Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi ở việt nam hiện đại qua ba tác phẩm tiêu biểu dấu chân người lính (nguyễn minh châu),đất trắng (nguyễn trọng oánh),nỗi buồn chiến tranh (bảo ninh) - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong văn học nhân loại, chiến tranh là một đề tài lớn. Điều này có thể
xem như một tất yếu bởi để phản ánh một cách chân thực và sinh động nhất hiện
thực cuộc sống, cuộc đấu tranh sinh tồn trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt
quan trọng của mỗi quốc gia và của cả loài người, chiến tranh là một đề tài thường
trực có ý nghĩa trung tâm không thể thay thế. Soi chiếu vào lịch sử văn học của cả
phương Đông và phương Tây, ta có thể thấy sự hiện diện đậm nét và chi phối mạnh
mẽ của siêu đề tài này với hàng loạt những tác phẩm có giá trị. Văn học phương
Tây với rất nhiều những tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã để lại cho nhân loại những
kiệt tác có thể coi là đã đạt đến đỉnh cao của văn học về đề tài chiến tranh như
Chiến tranh và hòa bình của Lep Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp, Mặt
trận phía Tây vẫn yên tĩnh, Một thời để yêu, Một thời để chết, Đêm Lisbone, Ba
người bạn, Khải hoàn môn… của E.M. Remarque. Văn học phương Đông cũng
không hề thua kém về thành tựu của mảng đề tài hiện thực chiến tranh với những
pho tiều thuyết chương hồi nổi tiếng có quy mô phản ánh hết sức rộng lớn, đồ sộ và
hoành tráng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại
Am trong văn học Trung Quốc.
1.2. Trong bối cảnh đó, văn học Việt Nam với tư cách là một bộ phận vận
động đương nhiên không thể nằm ngoài quỹ đạo của văn học nhân loại. Ngoài ra,
văn học Việt Nam còn gánh vác một sứ mệnh cao cả và vô cùng quan trọng, đó là
nhiệm vụ phải luôn song hành với với lịch sử dân tộc, với vận mệnh đất nước và
gắn liền với những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Chiến tranh đã, đang và sẽ còn
rất lâu nữa vẫn là một đề tài lớn của văn học Việt Nam, là nguồn mạch, cảm hứng
bất tận cho nhiều thế hệ nhà văn tìm tòi, thể nghiệm. Đó cũng là một hiện tượng rất
dễ lý giải, bởi chỉ tính riêng trong thế kỷ XX vừa qua, dân tộc Việt Nam đã có ngót
bốn mươi năm sống trong không khí của chiến tranh bom đạn. Nhìn xa hơn nữa về

1





chí cả những sai lầm, vấp ngã của người lính trước những cám dỗ thường nhât.
Cuộc sống thời hậu chiến bộn bề phức tạp làm thay đổi hệ quan niệm nghệ thuật về
đời sống xã hội và con người đòi hỏi các nhà văn phải có những sự cách tân mạnh
mẽ về nội dung cũng như hình thức để tạo dấu ấn, phong cách riêng. Sau chiến
tranh, với một độ lùi cần thiết, những tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này
đã dần chuyển sang một âm điệu mới, không chỉ có hào hùng mà còn có cả bi
tráng, không chỉ ở chiến trường mà cả ở hậu phương, bên cạnh những con người
anh hùng còn có những con người mang số phận bi kịch, thất cơ lỡ vận…
1.3. Ba cuốn tiểu thuyết: Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất
trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) có thể coi là ba tác
phẩm xuất sắc, tiêu biểu, đánh dấu những mốc quan trọng trong quá trình vận động
của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1945. Dấu
chân người lính là tác phẩm tiêu biểu cho tiểu thuyết sử thi trong văn học cách
mạng (1945 – 1975). Đất trắng tiêu biểu cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
giai đoạn mười năm đầu sau giải phóng, từng được giải thưởng của Bộ Quốc phòng
năm 1984 và Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Nỗi buồn chiến tranh
được đánh giá là một tác phẩm đặc sắc với nhiều ý tưởng cách tân, tiêu biểu cho
tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986), từng được Hội Nhà văn Việt Nam trao
tặng giải Nhất về tiểu thuyết năm 1991. Cùng viết về đề tài chiến tranh, song cái
nhìn nghệ thuật và hiện thực chiến tranh trong mỗi tác phẩm lại có những cách tiếp
cận, phản ánh và thể hiện khác nhau. Đó có thể xem là quy luật vận động sự đổi
thay, phát triển tất yếu của văn học. Dẫu cảm hứng sử thi đang ngày càng phai nhạt,
song tự trong sâu thẳm ký ức dân tộc, chiến tranh vẫn là một bộ phận chính yếu
trong đời sống văn học, đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn chưa thể thay thế và
hứa hẹn nhiều bất ngờ trong tương lai. Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi chọn đề tài
“Hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba tác phẩm tiêu biểu:
Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi
buồn chiến tranh (Bảo Ninh)” cho luận án Tiến sĩ của mình với mục đích làm rõ


4


sinh thái, lịch sử văn hóa… chi phối đến sự phản ánh hiện thực chiến tranh trong
từng tác phẩm.
- Luận án thông qua ba tác phẩm cụ thể là Dấu chân người lính, Đất trắng
và Nỗi buồn chiến tranh để phân tích, lý giải sự vận động, những tiếp biến và đổi
thay để hướng tới cái mới và cái khác trong hành trình sáng tạo của các nhà văn
trước cùng một đề tài.
- Luận án tìm hiểu những đặc trưng thi pháp của các tiểu thuyết này để thấy
được sự vận động và những cách tân thể loại trong cách thức tái tạo hiện thực chiến
tranh.
- Từ đó, luận án khẳng định vai trò, vị trí và những đóng góp của Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh và Bảo Ninh vào thành tựu của văn xuôi chiến
tranh cùng tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và đương đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu hiện thực chiến tranh trong văn xuôi Việt Nam hiện đại qua ba
tác phẩm Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng
Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp và
cách tiếp cận khác nhau để có thể soi chiếu đối tượng từ nhiều góc độ. Phương
pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt luận án là phương pháp tiếp cận hệ thống.
Như Khravechenco đã chỉ ra thì một đặc điểm quan trọng của phương pháp phân
tích hệ thống là việc khám phá những liên hệ bên trong của một tổng thể nhất định
các hiện tượng, các liên hệ của từng thành tố trong các hiện tượng xã hội khác
nhau, là sự nghiên cứu thống nhất về cấu trúc của chúng, ở đó luôn phải xem xét
mỗi thành tố trong mối liên hệ phối thuộc lẫn nhau không thể tách biệt.
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình và cấu
trúc loại hình để giải mã cấu trúc của loại hình tác phẩm văn học viết về chiến
tranh. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp khi lựa chọn

việc khẳng định các giá trị bền vững thông qua các hiện tượng tiêu biểu đã lựa
chọn.

6


- Luận án lý giải sự vận động và phát triển của vấn đề hiện thực chiến tranh
song hành cùng quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai
thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Sự vận động của đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam
hiện đại từ 1945 đến cuối thế kỷ XX
Chương 3: Các góc tiếp cận hiện thực chiến tranh trong ba tiểu thuyết Dấu
chân người lính, Đất trắng và Nỗi buồn chiến tranh
Chương 4: Thi pháp tiểu thuyết chiến tranh qua Dấu chân người lính, Đất
trắng và Nỗi buồn chiến tranh

7


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về hiện thực chiến tranh trong văn xuôi
những năm chống Mỹ cứu nƣớc và tiểu thuyết Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu
1.1.1. Ngày 5 tháng 8 năm 1964 là một thời khắc quan trọng trong lịch sử
dân tộc Việt Nam khi bầu trời xuất hiện những tốp máy bay mang bom phá hoại và
những tiếng súng chống Mỹ đầu tiên nổ ra trên miền Bắc, cả nước lại bước vào một
cuộc trường chinh mới gian khổ nhưng vĩ đại. Lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng

tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này, đó là nghệ thuật xây dựng nhân vật- cụ thể là
những nhân vật được coi là điển hình. Thành tựu này thể hiện sự phát triển, mở
rộng dung lượng phản ánh khi lần đầu tiên nhân vật người lính chống Mỹ được đặt
trong bối cảnh rộng lớn của đất nước, gắn hậu phương với chiến trường, gắn số
phận một người với nhiều người, lớp già và lớp trẻ… Đó là thời điểm đáng nhớ của
văn xuôi cách mạng khi hình tượng người lính, người chiến sĩ giải phóng quân
mang trên vai mình trọng trách lớn lao của lịch sử dân tộc được khắc họa như
những nhân vật chính của thời đại, ở vào vị trí trung tâm xoáy động của cả một thời
kỳ lịch sử mà không đơn thuần chỉ ở nơi chiến trường. Với kiểu nhân vật người
lính, các tác giả tiểu thuyết thời kỳ này đã xây dựng thành công nhiều hình tượng
cá nhân điển hình, bên cạnh những điển hình tập thể, những hình tượng nhân vật
“đám đông”.
Bối cảnh lịch sử- xã hội, hiện thực cuộc sống chiến đấu đã trở thành mảnh
đất màu mỡ để văn học nói chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng giai đoạn
chống Mỹ cứu nước kế thừa những thành quả có tính chất nền tảng, tiền đề của văn
xuôi thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945- 1954, tiếp tục phát triển và gặt hái
được những thành tựu to lớn. Đã có rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về
văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng viết về chiến tranh trong giai đoạn chống
Mỹ cứu nước. Điều dễ nhận thấy nhất là hầu như tất cả các bài viết, các công trình
nghiên cứu đều thống nhất một quan điểm rằng, mảng văn xuôi nói chung và văn
xuôi viết về đề tài chiến tranh trước 1975 mang đậm tính chất sử thi và cảm hứng

9


lãng mạn; đã xây dựng được những hình tượng nhân vật anh hùng tiêu biểu cho thế
hệ, cho dân tộc; đã hoàn thành xuất sắc vai trò, chức năng của văn học thời kỳ này
trong việc cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của bộ đội, nhân dân. Nhà nghiên
cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Ra đời và phát triển trong không khí lịch
sử đó, văn học giai đoạn 1945- 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số

Yếu tố cá tính chưa nổi bật, sự phân tích xã hội, phân tích tâm lý chưa được phát
triển đầy đặn. Còn ít có những hình tượng tầm cỡ cung cấp một mẫu mực thuyết
phục trọn vẹn về phương diện này” [141, tr. 93].
1.1.2. Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một trong những nhà văn lớn của
nền văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX. Trong hơn ba mươi năm cầm
bút, Nguyễn Minh Châu đã để lại cho đời 13 tập văn xuôi và 1 tập tiểu luận phê
bình. Có thể thấy: tác phẩm của Nguyễn Minh Châu không quá đồ sộ nhưng đa
dạng về thể loại, bao gồm cả truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, bút ký, phê
bình… Đánh giá về Nguyễn Minh Châu, các nhà phê bình, nghiên cứu từ trước đến
nay đều thừa nhận những tác phẩm của ông đã phản ánh được khí thế hào hùng và
phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu. Bên cạnh đó, khi đất
nước chuyển mình từ đời sống bất thường của ngày có giặc sang đời sống bình
thường, nhà văn không còn là người phát ngôn “nhân danh kinh nghiệm cộng
đồng” mà là “kinh nghiệm cá nhân”, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sâu sắc sự trăn
trở và khát vọng thức tỉnh lương tâm trong cảm hứng nhân văn mạnh mẽ. Đặc biệt,
sau 1986, Nguyễn Minh Châu đã hiện diện và được mệnh danh là một trong những
người tiên phong, “tinh anh”, “tài năng” và đầy bản lĩnh trong công cuộc đổi mới
nói chung và văn học nói riêng.
Tiểu thuyết Dấu chân người lính là một trong những tác phẩm tiêu biểu của
Nguyễn Minh Châu và cũng là một trong những tác phẩm có vị trí quan trọng trong
tiểu thuyết thể tài chiến tranh của văn học cách mạng Việt Nam (1945- 1975). Tác
phẩm đã đưa ông lên vị trí những nhà văn hàng đầu của cuộc kháng chiến chống
Mỹ. Dấu chân người lính viết về cuộc hành quân, bao vây và tiêu diệt địch ở vùng
đất Quảng Trị, kết quả của những lần đi theo bộ đội tham gia chiến đấu ở các mặt
trận Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào của Nguyễn Minh Châu với tư cách phóng viên

11


tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cuốn tiểu thuyết đã phản ánh hùng hồn và sinh động


trong tác phẩm của ông đã manh nha cho một hướng tiếp cận đối với đề tài chiến
tranh trở thành một trong những sự lựa chọn của đa số những lớp nhà văn sau này.
Là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn học cách mạng Việt
Nam (1945 – 1975), từ khi ra đời đến nay, tiểu thuyết Dấu chân người lính của
Nguyễn Minh Châu đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà văn, nhà
nghiên cứu, nhà lý luận phê bình văn học và theo đó cũng đã có khá nhiều bài viết
và công trình nghiên cứu về tác phẩm này. Trung Dũng trong bài viết Đọc Dấu
chân người lính đã khẳng định đây là “một sáng tác văn học có tính chiến đấu phản
ánh một hiện thực cuộc sống còn đang nóng bỏng” [31]. Tiếp xúc với Dấu chân
người lính, Thiếu Mai nhận định: “Ở đây ta tiếp xúc với những người lính trẻ, ta
được tắm trong không khí hào hùng, lạc quan dệt bằng tinh thần dũng cảm và ý
thức hy sinh cao cả” [121]. Bên cạnh đó, hầu hết các bài viết và công trình nghiên
cứu đều khẳng định thành công nhất của Dấu chân người lính là việc đã xây dựng
được tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Theo Phan Cự Đệ, “cuốn tiểu
thuyết đã miêu tả, với một sức hấp dẫn, cuộc trường chinh kì lạ trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc” [70, tr. 57]. Song Thành cũng cho rằng, với Dấu chân
người lính, "ngòi bút Nguyễn Minh Châu đã lột tả được vẻ đẹp tinh thần phong phú
và đằng sau những khuôn mặt phong trần ấy, anh đã làm ánh lên những nét hào hoa
không phải là không có sức hấp dẫn, vẫy gọi đối với bạn đọc thanh niên" [91, tr.
130]. Trần Trọng Đăng Đàn tiếp tục khẳng định: "Với Dấu chân người lính,
Nguyễn Minh Châu đã góp một phần quan trọng vào việc đẩy những hình tượng
người anh hùng cách mạng trong văn học lên gần với những điển hình mà công
chúng đang chờ đợi" [70, tr. 66]. Cùng chung quan điểm này, nhà phê bình Ngô
Thảo nhận định: Mặc dầu còn có những thiếu sót nhưng "thành công của Nguyễn
Minh Châu vẫn là cơ bản, vững vàng. Chính là trên những thành tựu đó mà với
Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào văn học chống Mĩ một
tác phẩm xuất sắc viết về người lính" [91, tr. 135].

13


14


Thánh Gióng, chúng ta có thể nghĩ rằng, đề tài chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ
quốc là nguồn chủ lực, là nguồn mạch phong phú nhất, không bao giờ vơi của văn
học Việt Nam từ khi hình thành đến nay” [36]. Khi đất nước có chiến tranh, cuộc
sống và con người sẽ chịu sự chi phối của quy luật chiến tranh là một điều tất yếu.
Tuy nhiên, sau 1975, khi đất nước đã hoàn toàn độc lập, văn học sáng tạo trong hòa
bình, đời sống và con người trở về với quy luật bình thường của cuộc sống thì vấn
đề đặt ra ở đây là văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng thời hậu chiến viết về
cuộc chiến có gì thay đổi, nhận diện quá khứ có gì khác trước? Đây chính là sự
biểu thị rõ rệt nhất những đổi mới và trưởng thành trong quan niệm thẩm mỹ, tư
duy nghệ thuật cũng như những cách tân trong thi pháp thể loại của các nhà văn.
Hòa chung xu thế đó, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và người lính cũng không
nằm ngoài lộ trình vận động chung đó của văn xuôi sau 1975.
Sau khi đánh giá, phân tích những phương diện cơ bản, thể hiện quy luật
phát triển của văn học, phần lớn các ý kiến nghiên cứu phê bình đều khẳng định đã
xuất hiện một số thành tựu cách tân trong văn xuôi Việt Nam sau 1975. Hà Xuân
Trường nhận định: “có sự đổi mới thực sự trong văn học”, “dư luận rộng rãi tập
trung đánh giá mặt tích cực của văn học, chủ yếu là văn xuôi trong những năm gần
đây. Chính mặt tích cực đó đại diện cho sự đổi mới của văn học” (Trả lời PV Lễ
tưởng niệm và hội thảo về Nguyễn Minh Châu, Văn nghệ Quân đội số 3/1994).
Theo nhà văn Nguyên Ngọc: “Tình hình sáng tác văn học hiện nay theo tôi có hai
mặt: một mặt, mặt chính là rất tốt. Sáng tác văn học của chúng ta đang hay dần lên.
Hình như sáng tác về đại thể đang chuyển lên một bình diện mới cao hơn, sâu sắc
hơn, văn học hơn, người hơn. Tính xã hội rất mạnh mẽ, nhiều khi đến gay gắt, tính
nhân văn ngày càng sâu, không dễ dãi” [127]. Nhà văn Nguyễn Quang Thân vô
cùng hứng khởi: “Chưa bao giờ văn xuôi phát triển mạnh như bây giờ… chưa bao
giờ nhà văn được thành thật như bây giờ” [69]. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến

tiểu thuyết đang đặt vấn đề nâng cao chất lượng hiện thực của những tác phẩm viết
về chiến tranh” [42]. Cũng với vấn đề này, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long đã đề
cập và diễn giải một cách chi tiết hơn khi cho rằng: “Trong nhiều sáng tác gần đây,
bên cạnh ý nghĩa lịch sử của cuộc chiến tranh, đã thấy gia tăng sự chú ý của nhà

16


văn đến việc trình bày con người trong biến diễn lịch sử. Nhiều tác phẩm đã đặc
biệt chú ý xây dựng những hoàn cảnh quyết liệt, đẩy xung đột phức tạp, đưa nhân
vật của mình vào những tình huống hết sức khó khăn, trình bày những diễn biến và
số phận không đơn giản của con người” [107].
Là người trực tiếp cầm bút hoạt động trong lĩnh vực sáng tác, nhà văn Hữu
Mai đã không ngần ngại chỉ ra những hạn chế, tồn tại của văn học viết về chiến
tranh trước đây. Ông cho rằng người viết hôm nay không được phép né tránh hiện
thực, cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phản ánh khuôn mặt muôn hình muôn vẻ
của hiện thực chiến tranh. Trong bài Viết về đề tài chiến tranh giải phóng, nhà văn
Hữu Mai đã nhận định: “Bình diện viết về chiến tranh đã được mở rộng. Chúng ta
đã có điều kiện đi vào nhiều vấn đề trước đây do những yêu cầu của chiến thắng,
của giai đoạn lịch sử còn chưa đề cập tới”; “Một tầm nhìn mới của nhà văn là điều
kiện không thể thiếu để đào sâu những vấn đề triết học, đạo đức nâng cao khả năng
miêu tả biện chứng những mặt khác nhau của hiện thực chiến tranh: anh hùng và
hèn nhát, yêu thương và căm thù, trung thành và phản bội, ý thức trách nhiệm và
bản năng sợ chết của con người, chiến thắng và những hy sinh, mất mát, cái đẹp và
cái tàn phá, ác liệt của chiến tranh… ” [122]. Nguyễn Minh Châu- một nhà văn mà
tên tuổi đã gắn liền với những thành công ở thể loại tiểu thuyết sử thi trước 1975,
cũng là người vô cùng nhạy bén với xu hướng đổi mới cách tân và hết sức táo bạo
với những thể nghiệm văn xuôi hiện đại. Trong bài viết Viết về chiến tranh [21],
bên cạnh những nhận định về đặc điểm cơ bản của văn học 1945- 1975 trong việc
khai thác hình tượng người lính và hiện thực chiến tranh, ông đồng thời chỉ ra

hết mình cho công cuộc đổi mới: “Những tác phẩm viết về chiến tranh của họ đã
khác trước kia, ngòi bút của nhà văn đã dấn sâu đến tận cùng của hiện thực chiến
tranh, đào sâu vào tính cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam, phát hiện những vẻ đẹp
khác nhau, tái hiện lại khuôn mặt chiến tranh đúng như vốn có của nó”.
Một số vấn đề về sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của văn xuôi sau 1975
đã được đề cập cụ thể hơn trong một số bài viết của các nhà nghiên cứu: Bích Thu,
Vũ Tuấn Anh, Tôn Phương Lan… đã phân tích sự vận động đổi mới theo từng
chặng và cho rằng văn học từ sau 1975 có thể chia thành hai giai đoạn; Từ 1975

18


đến 1986 văn học vẫn phát triển theo quán tính cũ, đầu những năm 80 văn học đã
có một số tín hiệu đổi mới nhưng phải từ 1986 trở đi văn học mới khởi sắc và đổi
mới ở nhiều lĩnh vực. Do có sự chuyển mình từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu
thuyết; đề tài chiến tranh cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề
tài thế sự- đời tư. Đó là quan điểm nhất quán được Bích Thu khẳng định trong bài
viết của mình. Ở bài Văn học đổi mới và phát triển [2], Vũ Tuấn Anh đã đưa ra
nhận định tính chất dân chủ hóa như một xu hướng vận động của văn học sau 1975
và chỉ ra rằng chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và chủ nghĩa yêu nước là những thước
đo cơ bản nhằm đánh giá văn học suốt một thời gian dài được vận dụng một cách
uyển chuyển và mở rộng hơn, chủ nghĩa nhân văn cũng tạo ra một động lực mạnh
mẽ thúc đẩy những thể nghiệm nghệ thuật theo khuynh hướng dân chủ hóa. Ở một
tầng bậc khác, Tôn Phương Lan đã khái quát những vấn đề cần khai thác trong xu
thế mới viết về chiến tranh. Trong văn học trước 1975, hiện thực chiến tranh được
khắc họa chưa thực sự là hiện thực theo đúng nghĩa của nó, chiến tranh được nhìn
nhận đơn giản, thuần túy một chiều, một phía và mang đậm hào quang chiến thắng
mà không hề phản ánh hết những hy sinh mất mát, những khó khăn quyết liệt,
những sai lầm, vấp váp. Trong bài viết Chiến tranh trong các tác phẩm văn chương
được giải, Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trong

trong cảm nhận về chiến tranh của các nhà văn ở một tâm thế mới: “Khuynh hướng
chính của sự phát triển, mặc dầu trải qua không ít khó khăn, nhiều nhà văn trong số
những người nhiều năm viết về chiến tranh trong chiến tranh, đã bứt lên, tự đổi mới
chính mình, đặc biệt các nhà văn hình thành vào cuối thời kỳ chống Mỹ, đã cho ra
đời những tác phẩm thực sự đổi mới, đáp ứng nhu cầu xã hội và minh chứng cho
một nhu cầu xã hội không thể né tránh của mảng văn học viết về chiến tranh sau
chiến tranh. Đó là sự đào sâu mới, đó là khả năng phân tích bình giá và mổ xẻ hiện
thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệ cực kỳ phức tạp giữa
số phận từng con người với biến cố chiến tranh, đó là năng lực khám phá và đặt ra
những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sau chiến tranh do tác động dai
dẳng của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và toàn xã hội” [33].

20


1.2.2. Nguyễn Trọng Oánh (1929 – 1993) là một trong những cây bút trưởng
thành và gắn liền sự nghiệp sáng tác văn học của mình với đời sống quân ngũ và
chiến trường. Ông mở đầu hành trình văn chương bằng thể loại thơ tuy không nhiều
và chủ yếu là sáng tác trong thời kỳ trước 1975. Đóng góp lớn nhất của Nguyễn
Trọng Oánh là bộ tiểu thuyết 2 tập Đất trắng (Tập 1, 1979; Tập 2, 1984). Tác phẩm
là sự khắc hoạ hiện thực chiến trường vùng ven Sài Gòn sau cuộc tổng tiến công và
nổi dậy sau tết Mậu Thân 1968, thời điểm khốc liệt, cam go, đầy thử thách của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, Trung đoàn 16 với nhiệm vụ tiếp tục tử thủ, chiến đấu
“một mất một còn” với kẻ thù quyết giành lại địa bàn, giành lại nhân dân dù chịu
nhiều tổn thất, hy sinh. Tác phẩm đã nhận Giải thưởng của Bộ Quốc phòng và Hội
Nhà văn Việt Nam năm 1984.
Có thể khẳng định, với Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh đã khai mở cho một sự
đổi mới cách nhìn, cách tiếp cận và phản ánh hiện thực chiến tranh. Bên cạnh việc
tái tạo bộ mặt chiến trường qua từng trận đối đầu khốc liệt, Nguyễn Trọng Oánh
còn đi sâu khai thác “cuộc chiến” trong lòng mỗi con người tham chiến ở tầng sâu

cây bút khác là: yêu cầu của bạn đọc khắt khe hơn; không thể miêu tả chiến tranh
một cách dễ dãi, toàn những chuyện ngọt ngào, suôn sẻ. Và ai cũng thấy là tiểu
thuyết với đề tài chiến tranh sau 1975 đã có những khởi sắc”, [165].
Đánh giá về Đất trắng, Ngô Văn Phú đã coi đây là bộ tiểu thuyết viết về chủ
đề chiến tranh với những biểu hiện táo bạo và mới mẻ: “Đất trắng đã mở đầu cho
lối viết mới, suy nghĩ mới cho tiểu thuyết chiến tranh, sau ngày toàn thắng. Hiện
thực chiến tranh được đề cập ở mức độ quyết liệt, đến một thời điểm mà cuộc chiến
đấu chính nghĩa của ta gặp khó khăn không tưởng tượng nổi. và chính trong một
không gian, thời gian cụ thể ấy, phẩm chất của con người mới được tôi luyện, cái
chân cái giả mới bộc lộ rõ ràng” [153, tr. 19]. Và có lẽ những tâm sự của nhà văn
Nguyễn Trọng Oánh về tiểu thuyết Đất trắng đã nói lên tất cả: “Tôi nói chuyện với
người hôm nay bằng câu chuyện của hôm qua… Nói về quá khứ một cách nghiêm
túc và trung thực thì không sợ không có điều gì để nói với hôm nay”.
Vẫn ở mảng đề tài chiến tranh, văn học Việt Nam sau 1986 đã có những
bước đột phá ấn tượng. Đón nhận luồng không khí đổi mới của đất nước và thời đại

22


các nhà văn trong giai đoạn này đã có những góc nhìn, góc nghĩ, và phương cách
thể hiện vừa mang đậm dấu ấn cá nhân, vừa chất chứa tính nhân văn sâu sắc. Với
họ đề tài chiến tranh không chỉ là sự giải tỏa của ký ức trong quá khứ, nó phải gắn
liền với cuộc sống muôn mặt để hướng tới đối thoại và đồng cảm với những người
cùng thời. Sự cách tân đó là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của văn học cũng
như nhu cầu đổi mới, khát vọng dân chủ trong xã hội, và có thể thấy rằng, một
hướng tiếp cận mới về hiện thực chiến tranh đã được hình thành. Chiến tranh đã
được nhìn sâu từ bản chất, hiện thực chiến tranh được khắc họa từ số phận cá nhân,
chiến tranh được tái dựng trong bối cảnh, yêu cầu của cuộc sống thời bình Và có lẽ
sẽ không ai có thể phủ nhận rằng tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là
đỉnh cao của dòng văn học viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới.

mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới” [138]. Bên cạnh đó,
Nỗi buồn chiến tranh cũng tạo nên làn sóng mạnh từ dư luận quốc tế. The
Guardian, một tờ báo Anh đã nhận định: “Một cuốn tiểu thuyết không thể đặt
xuống. Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần
nên đọc cuốn sách này. Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được. Nó
quá hấp dẫn để xứng được thế” [14]. Dennis Mansker, thành viên của hội cựu binh
vì hoà bình và hội cựu binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả cuốn sách Abad
Attitudu: A Novel from the Vietnam War đã hết sức kinh ngạc khi được đọc Nỗi
buồn chiến tranh: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Đã
đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người
lính ở mọi bên xung đột và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề
“binh nghiệp”” [131]. Có thể khẳng định, cùng với những cách tân đồng bộ, mạnh
mẽ về nội dung cảm hứng, hình thức và thi pháp, qua Nỗi buồn chiến tranh Bảo
Ninh đã đưa văn học Việt Nam hội nhập với không khí phát triển theo chiều hướng
hiện đại và hậu hiện đại của văn học toàn cầu.
Với Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh đã xác lập một cách nhìn mới, một
phương cách thể hiện mới về hiện thực chiến tranh. Hiện thực chiến tranh trong Nỗi
buồn chiến tranh được biểu hiện qua những hồi ức bị cắt vụn, qua rất nhiều những
cái chết, qua sự tổn hại của nhân tính, qua một mối tình đau khổ với những vết

24


thương mãi mãi không lành, qua sự tự thú, sám hối… Tất cả đã gợi nên sức mạnh
hủy diệt của chiến tranh. Đó thực sự là một cuốn tiểu thuyết của chiến tranh, về
chiến tranh, vừa là “nỗi thống khổ đớn đau”, vừa là đỉnh “vinh quang hạnh phúc”
của cả một dân tộc.
Cùng với Nguyễn Trọng Oánh, nhà văn Bảo Ninh với tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh thực sự trở thành một “điểm nhấn”, một hiện tượng đặc biệt thu hút sự
quan tâm của đông đảo người viết, kể cả giới sáng tác lẫn nghiên cứu phê bình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status