I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUC CNG
"Danh nghĩa Lịch sử"
trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc Tế
về chủ quyền biển và hải đảo d-ới góc độ Luật quốc tế
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUC CNG
"Danh nghĩa Lịch sử"
trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc Tế
về chủ quyền biển và hải đảo d-ới góc độ Luật quốc tế
Chuyờn ngnh: Lut Quc t
Mó s: 60 38 01 08
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN B DIN
H NI - 2015
1.1.1. Nguồn gốc của khái niệm ..................................................................... 8
1.1.2. Vị trí của “danh nghĩa lịch sử” trong luật biển quốc tế...................... 11
1.2.
Định nghĩa và các yếu tố cấu thành nên “danh nghĩa lịch sử” .... 16
1.2.1. Định nghĩa của “danh nghĩa lịch sử” ................................................. 16
1.2.2. Các Yếu tố Cấu thành nên “Danh nghĩa Lịch sử” ............................. 19
1.3.
“Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn hành vi quốc gia ................ 32
1.4.
Tầm quan trọng của “danh nghĩa lịch sử” trong luật pháp quốc tế .. 34
Chương 2: “DANH NGHĨA LỊCH SỬ” TRONG THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ .............................................. 35
2.1.
Vụ việc Đảo Palmas giữa Hoa Kỳ và Hà Lan năm 1928 .............. 35
2.1.1. Khái quát về tranh chấp ...................................................................... 35
2.1.2. Khái quát Phán quyết của Trọng tài viên ........................................... 36
2.1.3. Đánh giá về Phán quyết của Trọng tài viên ....................................... 40
2.2.
Tranh chấp về chủ quyền trên hai nhóm đảo Minquiers và
Ecrehos giữa Anh và Pháp .............................................................. 41
3.1.1. Tóm tắt tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông .................................. 58
3.1.2. Khái quát yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông ....... 60
3.2.
Phân tích các yếu tố cấu thành nên“danh nghĩa lịch sử” của
Trung Quốc đối với các đảo trên Biển Đông ................................. 63
3.2.1. Sự thực thi chủ quyền hòa bình và liên tục trong một khoảng thời
gian đáng kể........................................................................................ 63
3.2.2. Sự công nhận của các quốc gia khác .................................................. 75
3.2.3. Sự phản đối liên tục từ bên ngoài ....................................................... 86
3.3.
Nhận định về “danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc ................... 92
KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 97
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHND Trung Hoa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
CHXHCN Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia đối với chủ quyền biển và hải đảo
diễn ra phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
tất yếu cũng không tránh khỏi xu thế đó. Nhiều tranh chấp giữa các quốc gia
tại khu vực này về chủ quyền biển và hải đảo đã tồn tại dai dẳng nhiều thập
niên, mà tiêu biểu phải kể đến tranh chấp giữa Trung Quốc với Nhật Bản trên
Biển Hoa Đông hay giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á (Việt Nam,
Philippin, Brunei,…) trên Biển Đông. Một điều dễ nhận thấy đó là trong các
tranh chấp này, Trung Quốc luôn tuyên bố rằng mình có “danh nghĩa lịch sử”
hợp pháp đối với các khu vực đang có tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa
Đông. Vậy khái niệm “danh nghĩa lịch sử” ấy là như thế nào?
Trong lịch sử lâu dài các tranh chấp quốc tế về chủ quyền biển và hải
đảo, có nhiều lý do được các quốc gia đưa ra nhằm hợp thức hóa cho các lập
luận nhằm củng cố cho yêu sách của mình như là xuất phát từ hiệu lực của
điều ước quốc tế; các lý do về kinh tế, chính trị, văn hóa; quyền phát sinh từ
hoạt động chiếm cứ hữu hiệu, v…v… Một trong những phương tiện pháp lý
được nhiều quốc gia dựa vào là “danh nghĩa lịch sử”. Trên thực tế, đến nay
vẫn chưa tồn tại một định nghĩa toàn diện và thống nhất về khái niệm “danh
nghĩa lịch sử” được ghi nhận trong các điều ước quốc tế. Một văn kiện pháp
lý quan trọng điều chỉnh hành vi của các quốc gia trên biển là Công ước Luật
Biển của Liên Hợp Quốc 1982 cũng chỉ đề cập tới khái niệm này qua tên gọi
(như là tại các Điều 15 hay Điều 298) mà không đưa ra định nghĩa rõ ràng về
“danh nghĩa lịch sử”. “Danh nghĩa lịch sử” nhìn chung chỉ được qui định
thông qua hệ thống tập quán pháp và án lệ pháp quốc tế và có thể thấy các nhà
nghiên cứu luật học trên thế giới khi xây dựng khái niệm về “danh nghĩa lịch
công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới, tiêu biểu có thể kể đến:
2
- Kozlowski A., The Legal Construct Of Historic Title to Territory in
International Law – An Overview, Polish Yearbook of International Law, Vol.
30 (2010), pp. 61 – 100.
- Blum Y.Z, Historic Titles in International Law, M. Nijhoff, La Haye;
1965, pp. 53 – 55.
- Blum Y.Z., “Historic Rights”, in Rudolf Bernhardt (ed.),
Encyclopedia
of
Public
International
Law,
Installment
7
(Amsterdam:North-Holland Publishing Co., 1984).
- Gioia A., Historic Titles in Rudiger Wolfrum (ed), Max Planck
Encyclopedia of Public International Law, vol IV (Oxford, OUP, 2012)
819 MN 17.
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về công pháp quốc tế nói
chế tài phán quốc tế để giải quyết trong đó các bên (hoặc một bên) trong tranh
chấp chủ yếu dựa vào “danh nghĩa lịch sử” để củng cố cho yêu sách của mình,
và cách thức cơ quan tài phán biện luận để đưa ra phán quyết của mình đối
với căn cứ đó, từ đó rút ra một số điểm mang tính mấu chốt trong quan điểm
của cơ quan tài phán quốc tế về “danh nghĩa lịch sử”; Phân tích “danh nghĩa
lịch sử” mà Trung Quốc đưa ra trong tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông từ
đó dự đoán về mức độ thuyết phục của chúng trong trường hợp các bên đồng
ý đưa vụ việc ra giải quyết tại một cơ quan tài phán quốc tế.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là khái niệm “danh nghĩa lịch sử” trong công
pháp quốc tế;
- Phạm vi nghiên cứu: các quy định của luật thành văn, tập quán pháp,
học thuyết và đặc biệt là hệ thống án lệ về “danh nghĩa lịch sử”.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên c ơ sở phương pháp biện chứng duy vật ,
phương pháp tổ ng hơ ̣p , thố ng kê, phương pháp phân tích, phương pháp quan
sát, so sánh,...
4
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầ u và kế t luận , nội dung dự kiến của luận văn bao gồm
ba phần lớn với những ý tưởng triển khai tập trung vào:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về “danh nghĩa lịch sử” trong luật
pháp quốc tế.
Chương 2. “Danh nghĩa lịch sử” trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
quốc tế.
Chương 3. “Danh nghĩa lịch sử - các quyền lịch sử” của Trung Quốc
tại Biển Đông dưới góc độ luật pháp quốc tế.
6
Legal Construct Of Historic Title to Territory in International Law – An
Overview), Yehuda Blum (Historic Titles in International Law), Andrea Gioia
(Historic Titles). Thậm chí, có học giả còn cho rằng giữa những thuật ngữ này
dường như không có sự phân biệt đáng kể, điển hình như Kozlowski đã cho
rằng: “Như vậy, nếu đối tượng được cân nhắc ở đây là danh nghĩa lịch sử
(đôi khi cũng được nhắc đến như là danh nghĩa có tính chất lịch sử)…”
(Thus, if the object of consideration here is historic title (also sometimes
referred to as historical title)…) [48, tr.63]. Trong phán quyết của tòa trọng tài
trong vụ việc Eritrea/Yemen (Giai đoạn I – Chủ quyền lãnh thổ và phạm vi
của tranh chấp), tòa và các bên cũng sử dụng thuật ngữ “historic title” [50].
Như vậy, dường như ở đây vấn đề về tên gọi của học thuyết này đạt được một
sự nhất quán tương đối cao trong luật pháp quốc tế, và cái được quan tâm đến
nhiều hơn ở đây là những nội hàm bên trong của nó, mà sẽ được phân tích chi
tiết hơn tại phần dưới.
Thứ ba, có một điều chắc chắn là bên cạnh “các vùng nước lịch sử vịnh lịch sử”, dường như là khái niệm danh nghĩa lịch sử có thể áp dụng
tương tự cho những nỗ lực nhằm chứng minh các quyền chủ quyền đối với
các vùng lãnh thổ đất liền trên biển [48, tr.64]. Một khi đã phân tích nghiên
cứu các phán quyết của tòa án quốc tế thì khó có thể bác bỏ được ý kiến này.
Thuật ngữ “danh nghĩa lịch sử” xuất hiện trong phán quyết nổi tiếng của Tòa
án Công lý Quốc tế (ICJ) trong tranh chấp giữa Anh và Na Uy về quyền tự
do đánh bắt trong Biển Bắc (1951) [31]. Vụ việc này là về nỗ lực của Na Uy
nhằm mở rộng lãnh hải của mình sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng,
có dựa vào tập quán lịch sử. Khái niệm danh nghĩa lịch sử, mặc dù xuất hiện
dưới một tên gọi khác là “danh nghĩa cổ xưa hoặc ban đầu”, cũng đã được
ICJ dựa vào trong Phán quyết năm 1953 của mình trong tranh chấp giữa
Pháp và Vương Quốc Anh liên quan đến các quyền đối với hai nhóm đảo
8
quốc tế là vào năm 1956, tại phiên họp thứ tám của Ủy ban Luật pháp Quốc
tế. Khi đó Ủy ban hoàn thành dự thảo cuối cùng về các điều khoản của Ủy
ban liên quan đến Luật Biển và dự thảo này sau đó đã được Đại Hội đồng
Liên hợp Quốc đưa ra tại Hội nghị lần thứ Nhất của Liên Hợp Quốc về Luật
Biển tổ chức vào năm 1958 tại Geneva để xem xét. Điều 7 của dự thảo đề cập
đến các vịnh; hai khoản 1 và 3 có định nghĩa về một vịnh và đặt ra các quy tắc
cho việc phân định nội thủy tại một vịnh (các bờ vịnh thuộc về một một quốc
gia duy nhất), trong khi khoản 4 có một đoạn như sau:
“4. Các quy định nói trên sẽ không áp dụng cho cái-gọi-là vịnh lịch
sử…” [45, đoạn 2, tr.1].
Hội nghị của Liên hợp Quốc về Luật Biển tổ chức tại Geneva vào
ngày 24/2/1958 đã đưa các điều luật trong bản dự thảo của Ủy ban Luật
pháp Quốc tế đề cập tới lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, bao gồm Điều 7
về các vịnh, tới Ủy ban số Một của Hội nghị để xem xét. Tại cuộc họp lần
thứ ba của Ủy ban, trong mối liên hệ tới việc tổ chức hoạt động của Ủy ban,
đại diện của Panama đề xuất rằng Ủy ban nên thành lập một tiểu ban để
nghiên cứu vấn đề về các vịnh và đặc biệt là vấn đề quy chế pháp lý của các
“vịnh lịch sử”. Vị đại diện này đã nhắc tới bị vong lục của Ban Thư kí được
nhắc tới ở trên và chỉ ra rằng:
Việc các văn kiện quốc tế sẽ được Hội nghị soạn thảo đề
cập tới các vấn đề như là định nghĩa của vịnh lịch sử, các quyền
của quốc gia ven biển hoặc của các quốc gia ven biển, thủ tục để
tuyên bố một vịnh là “lịch sử”, các điều kiện cho sự công nhận
của các quốc gia khác, và việc giải quyết hòa bình các tranh chấp
phát sinh từ sự phản đối của những quốc gia khác có vai trò tối
quan trọng [45, đoạn 9, tr. 2].
nội dung là nghiên cứu về vấn đề này nên được tổ chức như thế thế nào. Cuối
10
cùng đã có thỏa thuận chung rằng nghiên cứu này nên được giao phó cho Ủy
ban Luật pháp Quốc tế. Ủy ban số Sáu nhất trí thông qua và đệ trình lên Đại
Hội đồng một bản dự thảo nghị quyết vì mục đích đó, và tại phiên họp toàn thể
số 847 vào ngày 7/12/1959, Đại Hội đồng đã thông qua nghị quyết 1453 (XIV):
Đại Hội đồng,
Nhớ lại rằng, qua một nghị quyết được thông qua vào ngày
27/4/1958, Hội nghị Liên hợp Quốc về Luật Biển đã đề nghị Đại
Hội đồng Liên hợp Quốc lên kế hoạch cho một nghiên cứu về chế
độ pháp lý của các vùng nước lịch sử, bao gồm các vịnh lịch sử, và
cho việc gửi các kết quả của nghiên cứu nói trên tới tất cả các quốc
gia thành viên của Liên hợp Quốc,
Đề nghị Ủy ban Luật pháp Quốc tế, ngay khi Ủy ban xét thấy
thích hợp, tiến hành nghiên cứu về vấn đề chế độ pháp lý của các vùng
nước lịch sử, bao gồm các vịnh lịch sử, và đưa ra các khuyến nghị liên
quan đến vấn đề này mà Ủy ban thấy là phù hợp [45, đoạn 24, tr. 4].
Dựa trên Nghị quyết này, Ủy ban Luật pháp Quốc tế đã giao cho Bộ
phận Pháp điển Hóa thuộc Văn phòng về các Vấn đề Pháp lý của Ban Thư kí
Liên hợp Quốc thực hiện một nghiên cứu về chế độ pháp lý về các vùng nước
lịch sử, bao gồm các vịnh lịch sử, và đến năm 1962 báo cáo này đã hoàn
thành. Mặc dù chỉ mang tính chất là một bài giới thiệu sơ bộ về học thuyết
này, Báo cáo của Ban Thư kí đã trình bày được một số khía cạnh rất quan
trọng của “vùng nước lịch sử - vịnh lịch sử” nói chung và “danh nghĩa lịch
sử” nói riêng, mà sẽ được phân tích tại phần sau.
1.1.2. Vị trí của “danh nghĩa lịch sử” trong luật biển quốc tế
Vào thời điểm nghị quyết về việc chuẩn bị báo cáo nói trên mới chỉ
mình một tài liệu quý giá của Ban Thư kí (A/CONF.13/1). Vấn đề
các vịnh lịch sử có một tầm quan trọng lớn lao, như đã được công
nhận bởi các tác giả danh tiếng, như là Bustamente và Gidel. Gidel
12
coi các vịnh lịch sử như là một cái van an toàn trong luật biển, và
xét thấy rằng, nếu các quốc gia từ chối chấp nhận học thuyết này sẽ
khiến cho việc đạt được một thỏa thuận về những quy tắc chung về
các vùng biển trở thành điều bất khả thi. Thực tiễn quốc gia đối với
các vịnh lịch sử cũng không kém phần quan trọng; có nhiều vịnh
được khẳng định là “lịch sử” bởi các điều ước quốc tế và tuyên bố
của các chính phủ, và một vài trong số đó đã được các phán quyết
trọng tài công nhận đúng là như vậy [78].
Bất kể những sự kiện diễn ra tại hội nghị năm 1958 là như thế nào, khái
niệm pháp lý của các vịnh lịch sử - vùng nước lịch sử, khi Hội nghị Liên hợp
Quốc lần thứ Ba về Luật Biển bắt đầu tiến hành nghiên cứu, đã sẵn sàng để
được cân nhắc lại. Một cơ hội nữa lại được mở ra để học thuyết này được
pháp điển hóa trong một điều ước quốc tế đa phương có tầm ảnh hưởng lớn
lao như là Công ước Luật biển. Quả thực chủ đề này đã được thảo luận một
cách tích cực tại Phiên họp thứ Hai của Hội nghị (tổ chức tại Caracas).Ví dụ,
Ông Herrera Caceras (đại diện của Honduras) đã nhận định, sau khi lưu ý
rằng quốc gia của ông không phải là một bên tham gia vào bất kì công ước
nào trong số các Công ước Geneva năm 1958 về Luật Biển, rằng:
Honduras là một trong ba quốc gia ven biển giáp với Vịnh
Fonseca trong Thái Bình Dương. Vịnh này hoàn toàn chỉ được điều
chỉnh bởi các thỏa thuận và hoạt động phân định hiện hành giữa các
quốc gia ven biển. Khái niệm pháp lý có tại điều 7 Công ước Geneva
năm 1958 về Lãnh hải và Vùng Tiếp giáp Lãnh hải sẽ được áp dụng
nước bên trong Vịnh lịch sử Amatique là nội thủy, và từ trước đến nay đã
luôn luôn thuộc chủ quyền của Guatemala” [35].
Tuy nhiên, kết quả cuối cùng lại là chủ đề này chỉ được đề cập đến một
cách gián tiếp đúng ba lần trong Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển năm
1982. Khoản 6 Điều 10 quy định rằng đường cơ sở thẳng 24 hải lý của cửa
14
vào tự nhiên của các vịnh “không áp dụng cho những cái gọi là “các vịnh lịch
sử”. Điều 15 công nhận sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử tại những vùng nước
bằng việc miễn trừ những vùng nước đó khỏi hiệu lực của nguyên tắc cách
đều – nguyên tắc được Điều này qui định cho việc phân định lãnh hải giữa các
quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau, trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận khác. Các vùng nước lịch sử một lần nữa được công
nhận tại Điều 298 khoản 1 theo đó trao cho các quốc gia thành viên được viện
dẫn “những ngoại lệ tùy chọn đối với khả năng áp dụng Mục 2” (vốn thiết lập
nên các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc kéo theo những quyết định có
tính ràng buộc), bao gồm các tranh chấp “liên quan đến các vịnh hoặc danh
nghĩa lịch sử”. “Ngoại lệ tùy chọn” này có thể được một bên trong điều ước
viện dẫn bằng cách đưa ra một tuyên bố bằng văn bản. Mặc khác, các thủ tục
giải quyết tranh chấp thay thế là bắt buộc đối với các bên trong trường hợp
“các cuộc đàm phán giữa các bên đã không đi đến được một thỏa thuận nào
trong một khoảng thời gian hợp lý”.
Lý do để hai công ước quốc tế về luật biển do Liên hợp Quốc bảo trợ
(vốn được soạn thảo với mục đích pháp điển hóa các quy tắc phù hợp của luật
biển quốc tế) không đưa ra được một khái niệm về các vùng nước lịch sử vịnh lịch sử hay là quy định về phương thức chúng được thụ đắc cũng như các
quyền và lợi ích kéo theo, có thể tìm thấy được trong sự thiếu dứt khoát của
Ủy ban Luật pháp Quốc tế khi phát sinh nhu cầu về việc thiết lập nên các khía
cạnh cần thiết của một khái niệm cụ thể. Ủy ban cũng phải đối mặt bởi sự khó
quán pháp quốc tế, và đặc biệt là án lệ pháp của các tòa án và tòa trọng tài
quốc tế - trọng tâm của bài viết này.
1.2. Định nghĩa và các yếu tố cấu thành nên “danh nghĩa lịch sử”
1.2.1. Định nghĩa của “danh nghĩa lịch sử”
Như đã phân tích ở trên, theo luật pháp quốc tế thì không tồn tại một
16
định nghĩa chính thức của thuật ngữ “danh nghĩa lịch sử” – hay còn có thể
được đề cập đến với tên gọi có ý nghĩa tương tự là “các quyền lịch sử”. Khi
Ban Thư kí LHQ, theo yêu cầu của ILC, chuẩn bị báo cáo về chế độ pháp lý
của các vùng nước lịch sử, bao gồm các vịnh lịch sử, công trình nghiên cứu
này đã phân tích các yếu tố của danh nghĩa đối với vùng nước lịch sử, và việc
giải quyết các tranh chấp. Tuy vậy, nó không đưa ra một khái niệm mang tính
kết luận về vùng nước lịch sử và tiêu chuẩn để theo đó khái niệm này có thể
được áp dụng. Do đó vấn đề lý thuyết về khái niệm vùng nước lịch sử vẫn
chưa được giải quyết. Do sự tranh cãi xung quanh khái niệm này, Hội nghị
lần thứ Ba của Liên hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS III) đã chấm dứt thảo
luận về vấn đề và chỉ nhắc đến nó rất ít trong Công ước Liên hợp Quốc về
Luật Biển năm 1982 – UNCLOS 1982 (đã được đề cập ở trên). Về vấn đề này
dưới góc độ án lệ pháp quốc tế, bên cạnh phán quyết trong Vụ việc Trọng tài
Thẩm quyền Nghề cá tại Bờ biển Đại Tây dương năm 1910 ở trên, tòa trọng
tài trong vụ việc Eritrea/Yemen (Giai đoạn về chủ quyền lãnh thổ và phạm vi
tranh chấp) – một vụ việc mà các bên trực tiếp viện dẫn đến danh nghĩa lịch
sử (sẽ được đề cập đến chi tiết hơn tại phần dưới đây) – cũng chỉ đưa ra một
nhận định mơ hồ như sau:
Không nghi ngờ gì là khái niệm danh nghĩa lịch sử có một ý
nghĩa đặc biệt trong những tình huống mà thậm chí là tồn tại trong
thế giới đương đại hiện nay, chẳng hạn như tình huống phải xác
và kinh tế của nước này – sẽ, sau một khoảng thời gian, được coi là có danh
nghĩa lịch sử đối với những vùng nước có liên quan, với điều kiện là các quốc
gia hữu quan khác đã liên tục chấp nhận những hoàn cảnh như vậy” [27, tr. 137].
Như vậy, có thể thấy ngay cả trong giới học giả quốc tế trong lĩnh vực
công pháp quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng cũng khó thống
nhất được về một khái niệm hoàn chỉnh về “danh nghĩa lịch sử”, và điều này
vẫn tiếp diễn cho đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, có một yếu tố mà gần như
18
mọi tác giả đều đạt được một sự nhất trí chung, đó là về các yếu tố cấu thành
nên danh nghĩa lịch sử. Trên thực tế, đây là yếu tố có thể coi là quan trọng
nhất đối với học thuyết này, thậm chí còn quan trọng hơn cả việc xây dựng
nên được một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên
cứu công pháp quốc tế. Bởi vì có đáp ứng được những yếu tố cấu thành này
thì một quốc gia, trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển – hải đảo của
nước này với quốc gia khác, khi yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với vùng
lãnh thổ trên biển mới có nhiều khả năng thuyết phục được Tòa án xét xử
tranh chấp này.
1.2.2. Các Yếu tố Cấu thành nên “Danh nghĩa Lịch sử”
Như đã đề cập đến ở trên, dường như có một sự chấp nhận chung là có
ít nhất ba yếu tố phải được tính tới khi xác định xem liệu một quốc gia đã có
được một danh nghĩa lịch sử đối với một vùng biển hay chưa. Những yếu tố
này là: (1) sự thực thi quyền lực trên khu vực bởi quốc gia đang yêu sách
quyền lịch sử; (2) tính liên tục của hoạt động thực thi quyền lực này; (3) thái
độ của các quốc gia khác. Trước tiên, một quốc gia phải thực thi quyền lực
trên vùng lãnh thổ đang xét tới để nhằm có được một danh nghĩa lịch sử đối
với lãnh thổ đó. Thứ hai, hành động thực thi quyền lực đó phải diễn ra liên tục
trong một khoảng thời gian đáng kể; quả thực nó phải được phát triển thành