them are large size fish with high commercial value. The distribution
of those species was different and dependent on the salinity. E. melanosoma and
O. urophthalmus can be the new species for aquaculture because of their long
spawning season and high fecundity.
Key words: Eleotridae, Eleotris melanosoma, Oxyeleotris urophthalmus,
Ecology, Biological characteristics.
xv
CHƢƠNG 1:
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Sông MêKông đƣợc xem là khá đa dạng về thành phần loài thủy sinh vật
(Dudgeon et al., 2006, Allen et al., 2012), chúng không những đa dạng về loài mà
còn là nơi quan trọng cho khai thác thủy sản và an ninh lƣơng thực cho cả vùng
(Poulsen et al., 2004, Halls et al., 2013) với hơn 790 loài thủy sản nƣớc ngọt, 28
loài cá bản địa (Baran et al., 2012; Campbell, 2012) và là nơi tập trung nguồn lợi
thủy sản cao nhất Châu Á và đứng thứ 2 của thế giới sau sông Amazon và đƣợc
xem là một trong những hệ thống sông lớn và màu mỡ của thế giới, khu hệ cá ở
đây khá phong phú và đa dạng loài với khoảng 1.200 loài cá các loại, trong đó có
từ 50-100 loài đƣợc đánh bắt thƣờng xuyên (Sverdrup-Jensen, 2002), chúng sống
loài lớn nhất với 220 giống và 1.875 loài thuộc 5 họ (Eleotridae, Gobiidae,
Periophthalmidae, Apocrypteidae và Gobioididae) đã đƣợc các nƣớc trên thế giới
ghi nhận (Healey, 1971); trong đó họ Eleotridae có 31 giống, 178 loài (Froese and
Pauly, 2014). Tuy nhiên, ở lƣu vực sông MêKông, theo Rainboth (1996) có đến
34 giống và 101 loài thuộc 5 họ cá bống này. Ở Việt Nam trƣớc đây cũng có 5 họ
cá bống, riêng họ cá bống đen (Eleotridae) có 3 giống và 7 loài (Mai Đình Yên,
1992, Nguyễn Hữu Phụng, 1997 và Nguyễn Nhật Thi, 2000) và tƣơng tự với kết
quả nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv. (2013) cũng có 7 loài cá bống đen
phân bố ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm: Butis butis
Hamilton, 1822 (Larson, 2012), Butis humeralis Valenciennes, 1837 (Bailly,
2015), Butis koilomatodon Bleeker, 1849 (Bailly, 2015), Oxyeleotris marmorata
Bleeker, 1852 (Allen, 2011), Eleotris melanosoma Bleeker, 1853 (Bailly, 2015),
Oxyeleotris urophthalmus Bleeker, 1853 (Bailly, 2015) và Bostrychus scalaris
Larson, 2008 (Larson, 2008). Một số loài có giá trị kinh tế cao gồm cá bống
tƣợng, cá bống dừa và cá bống trứng thƣờng phân bố ở vùng nội địa và cửa sông
(Murdy, 1989), ở môi trƣờng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Chotkowski et al., 1999),
có nhiều loài cá bống đến đây đẻ trứng và hoàn thành vòng đời của chúng (Blaber
et al., 2000). Trong 7 loài cá bống đen hiện nay, chỉ có một loài cá bống tƣợng
2
đang là đối tƣợng đƣợc nuôi và đánh bắt quan trọng ở vùng ven Sông Hậu, hai
loài cá bống có giá trị kinh tế do thịt thơm, ngon và có sản lƣợng cao nhƣ cá bống
trứng và cá bống dừa (Bộ Thuỷ sản, 1996) chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều
và cũng có rất ít công trình nghiên cứu một cách đầy đủ về sự đa dạng loài và đặc
điểm sinh học của các loài cá bống họ Eleotridae.
Cho đến nay hiểu biết về thành phần loài, mức độ phong phú của các loài
cá họ Eleotridae phân bố ở vùng hạ lƣu sông MêKông, cũng nhƣ về đặc điểm
dinh dƣỡng và sinh học sinh sản của cá bống trứng và bống dừa chƣa có nhiều
(iii) Nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng của cá bống trứng (Eleotris melanosoma)
và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus).
(iv) Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus).
1.4 Thời gian thực hiện
Từ tháng 8/2012 đến tháng 12/2014.
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm bổ sung dẫn liệu khoa học về thành
phần loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống
kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu. Kết quả này là nguồn tƣ liệu phục vụ cho
công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, phục hồi và tái tạo
nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nhóm cá bống nói riêng.
1.6 Điểm mới của luận án
Luận án nghiên cứu thành phần loài cá họ Eleotridae và đặc điểm sinh học
của một số loài cá bống kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu, trong đó tập trung
nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng và sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus). Các điểm nổi bật từ kết
quả nghiên cứu này đƣợc thể hiện là:
(i)
Kết quả khảo sát một số yếu tố sinh thái cho thấy độ mặn có liên quan đến
sự phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae, đặc biệt là cá bống trứng (E.
4
melanosoma) và cá bống trân (B. butis). Mức độ phong phú tƣơng đối
(CPUE) của hai loài cá này biến động theo mùa và phụ thuộc vào sự đa
dạng các loài thuỷ sinh vật, tốc độ dòng chảy và độ sâu của nƣớc.
(ii) Có 5 loài cá bống thuộc họ Eleotridae đƣợc xác định phân bố trên tuyến
2.1 Thành phần loài cá bống họ Eleotridae
Cá bống đƣợc xem là loài cá phân bố rộng từ Đông đến Tây Phi, quần đảo
Nam Thái Bình Dƣơng và miền Bắc nƣớc Úc (Murdy, 1989). Mặc dù, một số loài
ít có giá trị kinh tế nhƣng chúng là một trong những loài chiếm ƣu thế ở các vùng
bãi bồi ven biển và góp phần vào sự đa dạng loài đối với những vùng đất ngập
nƣớc ven biển ở các nƣớc nhiệt đới (Taki, 1974). Ngoài ra, các loài cá bống có
tên gọi chung dùng để chỉ nhóm cá xƣơng nhỏ, chúng thƣờng có thân hình trụ,
hai vây lƣng rời nhau, sống ở tầng đáy của vùng biển (chủ yếu gần bờ, rạn đá, san
hô), đầm lầy nƣớc ngọt và có nhiều loài thuộc nhiều họ khác nhau.
Theo Phạm Hùng Việt (2005), ở Việt Nam có 3 họ cá bống: họ cá bống
trắng (Gobiidae), họ cá bống đen (Eleotridae) và họ cá bống biển (Cottidae).
Thức ăn chủ yếu của cá bống đen là ấu trùng giáp xác, cá con, ấu trùng côn
trùng,… chúng sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ở nƣớc ngọt, sông
suối triền núi và vùng đồng bằng. Hiện nay có 7 loài cá bống đen sống ở nƣớc
ngọt và lợ (Trần Đắc Định và ctv., 2013), các loài cá bống này thuộc nhóm cá
xƣơng và có hình dạng dẹt bên, vẩy lƣợc, hai vây lƣng cách xa nhau, vây ngực
tròn khá phát triển, vây đuôi tròn, vây bụng rời nhau và thuộc nhóm cá nhỏ, sống
tầng đáy, một số loài có giá trị kinh tế cao nhƣ: cá bống tƣợng, cá bống dừa, cá
bống trứng,... (Bộ Thủy sản, 1996).
Mai Đình Yên (1978) đã công bố kết quả nghiên cứu về định loại cá nƣớc
ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam và phát hiện có 201 loài cá với 10 loài cá bống
thuộc bộ cá vƣợc (Perciformes) với 2 họ. Mai Đình Yên (1992) cũng đã công bố
công trình nghiên cứu về định loại các loài cá nƣớc ngọt ở Nam Bộ và đã tìm ra
trong bộ phụ cá bống Gobioidei có 5 họ, 19 giống và 25 loài. Theo Trƣơng Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng (1993) có 5 họ cá bống xuất hiện ở ĐBSCL, 5 họ
cá bống này nằm trong bộ phụ Gobioidei của bộ cá vƣợc (Perciformes) với 15
6
loài. Nguyễn Nhật Thi (2000) đã phân loại đƣợc 4 họ, 5 phân họ, 54 giống và 92
cứu nhiều và hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu đầy đủ về sự đa dạng thành
phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá bống họ Eleotridae phân bố tự
nhiên dọc theo tuyến Sông Hậu.
Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) và cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) hiện nay là hai đối tƣợng rất quen thuộc với ngƣời dân ở khu vực
miền Tây Nam Bộ, đây là hai loài cá sống chủ yếu ở vùng nƣớc ngọt nội địa,
chúng phân bố chủ yếu ở Nhật Bản, Thái Lan và vùng ĐBSCL của Việt Nam
(Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng, 1993). Hiện nay, các nghiên cứu về
hai loài cá bống này còn rất hạn chế, các nghiên cứu trên chủ yếu chỉ tập trung
vào việc phân loại và mô tả đặc điểm hình thái bên ngoài của chúng nhƣ: Mai
Đình Yên, (1992); Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng, (1993); Trần Đắc
Định và ctv. (2013),… trong khi đó nghiên cứu về các đặc điểm sinh học và phân
bố của hai loài cá này chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ.
Nghiên cứu của Murdy (1989) đã cho thấy đa phần các loài cá bống có
tính phân bố rộng. Cá bống thƣờng có tên gọi chung để chỉ nhóm cá xƣơng nhỏ,
có thân hình trụ, hai vây lƣng rời nhau, sống ở tầng đáy vùng biển (gần bờ, rạn
đá, san hô) và đầm lầy nƣớc ngọt và có nhiều loài thuộc nhiều họ khác nhau.
Trƣớc đây, mặc dù cá bống là loài ít có giá trị kinh tế nhƣng về thành phần loài và
số lƣợng của chúng chiếm ƣu thế ở các loại hình thủy vực, đặc biệt là các bãi bồi
ven biển ở các nƣớc nhiệt đới (Taki, 1974).
Việc xác định tên các loài cá bống đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới
đề cập đến từ rất sớm cùng với việc đƣa ra một số hệ thống phân loại nhƣ của
Günther (1861b), Bleeker (1874) và Jordan (1885, 1923), các hệ thống phân loại
này chủ yếu là dựa vào cấu trúc của các tia vây cá, hình dạng răng và vị trí mắt
của cá. Theo Regan (1911), việc phân loại đầu tiên của ba họ cá bống (Eleotridae,
Gobiidae và Psammichthydae) là dựa vào phần xƣơng của hộp sọ cá và số đốt
sống của cá, trong đó họ cá bống đen (Eleotridae) đã đƣợc tách ra từ họ cá bống
trắng (Gobiidae) trên cơ sở hình dạng của xƣơng khẩu cái ở các loài cá thuộc họ
trắng chủ yếu dựa vào vị trí của các tia vây chậu riêng biệt của các loài cá bống
này. Trƣớc đây, trên thế giới chỉ xác định có 7 loài cá bống thuộc 1 giống Gobius
(Linnaeus, 1758) và sau đó số lƣợng các loài này lần lƣợt tăng lên theo thời gian
là 11 loài (Bloch và Schneider, 1801), 23 loài (Günther, 1861b) và 99 loài
(Bleeker, 1874). Takagi (1967) đã xác định ở vùng biển Nhật Bản có 82 loài
trong 54 giống và sau đó xác định có 85 loài trong 71 giống (Akihito, 1969).
Gần đây nhất, theo hệ thống phân loại của các tác giả nhƣ: Lindberg
(1971) (đƣợc trích dẫn bởi Kanayama, 1991) và Taki (1974) cá bống đƣợc xác
định là nhóm cá có thành phần loài rất phong phú với hơn 1.875 loài và có sức
sinh sản khá cao (Healey, 1971; Miller, 1984; Chotkowski et al., 1999; Caputo et
9
al., 2000; Hajisamae et al., 2006) và theo Kottelat and Whitten (1996) trên đoạn
sông Mêkong chảy qua Lào đã xác định đƣợc 481 loài thuộc 50 họ, trong đó họ
cá bống Gobiidae có 16 loài thuộc 6 giống và nhóm cá bống thuộc họ Eleotridae
có 31 giống và 178 loài (Froese and Pauly, 2014), chúng thƣờng phân bố ở Ấn
Độ, Malaysia, Thái lan, Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, các loài cá
này thƣờng đƣợc tìm thấy ở vùng nƣớc ngọt và cửa sông, chúng có tập tính sống
lƣỡng cƣ, thƣờng làm hang ở các bãi bùn và có thể trƣờn lên các bãi này để đi lại
và tìm thức ăn. Nhiệt độ thích hợp cho các loài cá bống sinh trƣởng và phát triển
là 23-28oC (Kottelat and Whitten, 1996). Có khoảng 150 loài cá bống đƣợc phát
hiện chủ yếu ở vùng nhiệt đới, trong đó có nhiều loài trải qua giai đoạn phù du
ngoài biển và một số loài hoàn toàn sống ngoài biển, cá bống trƣởng thành sống ở
các thủy vực nhƣ: sông, rạch nƣớc ngọt và lợ và là loài động vật săn mồi trong
các hệ sinh thái sông suối nƣớc ngọt trên các đảo giữa đại dƣơng nhƣ New
Zealand và Hawaii. Hình thái giải phẫu của họ cá bống đen này tƣơng tự họ cá
bống trắng (Gobiidae) do chúng không có giác mút ở phần khung chậu (Hampel
et al., 2004). Cá bống đen là nhóm các dạng cá nhỏ sinh sống trên chất nền, thảm
kích thƣớc nhỏ, một số loài có kích thƣớc to hơn nhƣ cá bống tƣợng (50 cm). Về
hình thái cá bống có những đặc điểm nhƣ sau: không có vẩy cảm giác ở dọc thân,
nhƣng ở đầu có nhiều rãnh cảm giác nổi lên rõ rệt, hai vi bụng thƣờng dính liền
nhau tạo thành giác bám (trừ giống Eleotris), cơ gốc vi ngực phát triển. Mặc dù
hai họ cá bống trắng và cá bống đen giống nhau ở nhiều điểm, nhƣng cá bống đen
không có các giác bám ở vây chậu nhƣ ở cá bống trắng, và điều này cùng với các
khác biệt hình thái khác, đƣợc sử dụng để phân biệt hai họ cá bống này. Ngƣời ta
cho rằng họ Gobiidae và Eleotridae có cùng nguồn gốc chung và đặt cả hai họ
trong phân bộ cá bống (Gobioidei), cùng với một vài họ nhỏ khác chứa các loài
cá tƣơng tự nhƣ cá bống (Hoffman et al., 2010). Một số loài cá bống có giá trị
kinh tế cũng đã đƣợc Trƣơng Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng (1993) mô tả chi
tiết nhƣ cá bống tƣợng (Oxyeleotris marmotarus), nhóm cá bống này có đầu to,
rộng, dẹp bằng, chiều rộng của đầu bằng hoặc lớn hơn cao thân, mõm dài và
nhọn, hƣớng lên trên, giữa mõm có u nhô cao. Miệng trên rộng, hàm dƣới dài hơn
hàm trên và đƣa ra phía trƣớc. Rạch miệng xiên, kéo dài chạm với đƣờng thẳng
11
đứng kẻ qua giữa mắt. Răng nhọn, gốc răng to, xếp thƣa thành nhiều hàng trên
mỗi hàng, không râu. Mắt tròn, nhỏ, lệch về mặt lƣng của đầu, gần chót mõm hơn
gần điểm cuối nắp mang. Lƣỡi rất phát triển, dẹp bằng, đầu lƣỡi tròn. Lỗ mũi
trƣớc mở ra bằng một ống ngắn nằm ngay sau rãnh môi trên. Phần trán giữa hai
mắt rộng, cong lõm và tƣơng đƣơng với 2 lần đƣờng kính mắt. Thân cá mập,
phần trƣớc dẹp bằng, phần sau dẹp bên, đƣờng lƣng lõm xuống ở trán. Cuống
đuôi thon dài, vảy nhỏ, phủ khắp thân và đầu (trừ mõm). Đầu và phần trƣớc của
thân phủ vảy tròn, phần sau phủ vảy lƣợc, vảy phủ lên gốc vây ngực và lớn hơn
nửa vây đuôi. Khoảng cách 2 vây lƣng nhỏ hơn chiều dài gốc vây lƣng thứ nhất.
Cơ gốc vây ngực phát triển. Hai vây bụng tách rời nhau. Vây đuôi tròn, cơ gốc
vây đuôi phát triển. Cá có màu nâu đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc nhỏ màu nâu
hoặc xám tạo thành vân. Mặt lƣng có 3 đốm đen: Một ở sau đầu, một ở gốc vây
Dài chuẩn / Dài đầu = 3,13 (2,5-3,9)
Dài chuẩn / Cao thân = 4,7 (3,7-5,8)
Dài đầu / Dài mõm = 2,8 (2,3-3,3)
Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 3,2 (2,5-4,6)
Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,9 (1,5-2,2)
Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,7 (1,3-2,2)
Cá bống trứng có đầu to, ngắn, tròn, có dạng hình chớp, mõm ngắn hƣớng
lên, miệng rộng, hàm dƣới dài hơn hàm trên và đƣa ra trƣớc, răng nhọn mịn xếp
thành nhiều hàng, mắt nhỏ nằm giữa trên của đầu, khoảng cách giữa hai mắt rộng.
Hai vây lƣng tách rời nhau, khởi điểm của vây hậu môn sau khởi điểm của vây
lƣng thứ hai nhƣng điểm kết thúc ngang nhau, cơ gốc vây ngực tƣơng đối phát
triển, hai vây bụng không dính nhau, vây đuôi tròn. Thân phần trƣớc tròn, phần
sau dẹp bên, cuống đuôi thon dài, gai niệu sinh dục dài, nhọn, kéo dài sau đuôi
13
hoặc đến khởi điểm gốc vây hậu môn, toàn thân phủ vảy lƣợc lớn. Đầu phủ vảy
tròn lớn hơn. Cá thƣờng có màu nâu đỏ hoặc nâu đen, có nhiều đốm đậm màu ở
vị trí không cố định, các vây lƣng, vây ngực, vây hậu môn và vây đuôi có màu
vàng, có nhiều hàng sọc đen vắt ngang các tia vây, vây bụng màu vàng xám.
2.2.2 Cá bống trân (Butis butis)
Bộ: Perciformes
Họ: Eleotridae
Giống: Butis
Loài: Butis butis (Hamilton 1822)
Tên đồng danh:
Loài: Eleotris humeralis Cuvier and Valenciennes, 1827
Loài: Eleotris butis Cantor, 1850
Loài: Eleotris longicauda Ogilby, 1910
Loài: Eleotris amboinensis McCulloch and Ogilby, 1919
Bộ: Perciformes
Họ: Eleotridae
Giống: Oxyeleotris
Loài: Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
Tên đồng danh:
Loài: Bostrichthys marmoratus Bleeker, 1852
Loài: Callieleotris platycephalus Fowler, 1934
Loài: Eleotris marmorata Bleeker, 1852
15
Loài: Gigantogobius jordani Fowler, 1905
Loài: Oxyeleotris marmorata Smith, 1930
Loài: Oxyeleotris marmorata M. Weber, 1931
Loài: Oxyeleotris marmorata Herre, 1927
Loài: Oxyeleotris marmorata Bleeker, 1852
Hình 2.3: Cá bống tƣợng (Oxyeleotris marmorata) (Trần Đắc Định và ctv., 2013)
Theo Nguyễn Nhật Thi (2000) và Nguyễn Văn Hảo (2005), các tia vây của
loài cá này là: số tia vây lƣng (D=I, 9), số tia vây ngực (P=17-19), số tia vây hậu
môn (A=I, 7-9), số tia vây bụng (V=I, 5). Tỉ lệ về các chỉ tiêu hình thái của cá
bống tƣợng đƣợc xác định là:
Dài chuẩn / Dài đầu = 2,78 (2,72- 2,84)
Dài chuẩn / Cao thân = 4.83 (4,52-5,14)
Dài đầu / Dài mõm = 3,10 (3,03-3,17)
Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 4,05 (3,80- 4,29)
Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,73 (1,72-1,74)
Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,52 (1,45-1,59)
17
+ Dài chuẩn / Dài đầu = 3,35 (3,00-4,17)
+ Dài chuẩn / Cao thân = 5,16 (4,06-6,11)
+ Dài đầu / Dài mõm = 2,74 (2,24-3,75)
+ Dài đầu / Khoảng cách 2 mắt = 3,40 (2,75-4,25)
+ Dài cuống đuôi / Cao cuống đuôi = 1,74 (1,43-2,31)
+ Cao thân / Cao cuống đuôi = 1,46 (1,20-2,25)
Về đặc điểm hình thái, cá bống dừa có thân phía trƣớc tròn, phía sau dẹp
bên. Mõm tù, hƣớng lên. Miệng rộng, răng nhọn và nhỏ mịn. Lƣỡi dài, dẹp bằng,
đầu lƣỡi tròn. Mắt tròn nhỏ, khoảng cách hai mắt rộng gấp hai lần đƣờng kính
mắt và gần bằng chiều dài mõm. Không có râu. Cuốn đuôi thon dài. Vẩy rất nhỏ,
phủ khắp thân và đầu. Đầu và phần trƣớc thân phủ vảy tròn, phần sau phủ vảy
lƣợc. Cá có màu đen bóng và có khi màu nâu. Cạnh trên của gốc vây đuôi có một
đốm đen, hai vây bụng tách rời nhau, vây đuôi tròn và các vây này có màu vàng
hoặc xám đen, phần dƣới bụng có màu ửng vàng có nhiều đốm đen nhỏ.
2.3 Đặc điểm phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae
Cá bống thƣờng phân bố ở các nƣớc thuộc khu vực nhiệt đới nhƣ Ấn Độ,
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, đặc biệt là rất
phong phú ở khu vực ĐBSCL (Murdy, 1989; Mai Đình Yên, 1992; Trƣơng Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hƣơng, 1993; Rainboth, 1996; Tran Dac Dinh, et al.,
2002). Các nghiên cứu trƣớc đây đã cho thấy phạm vi phân bố của các loài cá
bống trong vùng biển Việt Nam khá rộng từ bãi triều đến độ sâu 100 m và chịu
đƣợc độ mặn từ 3-38‰, ở các khu vực vùng cửa sông, bãi triều và các đảo là
vùng phân bố tập trung của các loài cá bống cả về thành phần loài và mật độ cá
thể (Nguyễn Nhật Thi, 2000).
Ở ĐBSCL, cá bống phân bố rộng từ vùng nƣớc ngọt đến vùng lợ và mặn,
trong các bãi bùn ven biển, rừng ngập mặn và cửa sông, trong đó các loài cá bống
Thái lan, Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Ở Việt Nam, cá đƣợc tìm thấy ở các
lƣu vực thuộc hệ thống sông Cửu Long, sông Vàm Cỏ và sông Đồng Nai
(Nguyễn Mạnh Hùng, 1995). Cá bống tƣợng có tập tính sống đáy, hoạt động
19
nhiều về đêm, ban ngày thƣờng vùi thân mình xuống bùn, đặc biệt khi gặp nguy
hiểm chúng có thể lặn xuống sâu đến 1 m ở lớp bùn đáy và có thể sống ở đó hàng
chục giờ. Trong ao, cá thƣờng sống ẩn ở ven bờ, những nơi có hang hốc, rong cỏ
và thực vật thủy sinh thƣợng đẳng làm giá đỡ. Ở Việt Nam, cá thƣờng đƣợc khai
thác, đánh bắt ngoài tự nhiên, sản lƣợng khai thác tự nhiên hàng năm khá lớn và
theo thống kê của Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh Phƣơng (1994) sản lƣợng
khai thác cá bống ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên khoảng 40
tấn/năm. Cá bống tƣợng sống trong các thủy vực nƣớc ngọt nhƣ: sông ngòi, kênh
rạch, ao hồ. Cá có thể chịu đựng đƣợc với môi trƣờng nƣớc phèn có pH dao động
từ 5 đến 6 và chúng có thể sống trong nƣớc lợ có nồng độ muối 15‰. Một số loài
cá do có cơ quan hô hấp phụ nên chúng có thể chịu đƣợc trong điều kiện hàm
lƣợng ôxygen thấp và có thể sống chui rúc sâu ở lớp bùn đáy trong nhiều giờ. Cá
có thể sống trong khoảng nhiệt độ từ 15oC đến 41,5oC, nhiệt độ thích hợp nhất là
từ 26oC đến 32oC (Nguyễn Mạnh Hùng, 1995). Poulsen et al. (2004) đã có khái
quát về sự di cƣ của các loài cá này ở hạ lƣu sông MêKông và nghề đánh cá ở đây
là một trong những nghề đánh cá lớn nhất trên thế giới, qua đó bổ sung thông tin
chi tiết về 40 loài cá quan trọng đối với nghề khai thác cá trên sông MêKông.
Một số chỉ tiêu sinh thái trong vùng phân bố của cá bống cũng đƣợc đề cập
đến trong nghiên cứu này gồm:
-
Tốc độ dòng chảy và cấu trúc nền đáy có liên quan đến phân bố cũng nhƣ cấu
trúc thành phần loài thủy sinh vật. Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv. (2002), ở
hiện diện của động vật phù du và thực vật phù du là một trong những yếu tố
quan trọng giúp làm tăng mức độ đa dạng sinh học của nhóm cá bống và sự
phân bố của sinh vật đáy cũng phụ thuộc vào độ sâu của thủy vực (Đặng Ngọc
Thanh và ctv., 2002), theo chiều thẳng đứng của thủy vực nƣớc tĩnh (hồ tự
nhiên) ở vùng ven bờ có nền đáy mềm, bùn cát các loài cá này phát triển nhiều
hơn so với vùng đáy sâu.
2.4 Đặc điểm dinh dƣỡng của cá bống
Tính ăn của động vật thủy sản trong tự nhiên rất đa dạng và phong phú,
một số loài cá có tập tính chỉ ăn động vật hay thực vật, một số loài khác có tập
tính ăn tạp thiên về động vật hay thực vật, ăn lọc và có loài bắt mồi ở các tầng
nƣớc khác nhau. Vì vậy, hệ tiêu hóa của động vật thủy sản quyết định đến tính ăn
khác nhau của chúng (Lê Thanh Hùng, 2008). Có thể xác định tính ăn của cá dựa
vào chỉ số tƣơng quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG - Relative
Length of the Gut), giá trị RLG đƣợc tính theo công thức của Al-Hussaini (1949),
21