Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cố PGS.TS.
Trần Công Yên. Mặc dù thầy không còn nữa nhưng những lời khuyên, những bài
học mà thầy dạy dỗ sẽ mãi mãi còn trong tâm trí của em.
Em xin cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Quỳ, người đã tận tình hướng dẫn,
truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm để giúp em hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình làm việc, em luôn nhận được những lời nhận xét, góp ý quý báu từ
cô để có thể thực hiện tốt nghiên cứu của mình. Không những vậy, cô còn luôn dạy
em những bài học làm người vô cùng hữu ích.
Em xin cảm ơn TS. Hoàng Thị Mỹ Nhung, mặc dù cô luôn luôn bận rộn
nhưng vẫn quan tâm tới em, đưa ra những lời chỉ dẫn trong từng thí nghiệm để giúp
em đạt được kết quả tốt nhất. Sự say mê công việc của cô luôn luôn là tấm gương
sáng để em mãi noi theo.
Em xin chân thành cảm ơn CN. Bùi Thị Vân Khánh, ThS. Phí Thị Xuyến,
toàn bộ các em học viên cao học cũng như sinh viên nhóm Ung thư thực nghiệm
đã luôn luôn dành cho em sự quan tâm và giúp đỡ đặc biệt để em có thể hoàn thành
công việc của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS. Nguyễn Xuân Phúc, TS. Hà Thị
Phương Thư, CN. Phạm Hồng Nam, và các anh chị trong nhóm Nghiên cứu Vật
liệu Nano Y sinh, viện Khoa học Vật liệu, trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công
nghệ Quốc gia đã cung cấp vật liệu nano từ và nhiệt tình tạo điều kiện giúp em thực
hiện các thí nghiệm đốt nhiệt – từ.
Em xin gửi lời cảm ơn tới TS.BS Lâm Khánh, bệnh viện Quân đội Trung
ương 108 đã không tiếc thời gian và công sức giúp em hoàn thành thí nghiệm chụp
cộng hưởng từ hạt nhân.
Em xin cảm ơn các thầy cô, các bạn sinh viên phòng thí nghiệm của bộ môn
Thổ nhưỡng và Môi trường Đất, khoa Môi trường, trường Đại học Khoa học Tự
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Phạm Thị Hà Giang
Phạm Thị Hà Giang
2010)
Cao học 17 (2008-
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.....................................................................................................4
1.1.Những khái niệm cơ bản về hạt nano từ và ứng dụng.............................................................4
1.1.1. Vật liệu nano...................................................................................................................4
1.1.2. Hạt nano từ.....................................................................................................................5
1.1.3. Ứng dụng của hạt nano từ trong lĩnh vực sinh y học......................................................6
1.1.3.1. Tách, phân lập các tế bào và thực thể sinh học ra khỏi một môi trường hỗn hợp....7
1.1.3.2. Dẫn truyền thuốc, gen và các nuclide phóng xạ tới mô đích.....................................8
1.1.3.3. Tăng độ tương phản ảnh trong phương pháp chẩn đoán bằng chụp cộng hưởng từ.
.............................................................................................................................................13
1.1.3.4. Liệu pháp nhiệt – từ trong điều trị ung thư............................................................13
1.2.Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).....................................................................................20
1.2.1. Lịch sử phát triển của kĩ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân......................................20
1.2.2. Nguyên lý và kỹ thuật chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).........................................21
1.2.3. Ưu điểm của chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).......................................................25
2.3.3. Phương pháp khảo sát khả năng tạo tương phản ảnh của H01 bằng kỹ thuật chụp cộng
hưởng từ hạt nhân (MRI)........................................................................................................31
2.3.4. Kỹ thuật tiêm tĩnh mạch................................................................................................32
2.3.5. Phương pháp khảo sát hiệu ứng đốt nhiệt – từ ex vivo.................................................33
2.3.5.1. Khảo sát hiệu ứng đốt nhiệt - từ mẫu E6................................................................33
2.3.5.2. Phương pháp khảo sát hiệu ứng đốt – nhiệt từ ex vivo..........................................33
2.3.6. Phương pháp khảo sát sự phân bố nguyên tố sắt (nguồn gốc vật liệu từ) trong một số
cơ quan và khối u của chuột Swiss..........................................................................................34
2.3.6.1. Bằng phương pháp đốt nhiệt từ.............................................................................35
2.3.6.2. Bằng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)......................................................36
2.3.7. Liệu pháp gia nhiệt in vivo............................................................................................38
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.............................................................................................40
3.1. Kết quả gây tạo u rắn dưới da và u đùi trên chuột Swiss......................................................40
3.1.1. Kết quả gây tạo u rắn dưới da.......................................................................................40
3.1.2. Kết quả gây u đùi ở chuột Swiss....................................................................................41
3.2. Kết quả khảo sát độc tính của chất lỏng nano từ H01 và E6 trên các dòng tế bào ung thư và
nguyên bào sợi............................................................................................................................42
3.2.1. Kết quả xác định độc tính của H01................................................................................42
3.2.2. Kết quả xác định độc tính của E6..................................................................................45
3.3. Kết quả khảo sát khả năng tạo tương phản ảnh của H01 bằng kỹ thuật chụp cộng hưởng từ
hạt nhân (MRI)............................................................................................................................47
3.4. Kết quả khảo sát liệu pháp đốt nhiệt từ sử dụng mẫu E6.....................................................49
3.4.1. Kết quả hiệu ứng đốt nhiệt từ mẫu E6..........................................................................49
3.4.2. Kết quả gia nhiệt ex vivo bằng hạt từ E6........................................................................51
3.4.3. Kết quả khảo sát sự phân bố nguyên tố sắt (nguồn gốc vật liệu từ) trong một số cơ
quan và khối u.........................................................................................................................54
Phạm Thị Hà Giang
2010)
AEH
CHHBM
CLT
DIH
DMEM
FBS
IH
MRI
PBS
PEG
PVA
Phạm Thị Hà Giang
VIẾT ĐẦY ĐỦ
Atomic absorption spectrometry
Arterial embolization hyperthermia
Chất hoạt hoá bề mặt
Chất lỏng tử
Direct injection hyperthermia
Dulbecco's modified Eagle's medium
Fetal bovine serum
Intracellular hyperthermia
Magnetic resonance imaging
Phosphate buffered saline
Polyethylene glyco
Polyvinyl acetate
Cao học 17 (2008-2010)
Hình 8. Sự tạo thành vector từ hoá thực.........................................................................................23
Hình 9. Vector từ hoá ngang vuông góc với Oz................................................................................23
Hình 10. Chuột nhắt trắng Swiss......................................................................................................26
Hình 11. Ảnh SEM của mẫu E6 – dung dịch hạt nano từ Fe3O4 bọc bằng Copolime poli (axit acrylic
– styrene), hạt có kích thước khoảng 100nm..................................................................................28
Hình 12. Máy chụp cộng hưởng từ 1.5T (MRI 1.5 Gyroscan Philips)................................................32
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
Hình 13.Hệ thống máy phát từ trường RDO, moel HFI (Mỹ)............................................................34
Hình 14. Hình ảnh máy quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) (Shimadzu – Nhật Bản).....................37
Hình 15. Hình ảnh khối u rắn dưới da sau 6 ngày (A), 10 ngày (B) và 17 ngày (C) cấy truyền...........40
Hình 16. Khối u đùi gây trên chuột Swiss.........................................................................................41
Hình 17. Ảnh hiển vi quang học tế bào MCF7 trước (a) và sau khi bổ sung hạt từ H01 nồng độ
0.1ng/1 tế bào (b) (TK 10 x VK 40 x zoom 5.6).................................................................................43
Hình 18. Hình ảnh tế bào HepG2 khi bổ sung hạt từ H01 ở các nồng độ khác nhau (TK 10 x VK 20 x
zoom 5.6).........................................................................................................................................43
Hình 19. Hình ảnh chuột mang u đùi tiêm tĩnh mạch 150µl hạt từ H01 sau 15 ngày.......................45
Hình 20. Hình ảnh tế bào HepG2 khi bổ sung hạt từ E6 với các nồng độ khác nhau và ủ trong 2 giờ
(TK10 x VK 20 x zoom 4x).................................................................................................................46
Hình 21. Ảnh chụp cộng hưởng từ 3 chuột A, B và C, (1) – hình ảnh cắt từ trước ra sau và (2) - hình
ảnh cắt từ phải sang trái..................................................................................................................48
Hình 22. Hình ảnh khối u của chuột B và C.....................................................................................48
vong hàng đầu trên thế giới trong thế kỷ XXI. Riêng tại Việt Nam, các chuyên gia
cho biết, ước tính, mỗi năm nước ta có thêm khoảng 200.000 người mắc bệnh này
và khoảng 100.000 người sẽ tử vong. Ung thư có thể vẫn sẽ là nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong trên thế giới và Việt Nam trong nhiều thập kỉ tới. Chính vì thế việc
tìm ra phương pháp chẩn đoán sớm và điều trị ung thư có hiệu quả cao hơn là yêu
cầu cấp bách đặt ra cho toàn thể nhân loại.
Các phương pháp điều trị ung thư truyền thống như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị,
nội tiết điều trị hay miễn dịch điều trị tuy mang lại nhiều kết quả tiêu diệt và hạn
chế sự phát triển của khối u nhưng cũng giết chết không ít mô lành gây nguy hại
không nhỏ đến sức khỏe của người bệnh. Nguyên nhân của hiện tượng này là do
phần lớn các phương thức điều trị không chỉ tác động cục bộ lên khối u mà còn ảnh
hưởng đến một bộ phận lớn các mô và cơ quan lành của cơ thể. Vì vậy nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu của các nhà khoa học hiện nay là cần tìm ra một phương pháp
chữa trị ung thư sao cho vừa hiệu quả mà lại ít gây độc đối với cơ thể.
Ngày nay công nghệ vật liệu đang thay làm thay đổi cuộc sống của chúng ta
nhờ vào khả năng can thiệp của con người tại kích thước nm. Vật liệu nano thể hiện
rất nhiều tính chất đặc biệt và lý thú. Một nhánh quan trọng của công nghệ nano, đó
là lý sinh y học nano, trong đó, vật liệu nano được sử dụng để chẩn đoán và điều trị
bệnh.
Ở Việt Nam hạt nano có từ tính đang được các nhà khoa học thuộc viện
Khoa học Vật liệu chế tạo để ứng dụng vào điều trị ung thư bằng phương pháp gia
nhiệt (hyperthermotherapy). Hạt nano từ được làm từ Fe 3O4 và thường được bọc
bằng một số vật liệu như dextran, carboxydextran, tinh bột (starch), chitosan…để
làm tăng sự phân bố đồng đều trong chất lỏng từ và tăng tính tương hợp sinh học
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
1
tương phản hình ảnh của chúng.
Xuất phát từ những yêu cầu trên và để góp phần đưa hạt nano từ được sản
xuất tại Việt Nam vào ứng dụng trong điều trị ung thư, chúng tôi nhận để tài
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
2
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
“Nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano từ trong chẩn đoán và điều trị khối u thực
nghiệm” làm đề tài luận văn cao học nhằm thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
1. Xác định độc tính của chất lỏng từ lên một số dòng tế bào ung thư và
Fibroblast.
2. Khảo sát khả năng tạo tương phản ảnh của hạt nano từ bằng phương pháp
chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI).
3. Thử liệu pháp nhiệt trị trên mô hình ung thư thực nghiệm.
Đề tài được thực hiện tại Bộ môn Tế bào – Mô – Phôi và Lý sinh, khoa Sinh
học, bộ môn Thổ nhưỡng và Môi trường Đất, khoa Môi trường, trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng Nano Y sinh, viện Khoa học
Vật liệu, trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc Gia và Bệnh viện Quân
đội Trung ương 108. Kết quả của đề tài là cơ sở để đẩy mạnh thêm những nghiên
cứu nhằm ứng dụng hạt nano từ và phương pháp chụp cộng hưởng từ hạt nhân vào
việc chẩn đoán và điều trị ung thư trên bệnh nhân.
Phạm Thị Hà Giang
liệu nghịch từ.
• Vật liệu có c xấp xỉ 1 (chênh lệch khoảng 10 -6) được gọi là vật liệu
thuận từ.
• Vật liệu có c với giá trị rất lớn so với 0 có thể là vật liệu sắt từ [14].
Ngoài độ cảm từ, nhiều thông số khác cũng rất quan trọng trong việc xác
định tính chất của vật liệu, ví dụ như: từ độ bão hoà (từ độ đạt cực đại tại từ trường
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
4
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
lớn), từ dư (từ độ còn dư sau khi ngừng tác động của từ trường ngoài), lực kháng từ
(từ trường ngoài cần thiết để một hệ, sau khi đạt trạng thái bão hoà từ, bị khử từ)…
Nếu kích thước của hạt giảm đến một giá trị nào đó (thông thường từ vài đến vài
chục nanomet, phụ thuộc vào từng vật liệu cụ thể), tính sắt từ biến mất, chuyển
động nhiệt sẽ thắng thế và làm cho vật liệu trở thành vật liệu siêu thuận từ. Đối với
vật liệu siêu thuận từ, từ dư và lực kháng từ bằng không. Điều đó có nghĩa là, khi
ngừng tác động của từ trường ngoài, vật liệu sẽ không còn từ tính nữa. Đây là một
đặc điểm rất quan trọng khi dùng vật liệu này cho các ứng dụng y sinh học [2, 24].
1.1.2. Hạt nano từ
Hạt nano từ là vật liệu nano không chiều tức là cả ba chiều của nó đều có
kích thước nano (
dùng trong sinh học, thì dung môi thường hướng tới pH = 7.0 – 7.2.
1.1.3. Ứng dụng của hạt nano từ trong lĩnh vực sinh y học
Ý tưởng sử dụng các hạt nhỏ trong chẩn đoán và chữa bệnh đã được bắt đầu
từ cách đây gần 60 năm, sau phát hiện của các nhà khoa học công ty Hoá chất Dow
(Dow Chemical Company) về các hạt polymer có kích thước rất đồng đều. Cho đến
nay, việc nghiên cứu và phát triển ý tưởng này đã mang lại những ứng dụng đột phá
trong lĩnh vực y – sinh học. Nguyên lý chung của các ứng dụng là lợi dụng một số
tính chất ưu việt của các hạt nhỏ để điều khiển chúng thâm nhập vào cơ thể hoặc
tương tác với các thực thể sinh vật như tế bào (10 ÷ 100 μm), vi-rút (20 ÷ 450 nm),
protein (5 ÷ 50 nm), gen (rộng 2 nm và dài 10 ÷ 100 nm) mà không bị phát hiện.
Thông thường để làm việc này, người ta phải lựa chọn hạt có kích thước phù hợp và
biến đổi bề mặt của chúng bằng cách gắn thêm các phân tử sinh học như kháng thể
đơn dòng, lectin, peptide hoặc hoocmôn. Với lớp vỏ bọc như vậy, không những các
hạt đã có khả năng tương hợp sinh học tốt và tồn tại lâu trong cơ thể mà chúng còn
có thể được gắn một cách có điều khiển vào các vùng mô mong muốn. Đặc biệt
trong trường hợp của các hạt nano từ, khả năng tương tác của chúng đối với từ
trường là lợi thế lớn nhất và quan trọng trong một loạt các ứng dụng y – sinh học
như:
- Tách, phân lập các tế bào và các thực thể sinh học ra khỏi một môi trường
hỗn hợp.
- Dẫn truyền thuốc, gen và các nuclide phóng xạ tới mô đích.
- Liệu pháp nhiệt – từ trong điều trị ung thư.
- Tăng độ tương phản ảnh trong phương pháp chẩn đoán bằng chụp cộng
hưởng từ.
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
6
Cao học 17 (2008-2010)
7
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
Hình 1. Minh hoạ nguyên lý sử dụng hạt nano từ và từ trường ngoài để tách các thực
thể sinh vật [29]
Hình 1 minh hoạ đơn giản về nguyên lý tách các thực thể sinh vật ra khỏi
một hỗn hợp sử dụng từ trường. Các thực thể sinh vật có từ tính (được gắn với hạt
nano từ màu đen) được tách ra khỏi dung dịch mang khi chúng chảy qua vùng tác
dụng của một gradient từ trường.
Cho đến nay tách chiết bằng từ trường đã được sử dụng thành công trong các
lĩnh vực nghiên cứu y học và sinh học. Phương pháp này cho hiệu quả cao khi dùng
để tách các tế bào của một số loại ung thư ra khỏi máu. Ngoài ra người ta đã tăng
cường khả năng phát hiện vi rút sốt rét kí sinh trong các mẫu máu bằng việc tối ưu
hoá tính chất từ của các vi rút kí sinh hoặc bằng cách đánh dấu các tế bào hồng cầu
với các hạt từ được gắn kháng nguyên. Bên cạnh đó còn có các ứng dụng khác như
khuếch đại và phát hiện DNA, đếm tế bào (đo mômen từ của các hạt từ) và một số
cảm biến xác định vị trí cũng như định vị các tế bào chức năng trong cơ thể [29].
1.1.3.2. Dẫn truyền thuốc, gen và các nuclide phóng xạ tới mô đích
Khoảng 20 năm trở lại đây, đã có nhiều nghiên cứu về cách vận chuyển và
dẫn truyền thuốc nhằm mục đích làm tăng nồng độ thuốc chống ung thư trong khối
u mà không bị phân tán ở những vùng mô tế bào khoẻ mạnh. Bằng cách này không
Phạm Thị Hà Giang
ta còn sử dụng lớp bọc vô cơ như silic ôxít. Ngoài tác dụng bảo vệ các hạt khỏi ảnh
hưởng của môi trường xung quanh, đặc điểm quan trọng nhất của lớp bọc là làm
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
9
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
cầu nối để chức năng hoá các hạt khi gắn vào chúng các nhóm carboxyl, biotin,
avidin, carbodi-imide hoặc một số phân tử khác [29].
Hình 3. Cấu trúc của một hệ nano – thuốc
Có thể coi phương pháp sử dụng hạt từ để dẫn truyền thuốc là một dạng hoá
trị cục bộ. Cho đến nay có khoảng gần 50 loại hoá chất đang được sử dụng thường
xuyên trong điều trị ung thư [4]. Các thuốc này tác động đến hệ gen của tế bào, can
thiệp vào quá trình trao đổi chất hoặc phá huỷ cấu trúc và ngăn cản sự phát triển của
tế bào. Chúng được phân loại thành nhiều nhóm dựa theo cơ chế hoạt động như:
- Các hợp chất alkyl hoá (cyclophosphamide, busulfan, mitoxantrone) có tác
dụng với ADN. Phản ứng với thuốc alkyl hoá làm quá trình nhân đôi của ADN
trong giai đoạn phân chia tế bào bị sai hỏng và do vậy giết chết tế bào.
- Các chất chống chuyển hoá như 5-fluorouracil, methotrexate kiềm chế pha
S trong chu trình tế bào bằng cách ngăn lại quá trình tiền tổng hợp axít nucleic.
- Các chất ngăn chặn sự phân bào (vincrictin, vinblastin) kiềm chế quá trình
phân chia tế bào.
- Antineoplastic antibiotics (adriamycin, bleomycin) ngăn chặn quá trình
Kuznetsov sử dụng các hạt đơn phân tán có lõi sắt hoặc sắt oxít, được gắn với một
cấu trúc cácbon hoặc được bọc cácbon phía ngoài. Kích thước hạt từ 0,01 đến 1
micromet và hạt được kết hợp với dung dịch thuốc kháng ung thư. Sau khi thử
nghiệm điều trị trên hơn 100 bệnh nhân với nhiều loại ung thư khác nhau, kết quả
cho thấy hầu hết các trường hợp đều khỏi hoặc tình trạng bệnh thoái lui đáng kể
[23]. Cũng vào năm này, Allen công bố chế tạo được các hạt tải từ tính có khả năng
dẫn truyền thuốc (magnetically targetable carrier, MTC TM) với thành phần là hợp
kim của sắt và than hoạt tính (kích thước 0,5 ÷ 2 μm) được gắn với paclitaxel, một
tác nhân tiềm năng trong chữa trị ung thư đầu và cổ [6]. Các hạt tải này có thể giải
phóng 38% lượng thuốc hấp phụ được vào huyết thanh trong vòng 24 h. Chúng có
thể bị giữ bởi từ trường trong mạch máu nhỏ (tốc độ chảy 0.2 cm/s) và trong động
mạch chính (tốc độ chảy 28 cm/s). Một số kết quả thử nghiệm điều trị trên cơ thể
người cho đến nay cũng rất khả quan [4]. Từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 6 năm
2002, sử dụng một từ trường được chiếu vào vùng khối u, bốn bệnh nhân đã được
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
11
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
tiêm vào động mạch một dung dịch gồm các hạt sắt được bọc cácbon, có gắn các
phân tử dauxorubicine. Một trong số đó có kích thước khối u thu nhỏ đáng kể, trong
thời gian quan sát từ 5 đến 17 tháng. Nhóm của Alexiou đã thực hiện một số nghiên
cứu tiền điều trị, trong đó các hạt nano từ (đường kính 100nm) gắn các
mitoxantrone (của Wyeth-Pharma, Đức) được tiêm vào mạch máu của thỏ mang
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
mạch hoặc động mạch, do vậy các tham số động học như tốc độ của dòng máu,
nồng độ chất lỏng từ, khả năng hấp thụ thuốc của tế bào ở vùng mô ung thư và thời
gian lưu thông của hạt cũng rất quan trọng. Bên cạnh đó cũng cần phải xét đến độ
sâu của vùng cần thuốc (khoảng cách tới nguồn phát từ trường), độ mạnh yếu của
liên kết giữa thuốc và hạt từ cùng với thể tích của khối u [25].
1.1.3.3. Tăng độ tương phản ảnh trong phương pháp chẩn đoán bằng chụp cộng
hưởng từ.
Các hạt nano siêu thuận từ được tạo thành từ oxit sắt thường được sử dụng
như tác nhân làm tăng độ tương phản ảnh trong chụp cộng hưởng từ. Sự có mặt của
chúng làm nhiễu loạn từ trường địa phương nên làm thay đổi giá trị từ trường đi rất
nhiều. Dựa trên đặc tính của từng mô trong cơ thể mà độ hấp thụ hạt nano mạnh hay
yếu. Ví dụ, hạt nano có kích thước 30nm được bọc dextran có thể nhanh chóng đi
vào gan và lách trong khi ở các cơ quan khác thì chậm hơn. Như vậy, mật độ hạt
nano ở các cơ quan là khác nhau dẫn đến sự nhiễu loạn từ trường địa phương cũng
khác nhau làm tăng độ tương phản trong ảnh cộng hưởng từ [14].
1.1.3.4. Liệu pháp nhiệt – từ trong điều trị ung thư
Phương pháp nhiệt-từ trị sử dụng trong chữa trị ung thư được Gilchrist và
các cộng sự đề xuất lần đầu tiên cách đây khoảng 50 năm [8]. Ý tưởng của ông là
tập trung các hạt từ trong vùng khối u và sau đó đốt nóng chúng dưới tác dụng của
một từ trường xoay chiều, do vậy chỉ những vùng mô tế bào nào có chứa hạt từ mới
chịu tác dụng của nhiệt (hình 4).
Hình 4. Minh hoạ về quá trình đốt nhiệt sử dụng hạt nano từ
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
trong lipiodol (một hỗn hợp của iốt với dầu thực vật). Trong từ trường xoay chiều
(53 kHz; 30 kA/m), nhiệt độ đốt các tế bào đã tăng lên đến 48 oC trong 5 phút. Do
lipiodol gây ra một số tác dụng phụ với tế bào và mô nên sau đó các hạt Fe 3O4 này
được bọc trong một hạt polymer nền (SIR-Sphere của công ty Sirtex Medical Ltd –
Úc, đường kính hạt nền vào khoảng 32 μm) và phân tán trong dung dịch Tween 1%.
Các hạt nền này là an toàn và tồn tại lâu, gây ảnh hưởng không đáng kể cũng như
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
14
Luận văn Thạc sỹ Khoa học
Sinh học thực nghiệm
không mất tính sắt từ sau 28 ngày được tiêm vào cơ thể cũng như làm thay đổi mức
ion serium hoặc ferritin, cho thấy các hạt không mất trạng thái sắt từ.
- Nhiệt trị tiêm trực tiếp (DIH – direct injection hyperthermia): đây là
phương pháp tiêm trực tiếp dung dịch của các hạt sắt từ có kích thước tương đối lớn
vào vùng khối u và sau đó sử dụng từ trường xoay chiều để đốt nóng chúng, vì vậy
nhiệt tạo ra từ các hạt bên ngoài tế bào. Ngược lại với nhiệt trị động mạch là nhiệt
toả ra từ các hạt sắt từ trong mạch máu.
- Nhiệt trị nội bào (IH – intracellular hyperthermia): đây là phương pháp
nhiệt-từ trị sử dụng các hạt từ phức tạp hơn. Các hạt có thể được bọc với các kháng
thể đặc hiệu và được đưa đến khối u qua đường động mạch hoặc tiêm trực tiếp. Một
số nghiên cứu cho thấy các hạt từ này sau đó có thể chui vào tế bào ung thư nên
người ta thường gọi đây là phương pháp nhiệt trị nội bào. Ngoài ra các hạt từ vẫn
được tập trung ở bên ngoài tế bào và đóng góp vào quá trình đốt nóng khối u [27].
bởi các tế bào trong khối u ung thư. Từ kết quả này, Gordon đã đề xuất khái niệm
về phương pháp “nhiệt trị nội tế bào” với nguyên lý đốt nóng từng tế bào ung thư
đơn lẻ bằng việc đưa các hạt từ vào bên trong chúng, sau đó tác dụng từ trường
xoay chiều [11].
Sau đó vào những năm 1986-1989, Lerrch và Pizzarello đã cố gắng lặp lại và
tìm hiểu kĩ hơn thí nghiệm của Gordon trong các điều kiện thí nghiệm tương tự,
nhưng kết quả thu được lại rất khác biệt [22]. Khả năng bắt các hạt magnetite của
các tế bào trong gan, lách và phổi lớn hơn rất nhiều so với các tế bào trong khối u.
Các nghiên cứu cho thấy thể tích khối u đã phát triển gấp đôi theo thời gian. 60
ngày sau thí nghiệm, chỉ có một số khối u không thay đổi, tuỳ theo số lần chiếu từ
trường xoay chiều. Các phép đo nhiệt độ ngay sau mỗi lần chữa trị cũng cho thấy
nhiệt độ trong vùng khối u không tăng lên, mặc dù cường độ từ trường là rất cao (40
kA/m).
Một số thí nghiệm khác cũng cho thấy những kết quả khả quan của liệu pháp
nhiệt – từ trị chữa ung thư trên động vật. Năm 1983, Luderer và các cộng sự đã điều
trị các khối u sarcoma Meth-A trên chuột bằng các hạt sắt gốm - thuỷ tinh kích
thước 1,5 µm trong từ trường 10 kHz và 40 kA/m. 50% động vật đã hoàn toàn
không còn khối u sau 5 ngày chữa trị [22]. Sau đó vào năm 1997, nhóm của Jordan
tiến hành thí nghiệm trên chuột được cấy khối u vú C3H và đã công bố kết quả với
tỉ lệ 44 % sống sót và có khối u nhỏ đi hoặc biến mất sau 2 tháng kể từ khi điều trị
[21]. Kết quả tốt nhất được công bố bởi Yanase và các cộng sự vào năm 1998, cho
thấy 87,5 % số chuột với các khối u không tái phát triển trong vòng ba tháng [35]
(hình 4). Sử dụng các magnetoliposome (một loại hạt từ bao gồm lõi là hạt Fe 3O4
được bọc bởi một lớp mỡ bên ngoài) được gắn với các phân tử kháng thể, Le và các
cộng sự đã công bố thành công trong việc khống chế các khối u [16]. Và cho đến
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
16
Thời gian điều trị (ngày)
Hình 5. Quá trình phát triển khổi u trên cơ thể chuột trong thí nghiệm của Yanase và các
cộng sự [35]
Mỗi đường cong tương ứng với một chuột thí nghiệm theo thời gian áp dụng điều trị trong
từ trường xoay chiều. Sự tái phát triển của khối u không còn xuất hiện sau 3 tháng [35].
Kết quả nghiên cứu trong nuôi cấy tế bào in vitro
Nhiều nghiên cứu về nhiệt - từ trị cũng được thực hiện với các thí nghiệm
trên các dòng tế bào ung thư nuôi cấy in vitro. Mục đích chính của các thí nghiệm
này là thử nghiệm tính tương hợp sinh học của các hạt Fe 3O4 đã được bọc các
polymer bề mặt và khảo sát tương tác của các hạt từ với các loại tế bào khác nhau
Phạm Thị Hà Giang
Cao học 17 (2008-2010)
17