NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG đào tạo, bồi DƯỠNG GIÁO VIÊN ở TRƯỜNG đại học VINH đáp ỨNG yêu cầu đổi mới GIÁO dục - Pdf 35

HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
GS.TS. Đinh Xuân Khoa; PGS.TS. Phạm Minh Hùng
Trường Đại học Vinh
Tóm tắt: Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo GV trong giai đoạn hiện nay là
một yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng; góp phần đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nước
nhà. Là một trong 7 trung tâm đào tạo giáo viên chất lượng cao của cả nước, Trường
Đại học Vinh càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trong việc đổi mới và
nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên và đã đề xuất được 6 giải pháp nhằm
thực hiện nhiệm vụ đó.
Trường Đại học Vinh được thành lập từ năm 1959. Trải qua 57 năm xây dựng
và phát triển, từ một trường Đại học sư phạm (ĐHSP), đến nay Trường ĐH Vinh đã
trở thành trường ĐH đa ngành. Tuy đã chính thức chuyển sang đào tạo đa ngành từ
năm 2001 nhưng Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường vẫn luôn luôn coi trọng đào tạo
sư phạm (SP), lấy chất lượng đào tạo SP làm nòng cốt để nâng cao chất lượng đào tạo
các ngành ngoài SP.
1. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của Trường Đại học Vinh
Trường ĐH Vinh có bề dày truyền thống đào tạo SP hơn nửa thế kỉ. Chất lượng
và uy tín đào tạo SP của Nhà trường đã được khẳng định và là niềm tự hào của các thế
hệ cán bộ, giảng viên (GV), sinh viên (SV) Nhà trường.
1.1. Thực trạng các ngành đào tạo, đội ngũ giảng viên sư phạm
Hiện tại, Trường Đại học Vinh đang đào tạo 14 ngành SP, bao gồm các ngành
SP Toán học, SP Vật lý, SP Hóa học, SP Sinh học, SP Tin học, SP Ngữ văn, SP Lịch
sử, SP Địa lý, SP Tiếng Anh, Giáo dục Chính trị, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Quốc
phòng - An ninh, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non.
Trong 57 năm qua, Trường ĐH Vinh đã đào tạo hơn 50.000 giáo viên các cấp.
Giáo viên được đào tạo từ Nhà trường đã có mặt ở mọi miền Tổ quốc, đóng góp xứng
đáng vào sự nghiệp GD&ĐT của đất nước. Hàng trăm cựu sinh viên SP của Nhà

phương pháp dạy học ở Trường ĐH Vinh. Sau 14 năm đổi mới, Nhà trường đã thu
được những kết quả bước đầu:
- Làm thay đổi nhận thức của GV
Đa số GV đều ý thức được sự cần thiết phải đổi mới PPDH. Nếu không đổi
mới PPDH thì không thể nâng cao được chất lượng đào tạo. GV cũng nhận thức được
đổi mới PPDH thực chất là một cuộc cách mạng trong giáo dục nói chung và trong trường đại học nói riêng. Đổi mới PPDH đòi hỏi mỗi GV phải biết tự vượt mình, phải
đầu tư nhiều công sức cho việc tổ chức quá trình học và tự học, tự nghiên cứu của SV,
thông qua sử dụng hợp lý các PP, hình thức dạy học.
- Các PPDH truyền thống được cải tiến, các PPDH mới được đưa vào sử dụng
một cách rộng rãi
Đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ, phủ nhận sạch trơn các PPDH truyền
thống. Tuy nhiên cũng không thể sử dụng các PPDH truyền thống như trước đây. Vì

272


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

thế, trong quá trình giảng dạy, GV đã biết kết hợp sử dụng PP thuyết trình với PP đàm
thoại, thảo luận. Các PPDH mới như: Thảo luận nhóm, giải quyết vấn đề, hợp tác,
tình huống, nghiên cứu… cũng được đưa vào sử dụng ngày càng phổ biến ở các
ngành đào tạo SP cũng như ở GV của Nhà trường. Với việc sử dụng ngày càng nhiều
PPDH mới đã dần dần thay đổi cách dạy, cách học của GV và SV theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động của người học, lấy người học làm trung tâm.
- Công nghệ thông tin được khai thác, phục vụ đắc lực cho đổi mới PPDH
Việc đổi mới PPDH sẽ không mang lại hiệu quả cao, nếu không có sự hỗ trợ
đắc lực của công nghệ thông tin (CNTT). Ý thức được vai trò quan trọng của CNTT
nên trong những năm qua, Trường Đại học Vinh đã tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng
CNTT nhằm phục vụ tốt hơn công tác quản lý nhà trường nói chung, quản lý đào tạo
theo hệ thống tín chỉ và đổi mới PPDH nói riêng. Đến nay, Nhà trường đã có hơn 60%

Từ năm học 2007-2008, Trường ĐH Vinh đã chuyển sang đào tạo theo hệ
thống tín chỉ. Công tác tư vấn học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH) cho SV trở thành
một “khâu”, một “mắt xích” của quá trình đào tạo. Nhà trường đã nhanh chóng xây
dựng hệ thống Cố vấn học tập, bao gồm những GV có kinh nghiệm để giúp đỡ SV
trong học tập và NCKH. Đội ngũ này không ngừng được mở rộng. Nhà trường đã có
định hướng trong thời gian tới, tất cả GV đều có trách nhiệm tư vấn, giúp đỡ SV trong
học tập và NCKH. Vì thế, mỗi GV phải nắm vững nhiệm vụ tư vấn, giúp đỡ SV trong
học tập và NCKH. Quan trọng hơn, họ phải có kỹ năng tư vấn, giúp đỡ SV trong học
tập và NCKH.
iii) Tổ chức các hoạt động ngoại khóa và các hoạt động giáo dục cho sinh viên.
Để có thể trở thành một giáo viên giỏi, ngoài việc nắm vững tri thức khoa học,
có năng lực sư phạm, người giáo viên còn phải có các kỹ năng mềm khác. Các kỹ
năng này phần lớn được hình thành trong quá trình học tập ở trường/khoa SP, thông
qua việc SV tích cực tham gia vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp do GV tổ chức. Vì
thế, Nhà trường đã chỉ đạo các khoa/ngành SP đưa vào chương trình đào tạo các hoạt
động ngoại khóa và các hoạt động giáo dục để rèn luyện cho SV những kỹ năng tổ
chức các hoạt động này.
iv) Bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên
Trong những năm qua, Nhà trường đã tổ chức hoặc cử GV tham gia nhiều hội
nghị, hội thảo, tập huấn chuyên đề về đổi mới PPDH và KTĐG; xây dựng nguồn tư
liệu hỗ trợ đổi mới PPDH và KTĐG; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
các hoạt động đổi mới PPDH và KTĐG. Nhà trường cũng đã cử GV tham dự các
chương trình bồi dưỡng về đổi mới PPDH và KTĐG do Bộ GD&ĐT tổ chức (thông
qua các dự án).
Khi tham gia Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN, hàng trăm lượt GV
của Nhà trường đã được bồi dưỡng về các vấn đề như: Phát triển chương trình đào tạo
giáo viên THPT; Mô hình đào tạo giáo viên THPT ở một số quốc gia trên thế giới;
Phương pháp luận giảng dạy hiện đại; Xây dựng môi trường học tập tích cực cho SV;
Công tác đánh giá kết quả học tập; Các phương tiện hỗ trợ giảng dạy và học tập… Các


học cơ bản (KHCB) và NVSP. Ưu điểm của mô hình này là có tính tích hợp cao giữa
hai khối kiến thức KHCB và NVSP, nhưng hạn chế của nó là sự cứng nhắc ở đầu ra
(người đã có một bằng ĐH rồi muốn trở thành GV cũng không thể có lối vào).
+) Mô hình chuyển tiếp là mô hình đào tạo khối kiến thức KHCB trước, khối
kiến thức NVSP sau. Ưu điểm của mô hình chuyển tiếp là cung cấp cho người học một
nền tảng kiến thức khoa học vững chắc, đồng thời tạo ra một đầu vào “mở” cho nghề
SP. Còn hạn chế của mô hình này là thiếu sự tích hợp giữa hai khối kiến thức KHCB
và NVSP.

275


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

+) Mô hình mô hình 3+1. Trong đó 3 năm đầu đào tạo tại trường ĐHSP. SV
được chuẩn bị đầy đủ cả kiến thức KHCB, lẫn kiến thức NVSP. Một năm sau, SV
được đào tạo tại trường phổ thông; chủ yếu là thực hành tất cả các công việc của người
giáo viên (dạy học, giáo dục, hoạt động xã hội…). Trường phổ thông thực sự tham gia
vào quá trình đào tạo giáo viên.
+) Mô hình của Trường ĐHSP Hà Nội là mô hình chia thành 2 giai đoạn:
* Giai đoạn đầu, đào tạo theo hướng tích hợp để khi kết thúc giai đoạn này, SV
nếu ra trường, có thể dạy được các môn học tích hợp ở THCS.
* Giai đoạn hai, đào tạo theo hướng phân hóa để khi tốt nghiệp, SV vừa có thể
dạy được các môn học tích hợp ở THCS, vừa có thể dạy được các môn học phân hóa ở
THPT và có thể tiếp tục học lên trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.
+) Mô hình của Phần Lan
Phần Lan cách đây hơn 30 năm không còn trường SP. Giáo viên được đào tạo
trong tất cả các trường đại học. Khi SV tốt nghiệp xuất sắc (hoặc giỏi) một ngành học

được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực, tiếp cận CDIO. Theo các hướng tiếp cận
này, khoa/ngành SP cần xác định hệ thống các năng lực chung và năng lực riêng mà
mỗi SV phải đạt được, nếu muốn trở thành GV trong tương lai. Trên cơ sở đó mới lựa
chọn các lĩnh vực kiến thức/học phần bắt buộc, tự chọn có vai trò cụ thể trong việc
hình thành và phát triển những năng lực chung và năng lực riêng cho SV.
+) Các học phần trong CTĐT, trước hết là các học phần NVSP sẽ được cấu trúc
lại cho phù hợp với tiếp cận phát triển năng lực và phẩm chất của người giáo viên.
Chẳng han, các học phần Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn
được cấu trúc lại thành các học phần: Phát triển học sinh theo lứa tuổi (Tiểu học,
THCS, THPT); Tổ chức hoạt động giáo dục ở trường phổ thông (Tiểu học, THCS,
THPT); Tổ chức hoạt động dạy học ở trường phổ thông (Tiểu học, THCS, THPT);
Phát triển chương trình phổ thông (Tiểu học, THCS, THPT); Sử dụng hiệu quả các
phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học - giáo dục ở trường phổ thông
(Tiểu học, THCS,THPT)...
+) CTĐT của các khoa/ngành SP phải đặc biệt coi trọng việc đào tạo NVSP,
trang bị các kiến thức về khoa học đánh giá, đo lường trong giáo dục, về giáo dục hòa
nhập, giáo viên chủ nhiệm lớp và tư vấn, hướng nghiệp; giáo dục nhân cách, đạo đức,
lối sống và năng lực nghề nghiệp cho SV. Nhà trường đã tăng thời lượng các học phần
NVSP lên từ 25-30% của CTĐT.
2.3.2. Về nội dung chương trình bồi dưỡng giáo viên
Nhà trường chủ động xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên, tập trung
vào các vấn đề sau đây: 1) Người giáo viên phổ thông trong bối cảnh đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT (vai trò của giáo viên; đặc trưng lao động nghề nghiệp mới của
giáo viên; các yêu cầu về phẩm chất và năng lực đối với giáo viên; những thách thức
đối với người giáo viên ...); 2) Phát triển chương trình giáo dục phổ thông (khái niệm
chương trình, chương trình khung, khung chương trình và đề cương môn học; cấu trúc
chương trình; Quy trình phát triển chương trình giáo dục phổ thông...); 3) Dạy học tích
hợp và phân hóa ở trường phổ thông (Khái niệm dạy học tích hợp và phân hóa; nội
dung dạy học tích hợp và phân hóa; phương pháp dạy học tích hợp và phân hóa...) 4)


Việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV trong các khoa/ngành
SP phải tiến hành một cách đồng bộ, cả về nội dung, phương pháp và hình thức.
2.4.1. Về nội dung kiểm tra, đánh giá
Nội dung kiểm tra, đánh giá phải mang tính chất toàn diện, theo hướng chú
trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp;
năng lực nghiên cứu và ứng dụng KHGD; năng lực thực hành, năng lực tổ chức hoạt
động dạy học - giáo dục, năng lực thích nghi với các loại hình nhà trường phổ thông...
Từ đó, cụ thể hóa vào việc đánh giá từng môn học, từng hoạt động của SV.
2.4.2. Về phương pháp kiểm tra, đánh giá

278


HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

Tùy theo đối tượng đánh giá là kiến thức, kỹ năng hay thái độ mà sử dụng các
phương pháp đánh giá (quan sát, vấn đáp, trắc nghiệm viết) thích hợp. Mỗi phương
pháp đánh giá đều có ưu điểm và hạn chế của nó nhưng đều có tác dụng trong việc
phát triển năng lực nghề nghiệp của SV. Nếu phương pháp vấn đáp đánh giá được kỹ
năng diễn đạt, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói của SV thì phương pháp trắc
nghiệm viết (tự luận) lại đánh giá được kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn đề bằng ngôn
ngữ viết của SV.
2.4.3. Về hình thức kiểm tra, đánh giá
Hình thức kiểm tra, đánh giá cũng cần được đa dạng hóa, kết hợp chặt chẽ giữa
đánh giá thường xuyên/quá trình với đánh giá kết thúc học phần/môn học; giữa đánh
giá của giảng viên với tự đánh giá của SV; đánh giá của các trường/khoa SP với đánh
giá của các cơ sở giáo dục...
2.5. Tăng cường sự gắn kết giữa các khoa/ngành sư phạm với các cơ sở giáo
dục trong đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên
Các cơ sở giáo dục (trường mầm non, trường phổ thông) vừa là “thị trường lao

cầu cấp thiết nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, nâng cao chất lượng; góp phần đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nước nhà. Là
một trong 7 trung tâm đào tạo giáo viên chất lượng cao của cả nước, Trường Đại học
Vinh càng ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trong việc đổi mới và nâng cao
chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Chương trình phát triển ngành sư phạm và các
trường sư phạm, giai đoạn 2011-2020.
Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN (2009), Mô hình đào tạo giáo viên
THPT và TCCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Tài liệu hội thảo, Hà Nội.
Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành
Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

280




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status